Sơ Tâm và Hậu Tâm 
 

       Trong tiến trình tu học, tâm tính của hành giả được thay đổi, biến chuyển và tinh tiến do kết quả của sự tu hành Phật pháp, sự tinh tấn này đã sửa chuyển được tâm của hành giả. Sự vô minh, phiền não và tật đố lần lần được gội sạch; hành giả ý thức được thế nào là vọng tưởng, là ngu si, là kiến chấp. Tâm của hành giả dần được thanh tịnh và đưa đến sự an lạc ở nội tại, hành giả lần lần thoát ly sự ràng buộc của vô minh, không còn điên đảo vọng tưởng như trước. Hành giả nhận định rõ sự biến chuyển vô thường của các pháp và tâm ngày càng được thanh tịnh.

      Duyên lự tâm lúc chưa tu thì có nhiều vọng tưởng, vô minh, chấp ngã, đầy các phiền não thường được coi là Sơ Tâm hay là vọng tâm. Còn duyên lự tâm sau khi tu tập và hành theo các hạnh của Bồ Tát thì được thanh tịnh, an lạc, đồng thời trí tuệ được sáng suốt, và được giải thoát khỏi mọi ràng buộc, khỏi luân hồi. Tâm ấy được coi là Hậu Tâm, là tâm đã đặng đạo Bồ Ðề, còn gọi là chân tâm.

      Theo các kinh Ðại Thừa, thì Phật Giáo không chấp nhận có hai tâm khác biệt nầy, tâm tánh xưa nay không khác dù là phàm phu hay là Phật, đó là ý nghĩa bình đẳng của tâm; Phật từng dạy: Vì trình độ chúng sanh có sai khác cho nên mới có các quả thánh hiền sai khác, chứ không phải Phật pháp (vô vi) có sai khác. 

      Tâm tuy sanh diệt và biến đổi không ngừng, nhưng tâm biến diệt ấy chỉ là những vọng niệm sanh diệt không ngừng; trong kinh Kim Cang Bát Nhã, Phật có dạy: Này Tu Bồ Ðề! Như Lai nói tâm, chẳng phải là tâm, chỉ giả gọi là tâm. Bởi vì sao? Vì tâm quá khứ tìm không được, tâm hiện tại tìm không được, tâm vị lai cũng tìm không được.
      Tâm giác ngộ, tâm giải thoát là Tâm Phật, Tâm ấy bao trùm cả ba thời: Quá khứ, hiên tại, vị lai; nếu ở trong một thời thì làm sao thấy được tâm! Do đó, vì muốn hiển bày, tùy theo trình độ mà tạm gán cho nó cái danh từ là Sơ Tâm (vọng tâm), Hậu Tâm (chân Tâm), tạm đặt cho nó cái tên gì đó để dễ nhận ra, để dể gọi mà thôi. Chính vì thế mà trong kinh Ðại Bát Nhã, Phẩm Thâm Áo, Ðức Thế Tôn đã giải nghi cho Ngài Tu Bồ Ðề về Sơ Tâm và Hậu Tâm như sau:
 
      Ngài Tu Bồ Ðề bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Ðại Bồ Tát (Bồ Tát bất thoái chuyển) dùng Sơ Tâm được vô thượng Bồ Ðề hay dùng Hậu Tâm được vô thượng Bồ Ðề?"  Bạch đức Thế Tôn! Sơ Tâm ấy chẳng đến Hậu Tâm, còn Hậu Tâm kia chẳng ở tại Sơ Tâm (vọng tâm chẳng ở nơi chân tâm, chân tâm chẳng ở nơi vọng tâm). Tâm và tâm sở chẳng cùng chung như vậy thì làm sao thiện căn lại tăng ích? (làm sao có sự tinh tấn?) Nếu thiện căn chẳng tăng thì sao lại được vô thượng Bồ Ðề? (chẳng tăng ích thì làm sao phàm phu trở thành bậc Thánh?).
      Phật dạy: Vì ông mà Phật sẽ dùng thí dụ. Người có trí được thí dụ thì dễ hiểu được Nghĩa. Này Tu Bồ Ðề! Như thắp đèn, là dùng ngọn lửa ban đầu để đốt cháy tim đèn hay dùng ngọn lửa lúc sau ?
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch đức Thế tôn! Chẳng phải ngọn lửa ban đầu cháy tim đèn cũng chẳng phải rời ngọn lửa ban đầu. Chẳng phải ngọn lửa lúc sau cháy tim đèn cũng chẳng rời ngọn lửa lúc sau.
      Phật hỏi: Này Tu Bồ Ðề! Tim đèn ấy có bị đốt cháy không?
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch Thế tôn! Tim đèn ấy quả thật bị đốt cháy.
      Phật dạy: Cũng vậy, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát chẳng dùng Sơ Tâm được vô thượng Bồ Ðề cũng chẳng rời Sơ Tâm được vô thượng Bồ Ðề, chẳng dùng Hậu Tâm cũng chẳng rời Hậu Tâm được vô thượng Bồ Ðề.
      Này Tu Bồ Ðề! Trong đây Ðại Bồ Tát từ Sơ Tâm thật hành Bát Nhã Ba La Mật đầy đủ thập địa mà được vô thượng Bồ Ðề......
       Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát học đủ thập địa đó rồi, chẳng phải Sơ Tâm cũng chẳng rời Sơ Tâm, chẳng phải Hậu Tâm cũng chẳng rời Hậu Tâm được vô thượng Bồ Ðề.
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch Thế Tôn! Pháp nhơn duyên ấy rất sâu: Chẳng phải Sơ Tâm cũng chẳng rời Sơ Tâm, chẳng phải Hậu Tâm cũng chẳng rời Hậu Tâm được vô thượng Bồ Ðề, mà Ðại Bồ Tát đặng đạo vô thượng Bồ Ðề.
      Phật hỏi: Này Tu Bồ Ðề! Nếu tâm đã diệt, tâm ấy có sanh trở lại Không?
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch Thế tôn! Không (nếu còn sanh lại thì sao gọi là diệt được).
      Phật hỏi: Tâm sanh có phải là tướng diệt chăng?
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch Thế tôn! Là tướng diệt (có sanh thì có diệt).
      Phật hỏi: Này Tu Bồ Ðề! Tâm tướng diệt đó, tâm ấy là diệt chăng?
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch đức Thế Tôn! Không (vọng tâm tuy diệt nhưng tâm nào có diệt).
      Phật hỏi: Này Tu Bồ đề! cũng trụ như vậy chăng?
      Tu Bồ Ðề thưa: Bạch Thế Tôn! Cũng trụ như vậy! Như như vậy!

      Phật đã giảng dạy rõ ràng là: Tâm, Tâm ấy chẳng phải là Sơ Tâm (vọng tâm) cũng chẳng rời Sơ Tâm, tâm ấy chẳng phải là Hậu Tâm (chân tâm) cũng chẳng rời Hậu Tâm; vì tâm ấy không có hình tướng cũng không có danh tướng, tâm ấy vượt ngoài sự đối đãi, ngoài ngữ ngôn, nó không thể bị thấy, nó không có danh hiệu nhất định, vì nó thể hiện muôn hình vạn trạng; chính vì nó biến hiện vô số hình trạng khác nhau, nên nó được gọi làm vô số danh hiệu, Tuy nó biến hiện vô số như vậy mà tất cả đều nằm trong cái gọi là Như Lai Tạng Tính, hay chỉ gọi là TÂM. Tâm này không phải vọng, không phải chân, không phải sơ, không phải hậu; nhưng vọng, chân, sơ, hậu ... đều phát xuất từ tâm nầy. 

      Tương tự, trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ngài A Nan hỏi về "vọng tâm và chơn tâm" (sơ tâm và hậu tâm), Phật dạy: "Ông nay chính nơi tri kiến, lập ra tướng tri kiến (chấp có sơ hậu,vọng chân), thì tức là cõi gốc vô minh; chính nơi  tri kiến, không có tướng tri kiến, thì là vô lậu thanh tịnh Niết Bàn; làm sao trong ấy lại có vật gì khác."
       Phật bèn nói kệ:
                .........
                Nói cái vọng để tỏ cái chân,
                Vọng, chân ấy, cả hai đều vọng;
                .......

      Cũng nhằm khai thị tâm này mà Lục Tổ có hỏi: Ta có cái không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không lưng, không mặt, các ngươi có biết chăng?
      Trong chúng tăng, Thần Hội thì trẻ tuổi nhất nhưng lanh lợi, đáp rằng: "Bạch Hòa Thượng! Ðó là bản lai của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội".
      Lục Tổ quở rằng: Ðã bảo với ngươi là không tên, không chữ (không văn tự) mà ngươi lại nói là: "Bản lai của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội" (há không phải là đã đặt tên rồi sao?), thì khác gì lấy cỏ tranh che đầu mà đi, cũng chỉ là trở thành bọn tri giải mà thôi.
      Rõ ràng là khai thị của thiền tông cũng vượt ngoài sự phân biệt, vượt ngoài ngôn ngữ, hễ dùng miệng lưỡi là đã có lỗi, nên chỉ tự thầm nhận mà thôi. Trong ấy làm sao có cái gì quyết định là vọng tâm, là chân tâm, là sơ tâm, là hậu tâm. Chính vì thế mà các Tổ không biết làm gì khác hơn đành phải đánh, phải hét, cũng nhằm để chỉ bày cái tâm ấy, ở cái tâm ấy không có bờ mé (vì vô biên); không có hạn lượng (chẳng lường được); không có tam thế (vì không thuộc về hoặc quá khứ hoặc hiện tại hoặc vị lai), cũng không thể nghĩ bàn (vượt ngoài suy luận), Không có ngôn ngữ vì ngôn ngữ không xác định được nó, và diệu dụng của nó bao trùm khắp vũ trụ hư không. Tâm tuy rộng lớn như hư không, nhưng tâm không phải là hư không, bởi vì hư không thì vô tri vô giác, còn tâm thì thường giác thường tri.

      Ðến đây chúng ta cũng thấy rõ ràng: Chúng sanh (vọng tâm) tức Phật (chân Tâm), Phật (chân tâm) tức tâm (gồm chân và vọng tâm), cả ba không khác. rõ ràng trong ấy không có phân biệt, không có trước sau, cũng chẳng hí luận. Chư Phật chư Tổ đã dầy công chỉ dạy không ngoài chỉ cho chúng ta cái ấy. Bờ bên này các Ngài đã chỉ rõ ràng, bờ bên kia chúng ta phải tự độ. Ðã biết đường lối rồi thì: "Hãy tự thấp đuốc lên mà đi". Ðó là lời Phật dạy.