|
Freud
và Phật giáo- Sự tương đồng đến kinh ngạc
Cho đến hôm nay, có thể nói nhân loại đã có 3 lần nhận ra
mình bị “hớ”, đến mức nhiều chuẩn mực bị đảo lộn, thậm chí
nhiều niềm tin bị sụp đổ sau 3 cuộc “cách mạng” ấy:
Đầu tiên
là thuyết nhật tâm, khi cả nhân loại đều tin một cách vững
chắc rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ, trên đó, cả vũ
trụ quay quanh mình thì Copecnic bảo không phải vậy, mặt
trời mới là trung tâm.
Lần thứ hai là Darwin với học thuyết tiến hóa;
khi ai cũng tin rằng con người ta là một sản phẩm đặc
biệt của tự nhiên, của Thượng Đế, không có một mối quan hệ
nào với động vật cấp thấp thì Darwin bảo không phải vậy, con
người là từ khỉ mà thành, chính xác hơn là một nhánh nào đó
của động vật linh trưởng mà thành.
Và lần thứ ba là Freud với
Phân tâm học;
khi ai cũng chắc như đinh đóng cột rằng ý thức của con người
ta (trong đó có trí tuệ, nhận thức và sự hiểu biết) là
thiêng liêng và mạnh mẽ, nó quyết định mọi hành vi của con
người ta, là điểm khác biệt giữa con người và động vật khác;
thế nhưng Freud, với sự phân tích tâm lý của con người ta
một cách xuất sắc và trung thực của mình đã bảo rằng: Không
phải vậy! Vô thức và bản năng, những thứ rất gần, nếu không
nói là giống hệt với động vật, mới là những điều quyết định
rất nhiều đến hành vi của con người! Có thể ví von để dễ
hình dung, ý thức như cái con rối mà vô thức và bản năng là
kẻ đứng sau giật dây, điều khiển mọi chuyện. Điều này thì
“khó chịu” chẳng khác gì khi nghe Darwin bảo con người ta
vốn là từ con khỉ mà thành. Nó khó chịu đến mức con người
thường ngụy tạo nên những cái vỏ, cái áo mỹ miều để khoác
lên cái động lực rất bản năng chẳng khác với con khỉ, con
chó là mấy. Mặc cảm Edip, cái mặc cảm của kẻ giết cha và lấy
mẹ của con người thời bầy đàn kéo dài hàng triệu năm (cần
nhớ rằng con người văn minh mới chỉ có chừng 20.000, nếu
không nói là chỉ 10.000 năm trở lại đây thôi) đến giờ vẫn
còn ám ảnh đâu đó trong vô thức con người và tạo nên những
hành vi, căn bệnh tâm thần mà chỉ có nhờ Freud với sự Phân
tâm mới có thể chữa hết được. Rồi bản năng tính dục, cái
chuyện vặt mà ai cũng xấu hổ khi nói đến ấy thì Freud lại
bảo rằng chính nó đã khiến cái thế giới này hình thành, nó
khiến cái xã hội con người này cứ như sôi lên sùng sục suốt
mấy ngàn năm qua; bao cuộc chiến tranh, bao kẻ tội đồ, bao
thánh nhân, bao triết gia, bao nhà thơ, bao của cải... là
cũng từ cái nguồn năng lượng vĩnh viễn không bao giờ chịu
vơi cạn ấy mà hình thành. Đè nén nó là như lấy giấy mà gói
lửa. Không tin ư? Bạn hãy cứ hỏi con mắt bạn khắc biết, tại
sao cái bóng hồng giữa đám đông kia lại hút ánh nhìn của bạn
đến vậy?
Rồi bản năng
sống, bản năng sinh tồn, bản năng chết, bản năng sợ hãi, bản
năng giận dữ nữa, ý thức chẳng bao giờ điều khiển được nó.
Tại sao nói trước đám đông tim bạn cứ đập liên hồi vậy? Tại
sao con người ta lại sợ rắn, đỉa, chuột, gián? Tại sao đèn
đỏ ở ngã tư lại làm ta cồn cào bất an? Và tại sao con người
ta lại không thể kìm chế được sự giận dữ, nhiều khi qua rồi
mới thấy là vô cớ và kỳ cục? Vâng, đời sống tinh thần của
con người, mặc dù đã được Freud phân tích khá kỹ từ gần 100
năm trước nhưng cho đến nay vẫn còn ẩn chứa rất nhiều bí ẩn,
không phải là không nhìn thấy mà giống như là con người đã
không chịu nhìn nhận, mặc dù ai cũng có thể nhìn thấy.
Và thật kỳ lạ,
những điều Freud phân tích và khám phá ở trên gần như trùng
khớp với những khái niệm cơ bản nhất của Phật giáo, chỉ có
điều tất cả đều được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khác.
Này nhé, bản
năng thì tăm tối và hình thành từ thuở con người còn là
những động vật bầy đàn hú hét trong rừng sâu. Nhà Phật cũng
có khái niệm Vô minh hình thành từ Vô thủy,
thường được gọi chung là Vô thủy Vô minh. Thật kỳ lạ,
tại sao nhà Phật lại có cái khái niệm và sự diễn đạt chính
xác đến vậy về cái tối tăm trong đời sống tinh thần của mình
hình thành từ thời con người chưa là NGƯỜI, những
điều mà khoa học đã tốn rất nhiều công sức mới dần nhận ra
cái phần tâm lý bí ẩn mà Freud gọi là vô thức, bản năng. Mà
Freud có được những suy nghĩ ấy chính lại nhờ vào sự quyết
liệt và dũng khí của Darwin. Từ hơn 2000 năm trước Phật
Thích Ca và các vị tổ sau này nhìn thấy điều gì trong tâm
hồn con người rồi gọi tên nó là “cái hầm sâu vô thủy vô
minh”? “Cái hầm sâu này” dường như Freud cũng chỉ mới
bắt đầu cảm thấy chứ chưa thực sự hiểu cặn kẽ về nó, thậm
chí đã tìm ra phương pháp để “phá tan” cái hầm sâu vô thủy
vô minh ấy như Phật và các thiền sư nhà Phật đã làm để có
được một cái nụ cười tự nhiên, thanh thản, an lạc như thấm
đẫm đến từng tế bào như vậy.
Không cần đến
cái mục đích cuối cùng là sự giải thoát, giác ngộ, và cũng
khó mà yêu cầu Freud “đạt” đến chỗ mục đích cuối cùng như
nhà Phật hay nêu; chỉ với những khái niệm cơ bản, những mục
đích đạt tới, những cách diễn đạt, những phương pháp sử dụng
để khảo sát đời sống tinh thần con người... chúng ta đã thấy
Freud và Phật giáo nhiều chỗ tương đồng đến mức kinh ngạc.
Này nhé, nhà
Phật không ai không biết đến các khái niệm vạn pháp do
tâm tạo và tu là chuyển nghiệp.
Freud cũng nói đến rất nhiều khái niệm số phận của mỗi người
là do chính người đó, qua sự điều khiển của vô thức mà hình
thành nên số phận của anh ta. Có người sống với người vợ nào
rồi cũng ly dị, chơi với bạn nào rồi cũng bị bạn phản. Freud
đã phân tích khá kỹ rằng chính vô thức đã thôi thúc ở bên
trong anh ta để cuộc ly dị xảy ra, cuộc phản bội của bạn
hình thành thì anh ta mới thỏa mãn mà không hề tự biết điều
đó. Thì ra ta đi đâu cũng gặp người khó tính, người ích kỷ,
người thủ đoạn là do chính bởi ta tạo nên họ chứ không phải
họ có sẵn đó và ta chỉ gặp. Những khái niệm này là vô cùng
gần với Phật giáo, số phận của ta là do chính nhân duyên
nghiệp chướng ta tạo nên mà thành. Nhà Phật hay kể một câu
chuyện rất hay để minh hoạ là: Có một cô con dâu không chịu
nổi bà mẹ chồng khó tính, mới quyết định xin thầy cho loại
thuốc nào đó cho bà chết đi. Vị thầy bảo, để cô không phải
bị truy tố, ông sẽ cho một loại thuốc uống hằng ngày mà bà
mẹ chồng sẽ chết sau một năm không để lại một dấu vết nào,
chỉ với một điều kiện, đừng làm cho bà giận, bà chỉ cần giận
một lần thôi là thuốc sẽ không hiệu quả. Cô con dâu từ đó
cho bà uống thuốc và cố không làm bà giận, mà khi con người
ta không giận thì chỉ có vui trở lên. Sau một năm cô con dâu
đến gặp thầy và khóc xin sao cho mẹ chồng đừng chết nữa, vì
cô đã rất yêu mến mẹ chồng và bà mẹ chồng cũng rất yêu mến
cô. Vị thầy cười bảo, thuốc đó là củ sâm, chỉ có tốt chứ
không độc, và báo cho cô biết mọi chuyện đã thay đổi kể từ
khi chính cô thay đổi cách sống, thay đổi thái độ của cô với
bà mẹ chồng.
Tu là chuyển
nghiệp, tức sửa chữa mình thì sẽ thay đổi số phận. Đi đến
cùng của khái niệm này ta sẽ thấy quả thật là “Vạn pháp do
tâm tạo”. Thế giới này xét cho cùng là thế giới ở trong ta,
thế giới ta nhận thức. Thế giới được ta quan sát là quan
trọng hơn rất nhiều cái thế giới thực mà con người khó có
thể nắm bắt. Cái tâm ta đối diện với mặt trăng quan trọng
hơn rất nhiều bản thân cái mặt trăng khô khốc bụi đất, hoặc
mặt trăng có chị Hằng chú Cuội ở trên. Thượng Đế có thật hay
không không quan trọng bằng thái độ của chúng ta khi đối
diện với một Thượng Đế thật hoặc không có một Thượng Đế nào
cả.
Có nghĩa là,
với Phật giáo, thì cái tâm của mình là một thế giới cần được
khám phá hơn bất cứ điều gì khác. Các tầng mức giác ngộ, các
tầng thánh quả, chính là các tầng mức hiểu biết về cái tâm
của mình.
Và Freud cũng
vậy, cả sự nghiệp của ông là sự nghiệp khám phá những góc
khuất sâu kín, tối tăm thậm chí bỉ ổi, thối tha nhất mà
không ai dám thừa nhận trong tâm hồn con người. Kéo con
người đừng nhìn ra ngoài nữa mà hãy nhìn vào cái động lực,
trên đó từng mỗi hành vi hình thành là mục đích của cả Freud
và Phật giáo. Quán nhân duyên, biết mỗi sự việc xảy ra (quả)
là từ cái nguyên nhân (nhân) nào đưa đến là trí tuệ cao nhất
mà mỗi Phật tử đều mưu cầu.
Làm chủ sanh tử
há không phải là làm chủ bản năng đấy sao? Các tổ Thiền tông
cũng thường bảo, phá tan được cái hầm sâu vô thủy vô minh ấy
thì kiến tánh thành Phật! Có một điều cần chú ý là, nhà Phật
hay nói lìa tri kiến, sở tri chướng, tức những hiểu biết,
kiến thức, nhận thức luôn là những trở ngại trên con đường
đạt đến sự giác ngộ. Chỗ này thì Lão Tử và Đạo Đức Kinh lại
có một tương đồng khác nữa. Nếu hiểu bản năng chính là Vô
minh thì ta sẽ hiểu một tầng nghĩa khác của nó, đó chính là
sự hiểu biết không bao giờ, và sẽ không bao giờ, chế ngự
được bản năng. Chỉ có sự không biết, thiền định ở mức độ “vô
nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý” (không có mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý-Bát Nhã Tâm Kinh); hoặc “tâm như tường bích”
(tường đá) (Bồ Đề Đạt Ma); hoặc Vô Sở trụ (kinh
Kim Cang); tức ở cái chỗ mà tâm con người ta không đứng,
không dựa trên bất cứ điều gì cả, tức chỗ không biết cái gì
cả, không ý thức cái gì cả, thì hầm sâu vô minh sẽ bị phá,
đó là lúc mà Bản Năng sẽ không còn “quấy rầy” con người nữa,
con người thực sự mất đi phần CON để trở thành một
NGƯỜI đúng nghĩa.
Đó là nói phần
khác nhau trong giải quyết vấn đề, giữa Freud và Phật giáo,
sau khi nhìn thấy sự tác động mạnh mẽ của bản năng đến đời
sống tinh thần của con người. Freud thì lôi nó ra đặt nó
trên mặt bàn của ý thức, và ông đã chữa được nhiều bệnh tâm
thần cho con người. Phật giáo thì không vậy, thật ra lôi tất
cả ra dưới ánh sáng của ý thức cũng là đường lối của nhiều
tông phái Phật giáo, tuy nhiên, cái mục đích cuối cùng của
Phật giáo thì phải phá tan cái hầm sâu “Vô thủy vô minh” ấy.
Làm sao phá, đó là một chuyện vô cùng lớn và không thể bàn
trong một bài báo. Ở đây, chỉ với những cái nhìn ban đầu,
chỉ với những bước đi đầu tiên nhằm tìm thấy những góc khuất
trong đời sống tinh thần con người chúng ta đã thấy với công
cụ “Phân tâm học” do Freud lập nên, có lẽ sẽ là điều kiện
tốt nhất để mỗi Phật tử, và để mỗi người có thể nhận ra
những động cơ sâu kín nhất trong mình, vẫn thường thôi thúc
mình hành động thế này chứ không phải thế khác, tạo nên
“quả” này chứ không phải “quả” khác. Để rồi từ đó hình thành
nên một con người thực sự thông tuệ, không còn bị những bản
năng tăm tối hoặc vô thức vớ vẩn nào đó điều khiển nữa. Đó
há không phải là mục đích cao nhất mà nhân loại vẫn mưu cầu
từ hàng chục ngàn năm qua đấy sao?
Hồ Trung Tú
----o0o---
|