Mắt Thương Nhìn Cuộc Ðời

 

 

 

 

 

 

 

 

            Kính thưa qúi độc giả,

 

Qua chủ đề trên, chúng ta nhận xét thấy có 3 từ ngữ: đó là danh từ ‘mắt,’ động từ ‘nhìn,’ và túc từ ‘cuộc đời,’ nhưng danh từ "Mắt" và động từ "Nhìn" là quan trọng nhất.  Có thể nói, hai từ ngữ này rất quen thuộc gần gũi với chúng ta vì chúng ta sử dụng nó hằng ngày, hằng giờ, hằng phút nhưng thực ra chúng ta không hề và không bao giờ quan tâm để ý tới, có phải không?

 

            Ngày xưa khi còn bé tí teo, Minh Tâm tôi được Mẹ tôi bồng ẵm và ru lên những điệu ru hời như:

 

                        "Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

                        Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều."

 

                        Hay là:

 

"Ai ơi, nhìn nắng nhìn mây,

                        Nhìn dùm tôi với những mùa[1] trăng lên,

                        Trăng lên hoa nở dưới thềm,

Gió ru cành trúc chở niềm quê hương."

 

            Ngày đó tôi không hiểu gì nhiều, chỉ hồn nhiên nằm êm trong lòng mẹ và ngủ say sưa qua những lời ru quê hương của mẹ, nhưng sau này, khi xa quê sang Ấn Ðộ du học, có một chiều mưa thật buồn, buồn không tưởng được, buồn lắm đến độ khóc thành tiếng ở xứ Ấn, tôi bỗng nhiên nhớ lại câu ca dao ngày đó của Mẹ tôi và tôi trực hiểu thật sâu xa ý nghĩa của câu ca dao đó. 

 

Cái "nhìn" về quê cha đất tổ đó của Mẹ tôi hay của tất cả những người sống tha hương không phải cái nhìn của con mắt nhục nhãn này, cái con mắt thịt này mà là cái nhìn của con tim, một cái nhìn chuyên chở những tâm sự đầy ắp nhớ nhung khắc khoải đau thương của những người con sống xa quê Mẹ.

 

            Tôi lại nhớ đến khi tôi đến tuổi dậy thì, cái tuổi nhiều mộng mơ ngớ ngẩn, tôi vẫn thường nghe người ta nói: ‘Ðôi mắt là cửa sổ linh hồn.’  Cái nhìn qua đôi mắt ở đây đến một đối tượng nào đó biểu lộ tình cảm của con người, tiếng nói của lòng người, có thể là tình cảm cha mẹ, tình cảm thầy trò huynh đệ, cũng có thể là tình cảm nam nữ khác phái để tạo ra những ảo tưởng như ‘dìm chết hồn em trong đáy mắt ai’ hay ‘ánh mắt em làm lòng anh chết lặng’ hoặc ‘mắt em là trùng dương dậy sóng,  là biển tình mênh mông" v.v.  và v.v.

 

            Ở đây chúng ta nhận thấy cái nhìn không đơn thuần chỉ là con mắt tiếp xúc với sự vật, một đối tượng cụ thể nào đó mà là cả một quá trình diễn tiến của tâm lý và vật lý giao tiếp nhau đưa đến nhận thức của tâm tạo thành những hệ lụy cuộc đời.

 

            Bản thân tôi cũng đã học được một vài điểm triết lý tư duy về cái Nhìn.

 

            Ngày xưa khi tôi còn trẻ, chưa đi tu và cũng chưa qua Mỹ, tôi không được hân hạnh có ai nhìn mình cả, vì thế tôi không có dịp để tư duy sâu sắc về cái nhìn, bây giờ với cái thân tướng "khổng lồ, khổ lòng" này, tôi được mọi người quan sát kỹ quá nhất là khi giao tiếp với cộng đồng người Việt nên tôi đã rút tỉa được một bài học hay hay.

 

            Tôi nhớ lại lần đầu tiên qua Canada, có một vị tăng sĩ đ㠑nhìn’ tôi một cách lạ lùng như thể tôi là một con quái vật từ hành tinh xa xôi nào đó như Mercury hay Venus lạc vào địa cầu này.  Vị tăng sĩ đó nhìn tôi từ đầu xuống đến chân rồi lại nhìn từ chân lên đến đầu.  Sau vài giây lúng túng buồn cười, tôi đã thản nhiên nói ngay trước khi vị đó mở lời:

 

            -"Dạ, 100 ký lô . . ."

            -"Ủa, sao cô biết là . . .??" vị đó ngơ ngác hỏi tôi.

            -"Qua cái nhìn của quí vị, tôi nói luôn cho quí vị khỏi mất thì giờ tìm câu hỏi!"

 

Rồi lại có người méo mó nghề nghiệp nhìn tôi như ông Ðông Y Sĩ làm việc ở phòng thuốc phước thiện tại chùa Phước Hải (quận 10, TPHCM) của Sư Bà tôi.   Ông ta nhìn tôi thật tội nghiệp như đang quan sát một người bệnh sắp chết vì bệnh tiểu đường, cao huyết áp, hay nhiều mỡ quá trong máu, v.v.  nhất là khi tôi báo cáo là chân bị phù, nhức mỏi hay đau đầu . . . thế là có bao nhiêu thuốc tốt, thuốc hay trong tủ thuốc, ông ta lôi ra cấp tốc để cân, đong, đếm và dặn đi dặn lại các Sư Chú em tôi sắc gấp cho tôi uống kẻo (ngáp ngáp) không kịp, nhưng cũng có nhiều người nhìn tôi một cách vô tư vui vẻ không hề quan tâm gì cả đến hình tướng bên ngoài của tôi như những người bạn sinh viên nước ngoài cùng học chung lớp.

 

            Như thế đó thưa qúi độc giả, qua vài cách nhìn của mọi người, tôi nhận xét thấy có cái nhìn gây thiện cảm, không ác ý, có cái nhìn khiến người lúng túng bất an, có cái nhìn xoi mói giễu cợt, và cũng có cái nhìn tràn đầy tình thương, từ hòa, an ủi, chia sẻ, khuyến khích . . .

 

            Từ những cái nhìn tầm thường, bình thường đó, tôi tìm hiểu sâu hơn về cái Nhìn qua con mắt Phật Gíao.

 

Cách đây hơn 25 thế kỷ, Thái tử Sĩ Ðạt Ta đã nhìn thấy gì khi dạo qua bốn cửa thành?  Thái tử đã nhìn thấy gì để đủ hùng khí cắt đứt sợi giây ái ân ràng buộc của thê nhi?

 

            Thái tử Sĩ Ðạt Ta đã nhìn thấy kiếp sống mong manh, phù du, tạm bợ của tất cả vạn loại chúng sinh với sự tàn khốc của cái Già, cái Bệnh, và cái Chết.  Thái tử đã nhìn thấy cảnh tương tàn sát hại lẫn nhau của chúng sinh khi con trùng là mồi cho con chim và con chim là mồi của người thợ săn.  Thái tử đã nhìn thấy những hệ lụy phiền não của ái dục, của lòng tham vị kỷ, của bản ngã thấp hèn khi bị Vua Cha ép sống trong bốn cung điện nguy nga với sắc đẹp của người vợ và các cung nữ, và chính cái Nhìn đó đã là động cơ thúc đẩy Thái tử rời bỏ ngai vàng, đi tìm cuộc sống cô liêu tỉnh thức.

           

Và dưới cội Bồ Ðề, sau 49 ngày đêm thiền định, Bồ Tát Sĩ Ðạt Ta cũng đã nhìn thấy gì?

 

Bồ Tát đã nhìn thấy rõ định lý Vô Thường qua dòng sông Ni Liên Thiền trôi chảy miên man không ngừng nghỉ, sự biến thiên của dòng thời gian sinh diệt qua ánh sao mai chớp lóe trên bầu trời; Bồ Tát đã nhìn thấy rõ Lý Duyên Khởi, Vô Ngã qua chính sắc thân ngũ uẩn của Ngài, và trên từng cánh hoa sen tươi thắm, Bồ Tát đã quán chiếu từng căn tánh khác nhau của mỗi chúng sanh, của mọi chúng sanh.

 

Ngài đã thấy rõ nguyên nhân gây nên khổ đau cho con người là do lòng tham ái, chấp trước có một cái tự ngã thật có, có cái của ta thật có, vì thế con người phải chịu trầm luân sanh tử, lộn lạo tới lui trong sáu nẻo luân hồi cho đến khi nào chúng sinh "nhìn thấy" rõ các pháp vốn không thật có, các pháp do nương gá nhau mà thành:

           

            "Cái này có nên cái kia có

            Cái này sanh nên cái kia sanh

            Cái này không nên cái kia không

            Cái này diệt nên cái kia diệt."

 

Ðúng vậy, chỉ đến khi nào chúng sinh nhìn thấu suốt rõ được chân thực tướng của vạn pháp thì chúng sinh mới hòng thoát ra được sự trói buộc nguy hiểm của nó.

 

Trong Kinh Kim Cang có đoạn:

 

            "Nhất thiết hữu vi pháp

            Như mộng huyễn bào ảnh,

            Như lộ diệc như điện,

            Ưng tác như thị quán."

 

            "Tất cả pháp hữu vi,

            Như mộng gỉa, bọt bể,

            Như sương mai, ánh chớp,

            Hãy quán chiếu như vậy."

 

‘Quán chiếu’ ở đây có phải là cái Nhìn thiền định, cái nhìn tư duy sâu sắc của Phật giáo không?

 

Quí độc giả thân mến,

 

Quán chiếu cái gì?  Nhìn thấy cái gì?

 

Nhìn thấy rõ sự giả hợp, sự mong manh tạm bợ của tất cả các pháp hữu vi trên hiện tượng giới này như cái nhà, cái xe, cái bàn, ngay cả đến thân mạng con người, tình cảm con người đều mong manh, vô thường, có đó rồi mất đó, không bền chắc, không thật có như chúng ta lầm tưởng.

 

 Thân mạng này nói là của ta nhưng nếu hơi thở ra mà không vào thì chúng ta đã tiêu mất rồi còn gì; nói là của ta nhưng ta không hề và không thể làm chủ được ngay chính cái hơi thở mong manh đó; nói tình cảm này là của ta như người yêu lý tưởng một thời mới vừa nói thương yêu ta đó, có thể chết vì ta đó ngày hôm nay nhưng chỉ đến phút giây kế tiếp hay ngày mai thôi họ đã gian dối, đã lợi dụng, đã thay đổi mất rồi.

 

 Cái nhà, cái xe, tài sản này là của ta đó nhưng nếu có một ngọn lửa hay một cơn giông tố nào thiêu rụi xô xập xuống thì cũng chẳng còn gì cả như cơn sóng thần Tsunami khủng khiếp vừa qua hoành hành chỉ trong một nháy mắt thôi, tất cả những đền đài nguy nga, những tòa nhà tráng lệ, những thắng cảnh hùng vĩ đã tan hoang thành bình địa.

 

Chúng ta cứ tiếp tục tập quán chiếu sâu xa như vậy từ vật thể nhỏ đến vật thể lớn, từ hiện tượng giới này đến sự kiện khác mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây; lâu dần chúng ta sẽ an trú vào chánh niệm, đoạn trừ dần dần được tập khí tham ái chấp thủ của chúng ta - và từ từ qua cái Nhìn Chánh Kiến, Chánh Ðịnh, Chánh Tư Duy đó, chúng ta sẽ giải thoát được khổ đau do lòng tham ái, chấp thủ, và vững vàng trong nhà lửa sanh tử của cõi Sa Bà này.

 

Trong bài Sám Lục Căn, hàng Phật tử chúng ta vẫn thường tụng:

 

                        ‘Mắt ưa xem huyễn cãnh hàng ngày,

                        Tai thích tiếng mật đường dua nịnh,

                        Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh,

                        Lưỡi dệt thêu lắm chuyện gay go,

                        Thân ham dùng gấm vóc xa xô,

                        Ý mơ tưởng bao la vũ trụ . . .’

 

            Tại sao chúng ta phải sám hối lục căn?  Tại sao chúng ta phải thúc liễm lục căn?

 

            Có phải là vì chúng ta cứ rong ruỗi theo cảnh trần giả tạm, mải miết chạy theo chụp bắt những huyễn mộng cuộc đời, mắt thấy sắc đẹp là đắm đuối đam mê, mắt thấy danh lợi làlao đầu húc tới quên ngay tình nghĩa con người, để rồi như con thiêu thân ngu muội đáng thương chết rụi cánh trong ngọn lửa.

 

            Có phải là vì chúng ta không sớm thức tỉnh để nhìn thấy rõ là chúng ta:

 

                                    "Sanh trong mộng,

                             Gá thân mộng,

                             Dạo cảnh mộng,

 

để rồi chúng ta cần phải

 

                                    Tỉnh cơn mộng,

                             Biết là mộng."

 

            "Cái Biết đời là huyễn mộng" đó có phải là cái Nhìn thiền định, cái Nhìn tư duy của Phật Giáo không?

 

            Lại nữa trong bài kệ Khai Kinh:

 

"Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa."

 

"Pháp mầu nhiệm cao sâu khôn xiết,

Trăm nghìn muôn ức kiếp khó tìm,

Nay thấy được con xin vâng giữ,

Hiểu rõ ràng đúng nghĩa Như Lai."

 

Cái Thấy của người con Phật ở đây có phải là sự nhận thức sâu xa triệt để pha lòng tôn ngưỡng về những giáo pháp mà Ðức Từ Phụ Như Lai đã dạy bảo để giúp chúng ta giải thoát khổ đau không?

 

Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán công hạnh của ngài Quán Thế Âm thế nào và ý nghĩa từ ngữ "Quán" ở đây có phải là ‘Quán Chiếu, là Nhìn, Nhìn bằng Tâm, bằng trí tuệ của một bậc Bồ Tát’ phát nguyện cứu giúp chúng sanh không?

 

Chúng ta thử cùng nhau đọc lại:

 

            "Quán Âm diệu trí lực

            Hay cứu đời thoát khổ,

            Ðầy đủ sức thần thông,

            Rộng tu trí phương tiện,

            Các quốc độ mười phương,

            Khắp nơi đều hiện thân,

            Các loài trong đường ác,

            Ðịa ngục, quỉ, súc sinh,

            Sinh, già, ốm, chết, khổ,

            Dần dần đều diệt hết,

            Chân quán, thanh tịnh quán,

          Quảng đại trí huệ quán,

          Bi quán cùng từ quán,

Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng,

Hào quang tịnh không nhơ,

            Tuệ nhật phá tối tăm . . ."

 

Cái Nhìn chân thật, cái Nhìn thanh tịnh, cái Nhìn rộng lớn đầy trí huệ, cái Nhìn từ bi của ngài Quán Thế Âm có phải thể hiện hoàn toàn tinh thần "Khai Thị Ngộ Nhập Phật Tri Kiến" của chư Phật thị hiện ra nơi đời để cứu độ chúng sanh?  Có phải là biểu trưng đặc sắc tinh túy của các thiền sư thỏng tay vào đời nhưng không vấy nhiễm mùi tục lụy như câu: ". Chí tâm kiên tương, hỏa diệm hoá hồng liên?"(trong lửa đỏ hóa sen hồng)

 

Và cụ thể hóa hơn, đơn giản hơn, chúng ta có bao giờ ‘nhìn’ roõ, nhìn thật sâu xa, nhìn thật yêu thương những người thân thiết ruột thịt sống bên cạnh chúng ta chưa? 

 

Có bao giờ chúng ta nhìn rõ họ ít nhất một lần trong đời?

 

Có bao giờ Thầy nhìn trò để thấy những bất an, khắc khỏai của đệ tử mình? Có bao giờ đệ tử nhìn rõ nét mặt già nua và đôi vai oằn cong xuống của Sư Phụ mình để thấy chúng ta còn thiếu sót quá nhiều bổn phận và trách nhiệm?  Có bao giờ người chồng nhìn thật trìu mến gương mặt người vợ để thấy những lo toan, những buồn phiền hay hạnh phúc của người đi bên cạnh mình suốt cuộc đời?  Có bao giờ người vợ nhìn thật thông cảm người hôn phối của mình để thấy những mệt nhọc, cực khổ hằn trên nét mặt sau những giờ phút hay ngày tháng đấu tranh với cuộc sống? Có bao giờ cha mẹ hay con cái có những phút giây ngồi xuống cạnh nhau, nhìn nhau thật gần để tâm sự cho nhau nghe, để cha mẹ cảm thông hiểu rõ con mình hơn, và con cái cũng bày tỏ được lòng biết ơn, hiếu đạo của mình? Có bao giờ anh chị em, bạn bè, đồng đạo chúng ta nhìn nhau với trái tim ấm áp, hoan hỷ để đến cùng nhau, để nắm tay nhau chia sẻ pháp lạc hay tình thương?

 

Chúng ta có thể mỗi ngày gặp nhau, ăn cùng mâm, ở cùng nhà, vậy mà chúng ta chưa từng nhìn nhau thật sự bao giờ, để rồi một mai thật gần, thật vô thường người thân chúng ta mất đi, chúng ta chợt hốt hoảng bơ vơ, thì cũng đã xa nhau rồi, có muốn gặp lại dù chỉ một lần thôi cũng không còn để nhìn nhau nữa.

 

Tôi rất thích bài kệ của thầy Nhất Hạnh:

 

            "Thức dậy mỉm miệng cười,

          Hăm bốn giờ tinh khôi,

          An trú trong tỉnh thức,

          Mắt thương nhìn cuộc đời."

         

            Ðúng, mỗi một giờ phút, chúng ta hãy tập nở nụ cười an lạc, hạnh phúc với nhau, cho nhau, hãy tập sống trong chánh niệm tỉnh giác, và hãy nhìn người thân yêu của chúng ta và tất cả mọi loài với con mắt Tình Thương và Trí Tuệ để cảm nhận hạnh phúc chân tình đang hiện hữu, để tri ân sự đãi ngộ của đất trời, và để nụ mầm Giác Ngộ sớm khai hoa trên thân cây Bồ Ðề tươi thắm.

 

            Xin mượn câu "Mắt Thương Nhìn Cuộc Ðời" làm chủ đề bài viết của chúng tôi và rất mong sẽ nhận được những ánh mắt nhìn thân ái và những nụ cười đẹp nhất của qúi đạo hữu để kết thành những ngọn đèn Chánh Pháp soi sáng bóng tối tâm hồn những người còn lạc bước.

 

           


[1] Minh Tâm tôi thích danh từ ‘mùa trăng,’ không thích sử dụng ‘ngày trăng’ cho đúng vần thơ.