Cái cười giải thoát của Đức Vua - Thiền Sư Trần Nhân Tông

TVHQ 12 Tháng 10 2010 Nguyễn Thế Đăng

http://tuvienhuequang.com/images/stories/1000namTL/Tran-Nhan-Tong-2.png

Tượng vua Trần Nhân Tông cao 3m, rộng 1,6m, nặng 2 tấn - nguồn:Internet

“Đắc ý trong lòng. Cười riêng ha hả” là hai câu trong Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca (Thơ văn Lý Trần, Viện Văn học, 1989) của Đệ nhất Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, một con người biết cốt tủy đạo Phật là gì và sống trọn vẹn đạo Phật ấy.

Bài ca gồm 88 câu, được bắt đầu bằng:

Sinh có thân người

Ấy là họa cả

Ai hay biết được

Mới gọi là đã

Ta lại xá ta

Đắc ý trong lòng

Cười riêng ha hả.

“Sinh có thân người” là lọt vào trong vòng sinh già bệnh chết. Hơn nữa, vì cái thân này, sự tồn tại của nó, sự phát triển của nó, lợi danh của nó, nó có thể gây ra những khổ đau cho người chung quanh. Thân này là họa, và cái tâm chỉ biết quy hướng về thân này như là trung tâm, cả hai đã tạo ra khổ đau cho mình và cho người. Thường trực mắc kẹt trong thân tâm này, cuộc sống chỉ giới hạn trong “cái ta và cái của ta”, là tai họa. Họa cho chính mình: tự giam trong một “cái ta và cái của ta” vô thường và nhỏ hẹp. Họa cho người khác: vì “cái ta và cái của ta” mà có thể gây tổn thương thậm chí làm hại người khác.

Chỉ cần “biết được” thực chất của cái thân này, “cái ta và cái của ta” này, tức thì giải thoát, giác ngộ. Biết sự thực của cái ta này, tức là cái ta vọng tưởng này bèn tự xa lìa [ta lại xá (xa, bỏ) ta], rơi rụng, và do đó mà có sự hân hoan của giải thoát. Giải thoát khỏi những trái núi vọng tưởng đè nặng lâu nay:

Đắc ý trong lòng

Cười riêng ha hả.

Biết được cái giả mà bấy lâu nay cứ tưởng thật, để tạo thành những che chướng (phiền não chướng và sở tri chướng) che lấp mình và gây khổ cho người. Biết được cái lâu nay cai trị mình, gây khổ đau cho mình, trói buộc mình, cái ấy là giả, như “hoa đốm giữa không trung”. Và hơn nữa, sự cực nhọc để thoát khỏi, nỗ lực để giải thoát khỏi cái giả ấy cũng là giả nốt, như “trông chờ hoa đốm giữa không trung kết thành trái”. Biết cái giả cùng những hậu họa của nó, bèn cười. Một cái cười cho suốt cả tương lai.

Nhưng biết cái giả cũng có khi khóc, khi nhìn lại quá khứ mê lầm hư vọng của mình:

Ai ai xá biết

Bằng huyễn chiêm bao

Xảy tỉnh giấc hòe

Châu rơi lã chã

Mới hay thân huyễn

Chẳng khác phù vân

Vạn sự giai không

Tựa dường bọt bể.

Nhưng biết cái giả, còn cái thật thì sao? Đâu phải giả là không có gì hết? Cái giả đã được biết, cái thật muôn đời liền lộ bày. Hay ngược lại cũng thế, cái thật lộ bày thì mọi cái giả đều rơi rụng:

Pháp thân thường trụ

Phổ mãn thái hư

Hiển hách mục tiền

Viên dung lõa lõa.

Từ nay cái Pháp thân thường trụ thường ở trước mắt (mục tiền) lồ lộ tròn đầy trùm khắp (viên dung lõa lõa). Từ nay khắp cả vũ trụ là niềm vui, mọi hành động là niềm vui, dù là “bố thí thân thể”, “bữa đói bữa no”. Một khi đã an trụ, đã sống trong Pháp thân, đã an thân lập mệnh trong đó thì mọi hoạt động đều là niềm vui, dù đó là những việc là thế gian cho là khó làm. Mọi cái thế gian cho là “khổ hạnh” đều là “biến hóa”, đều là vui chơi:

An thân lập mệnh

Thời tiết nhân duyên

Cắt thịt phân cho

Dầu là chim cá

Thân này chẳng quản

Bữa đói bữa no

Địa thủy hỏa phong

Dầu là biến hóa.

Từ nay mọi hoạt động của thân khẩu ý đều lưu xuất từ Pháp thân, từ bản tánh của tự tâm vô tướng, từ trí huệ và từ bi hợp nhất, do đó cuộc đời thường nhật là Niết-bàn, là Tịnh độ. Đó cũng là ý nghĩa “thần thông diệu dụng”, hay “Thành sở tác trí” của Phật giáo.

Vượn rừng hủ hỉ

Làm bạn cùng ta

Vắng vẻ ngàn kia

Thân lòng hỷ xả

Thanh nhàn vô sự

Quét tước đài hoa

Thờ phụng Bụt trời

Đêm ngày hương hỏa

Tụng kinh niệm Bụt

Chúc thánh khẩn cầu

Tam hữu tứ ân

Ta nguyền được trả.

Giải thoát là rũ bỏ mọi chủ thể và đối tượng. Sự rũ bỏ này đến một cách tự nhiên từ Trí huệ Bát nhã thấu suốt tánh Không. Dùng thuật ngữ khác, đến từ tánh giác:

Niềm lòng vằng vặc

Giác tánh thanh quang

Chẳng còn bỉ thử

Tranh nhân chấp ngã.

Trần duyên rũ hết

Thị phi chẳng hề

Rèn một tấm lòng

Đêm ngày đon đả.

Ngồi trong trần thế

Chẳng quản sự thay

Vẳng vẳng ngoài kia

Dầu lòng thong thả.

Học đòi chư Phật

Cho được viên thành

Xướng khúc vô sanh

Am thiền tiêu sái.

Đời sống Thiền hay đời sống tinh túy ấy của Phật giáo là do con đường của Thiền: sự chỉ thẳng, đưa vào Thực Tại, trực tiếp thấy Thực Tại (thấy Tánh). Sau đó là liên tục sống trong Thực Tại ấy. Con đường đó bắt đầu bằng con đường thấy (kiến đạo) và chứng nghiệm được thật tánh của sanh tử là Niết-bàn, chuyển thức thành Trí, “trúc hóa nên rồng”:

Thiền tông chỉ thị

Mục kích đạo tồn

Không cốc truyền thanh

Âm hưởng ứng dã.

Thiền là cái thấy đúng, thấy như thực (chánh kiến), thay vì cái thấy hư giả, ảo ảnh, “vờ vịt”, điên đảo của tâm thức mê lầm:

Trúc hóa nên rồng

Một hai là họa.

Bởi lòng vờ vịt

Trỏ Bắc làm Nam

Nhất chỉ đầu Thiền

Sát na hết cả.

Sống trong thực tại, đời sống đích thực, trong “thực tướng của tất cả các pháp”, chính là đời sống giải thoát, giác ngộ ngay tại thế gian:

Cảnh tịch, sống an, tự tại tâm

Mát trong gió thổi bóng cây thông

Dưới gối giường thiền kinh một quyển

Thanh nhàn hai chữ, hơn muôn vàng.

Mặc dầu được viết theo thể thơ, có vẻ cảm hứng và phóng túng, bài ca vẫn theo một trật tự rõ ràng. Đó là Bốn diệu đế. Đầu tiên là Khổ đế: Đã có sinh ra, “ấy là họa cả”. Tập đế là: “có thân người” mà vì vô minh, không biết đó là “thân huyễn, chẳng khác phù vân, vạn sự giai không, tựa dường bọt bể”. Diệt đế là “tánh giác thanh quang, chẳng còn bỉ thử”, là “Pháp thân thường trụ, hiển hách mục tiền”, vì trong Pháp thân thì không có sanh tử. Cuối cùng Đạo đế, con đường để đi đến đó, là con đường Thiền: “Nhất chỉ đầu Thiền. Sát na hết cả”.

Đời sống ‘chuyển tất cả sanh tử thành Niết-bàn’ này là sự thành tựu trong một đời của vua Trần Nhân Tông. Trong ý nghĩa này, ngài không phải chỉ làm vua trong một giai đoạn ngắn ngủi mà vinh quang của lịch sử Việt Nam, mà là vua của Pháp, của con đường giải thoát và giác ngộ. Như thế ngài là vua của muôn đời vì đó là con đường mà các bậc giải thoát giác ngộ đã từng đi trong quá khứ và sẽ đi trong tương lai cho đến ngày nào “thế gian trống rỗng”. Con đường đó sẽ còn mãi cho đến ngày nào còn có chúng sanh, còn có khổ đau hiện diện.

Ngày nay, khi học tập đạo thoát khổ, diệt khổ, chúng ta cũng vẫn đang đi trên con đường ấy. Mặc dù bề ngoài, mọi sự có thể đổi thay, nhưng con đường “hướng thượng nhất lộ” ấy chỉ có một, chỉ là một. Tham sân và vô minh của chúng ta có thể khác, có thể biến tướng, có thể nặng nề hơn nhưng vẫn là tham sân và vô minh, nguồn gốc của mọi khổ đau. Và giải thoát, giác ngộ cũng chỉ có một, Một Vị, như từ xưa đến nay vẫn thế.

Nguyễn Thế Đăng


Hồn quê trong cõi thơ TRẦN NHÂN TÔNG

TVHQ 19 Tháng 5 2010 Nhất Thanh

 Gởi Email

Hồn quê là gì ? Thật khó ai định nghĩa cho trọn vẹn. Cứ nói mãi về quê hương với phong hoa tuyết nguyệt, “xuân lan thu cúc thành hư sự”, rốt cùng thì chẳng khác nào đứng ngắm mãi những bức họa thủy mặc đời Tống của Trung Hoa. Nói đến thi ca là nói đến quê hương, nhưng không phải hồn dân dã của những kẻ chân lấm tay bùn trong thơ nào cũng có. Cũng đặc tả những hồ đình liễu tạ, mộ khánh thần chung, nhưng cái hồn quê thì cứ lẩn quất mãi, có duyên lắm mới tìm ra một tứ.

http://tuvienhuequang.com/images/stories/demo/travel/quenghuong.jpg

Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê nhất của Việt Nam, ấy vậy mà thi thoảng vẫn có những câu thơ cực kỳ quý phái, đại loại như :

“Sáng đào, trưa lý, đêm hồng phấn

Tuyết lãnh, sương quỳnh, máu đỗ quyên”.

Quách Tấn từng được mệnh danh là thi sĩ vĩ đại nhất Việt Nam thế kỷ 20 nhờ thủy chung với tự tình dân tộc(1), nhưng đọc những câu thơ dưới đây, tôi chẳng tìm đâu ra ruộng đồng hoa cỏ Việt Nam :

“Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng”.

Đành rằng một thế hệ thi nhân tiền chiến, không thiếu gì những tên tuổi gắn chặt với hồn quê : Anh Thơ, Trần Huyền Trân, Bàng Bá Lân, Thanh Tịnh … Nhưng đó là chuyện của thời mà người Việt Nam đã Mới (!), đã nhảy ra khỏi khuôn vàng thước ngọc của văn chương khoa bảng phong kiến Trung Hoa. Còn trước đó, càng đi ngược về xưa, những câu thơ - không phải là những nhà thơ - man mác hồn quê chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Một Bà Huyện Thanh Quan, một Nguyễn Khuyến đã là cực kỳ quý hiếm những hình ảnh tiều phu, ruộng lúa, mục tử cưỡi trâu về, rừng chiều phơi lá đỏ. Ấy vậy mà trước đó cả 600 năm, một đấng-quân-vương-thiền-sư-thi-sĩ đã gọi hồn quê nước Việt về dìu dặt cả một trời thơ.

Trần Nhân Tông hẳn nhiên là một anh hùng dân tộc. Tên tuổi ông gắn liền với hai cuộc chiến tranh thần thánh chống quân Mông Nguyên. Một ông vua bỏ ngai vàng đi xuất gia là chuyện chỉ có ở Việt Nam. Một ông vua vừa là một thi sĩ, điều này tưởng như dân tộc nào cũng có, nhưng một ông-vua-thiền-sư-thi-sĩ, với một tâm hồn đôn hậu chơn chất của người nông dân, quả là độc nhất vô nhị. Trong Tam Tổ Thực Lục nói : “Điều ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập thiện”. Một vị Thái thượng hoàng như vậy, làm sao quốc gia không thái bình thịnh trị ?

Cứ như là trình tự của một dòng thơ. Nếu ai đọc kỹ thơ của các vua Trần, hẳn sẽ thấy quê hương hiện rõ dần qua từng triều đại. Bắt đầu từ Trần Thái Tông, ta bắt gặp cảnh nguyệt rụng bến sông dài (nguyệt lạc tràng giang dạ kỷ canh), cảnh ánh trăng lạnh cùng khắp chốn (nhất đạo thiềm quang đại địa hàn) … Đến Trần Thánh Tông, cảnh vật đã sống động hơn với “Điểu tán lạc sơn hoa” (chim liệng rụng hoa rừng), với “Vạn tử thiên hồng không lạn mạn” (muôn vạn đóa hồng phơi rỡ rỡ), với “Vạn điệp bạch vân già cố trạch” (mây trắng muôn trùng che mái cũ), hay “Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu” (nước ngậm trời thu nước cũng thu). Đến Trần Nhân Tông, dù ở đâu, nói gì, ta vẫn thấy hồn quê dìu dặt cả trời thơ. Ở đó mái chùa, tiếng chuông, bến nước cây đa, mục đồng thổi sáo, tất cả đều được cô đọng thành lời, và như một lời nhắn nhủ, đất nước có phồn vinh hay không, triều đình có thịnh trị hay không, tất cả đều lưu xuất từ cõi thanh bình của chân bùn tay lấm, mùi thơm của đất, màu thẳm của trời, và trong sáng cõi tâm.

Sớm ngủ dậy mới hay xuân đến, không phải ở thục khí hay quang thiên, mà ở một không gian rất nhỏ :

“Thụy khởi khải song phi  http://tuvienhuequang.com/images/stories/demo/travel/chantrau.jpg

Bất  tri  xuân  dĩ  quy

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi”.

(Xuân hiểu).

(Ngủ dậy nhìn ra cửa sổ

Mới hay trời đã xuân đầy

Kìa kìa một đôi bướm trắng

Nhịp nhàng hướng nụ hoa bay).(1)

Chưa bàn đến tâm cảnh đạt ngộ của Thiền sư, mà nghĩ cho cùng, cái vô sự của “người rồi việc” cũng là cái vô sự của kẻ thường tình, có điều nó đã được cảm nhận một cách thong dong qua tâm hồn sáng trong cùng thực tại. Ngắm cảnh xuân, Trần Nhân Tông viết :

“Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi

Khách lai bất vấn nhân gian sự

Chỉ bạng lan can khán thúy vi”.

(Xuân cảnh)

(Chim trong liễu thắm hót khoan thai

Bóng  ngả  bên  thềm  mây  vẫn  bay

Khách  đến  thôi  bàn  chi  thế  sự

Chỉ  tựa  lan  can  ngắm  cỏ  cây).

Trần Nhân Tông thường nói đến Cảnh Xuân. Xuân ở trong ông lúc nào cũng có hoa, có bướm. Dù đang ngự trong giường rồng chiếu trúc hay lúc ngắm xuân tàn giữa hoa tan tác rụng, thơ ông vẫn đượm một vẻ bình yên của tâm hồn dân dã. Dù cuộc thế có mịt mờ, khuê cung có ảm đạm, cỏ hoa vẫn hiền hòa và niềm xuân vẫn bình lặng, như nỗi niềm sông nước mơn man của quê hương thân thiết. Trong bài thơ xuân làm trong đêm 11 tháng 02, ông viết :

“Hoan bá kiêu sầu phong vị trường

Đào  sinh  trúc  đạm  ổn  long  sàng

Nhất thiên như thủy nguyệt như trú

Hoa ảnh mãn song xuân mộng trường”.

(Nhị nguyệt thập nhất dạ)

(Chén rượu tiêu sầu vị thấm xa

Giường rồng chiếu trúc ngắm nhìn ra

Trời trong như nước ngời đêm nguyệt

Giấc mộng xuân đầy bóng cỏ hoa).

Trong bài “Khuê oán”, có một tứ thơ vô cùng mới lạ, khi nhìn thấy không dưng mặt trời lặn phía ngoài lầu Tây thì bóng hoa đều hướng hết về phía Đông :

“Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng

Hoàng ly bất ngữ  oán Đông phong

Vô  đoan  lạc  nhật  Tây  lầu  ngoại

Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông”.

(Khuê oán)

(Vén rèm dậy ngắm cánh hồng rơi

Oanh làm thinh giận gió xuân ơi

Lầu Tây vô cớ vầng dương lặn

Bóng cỏ hoa đều ngả hướng Đông).

Có lần tá túc tại một ngôi chùa làng Cổ Châu với tâm trạng buồn sau khi thăm chị mình - công chúa Thiên Thụy sắp mất, thế mà Trần Nhân Tông đã có một bài thơ vô cùng giải thoát :

“Thế  số  nhất  tức  mặc

Thời tình lưỡng hải ngân

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thăng xuân”.

(Đề Cổ Châu hương thôn tự)

(Số  đời  một  hơi  thở

Tình trong đôi mắt trong

Khi  cung  ma  mờ  mịt

Cõi Phật một trời Xuân).

Khi đứng trên hồ Động Thiên, nhìn thấy cỏ hoa kém phần xuân sắc, hồn quê vẫn man mác khi người thơ lắng hồn nghe một tiếng chuông :

“Động Thiên hồ thượng cảnh

Hoa  thảo  giảm  xuân  dung

Thượng  đế  lân  sầm  tịch

Thái thanh thời nhất chung”.

(Động Thiên hồ thượng).

(Bên  hồ  Động  Thiên  lặng

Hoa   cỏ   kém   màu   xuân

Thượng  đế  thương  cô  tịch

Tầng không điểm tiếng chuông).

Hai chữ “Thượng đế” trong bài khiến ta ngỡ ngàng. Hẳn khái niệm Thượng đế là đấng toàn năng không có trong tư tưởng thời Trần. Vậy Thượng đế ở đây là gì ? Trời ư ? Tiếng chuông hẳn phải vọng từ một thôn tự nào đó. Ôi, cảnh ở đây đâu có bóng người, chỉ có cái vô hình vô ảnh lẩn quất giữa hồn cây cỏ. Hồn thiêng sông núi, quốc túy quốc hồn, tác giả tạm hình dung thành Thượng đế, ban sự sống cho trời thơ ? Tiếng chuông sao mà xao gợn hồn ta đến thế !

Ngắm cảnh chiều trên châu Lạng, giữa cái buồn buồn của sương thu lá đỏ, ta cũng nghe vẳng một hồi chuông lặng tỏa :

“Cổ  tự  thê  lương  thu  ái  ngại

Ngư thuyền tiêu sắc mộ chung sơ

Thủy minh, sơn tĩnh bạch âu quá

Phong tịnh, vân nhàn, hồng thụ sơ”.

(Lạng châu vãn cảnh).

(Chùa cổ sương thu một lớp buồn

Thuyền câu hiu hắt một hồi chuông

Núi  lặng  dòng  im  âu  trắng  hiện

Lưa  thưa  lá  đỏ  gió  mây  chùng).

Tả cảnh mùa thu ở Vũ Lâm, ta cũng thấy thiên nhiên luôn văng vẳng tiếng chuông ngân như làm nền cho mây nước êm đềm và màu lá đỏ vốn rất đặc sắc của trời thu đất Bắc :

“Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành

Nhất mạc tà dương thủy ngoại minh

Tịch  tịch  thiên  sơn  hồng  diệp  lạc

Thấp vân như mộng viễn chung thanh”.

(Vũ Lâm thu vãn)

(Bóng cầu cong ngược vắt qua khe

Ngấn nước hồng lên vệt nắng tà

Lá  đỏ  rơi  mờ  chân  núi  thẳm

Mây chùng như mộng tiếng chuông xa).

Không phải ngẫu nhiên, khi tiếng chuông luôn là âm sắc gọi tả sự thanh bình trên quê hương đất Việt. Nếu tiếng đại bác đêm đêm là âm thanh độc tả quê hương thời ly loạn, thì tiếng chuông chùa là giai điệu đẹp thuở thái bình. Trần Nhân Tông đã cảm nhận sâu sắc tình tự quê hương trong tiếng chày kình đêm đêm khi trở giấc. Người ta chẳng thấy đâu trong những vần thơ kia cảnh điện vũ nguy nga, cảnh tam cung lục viện, cảnh quan triều hướng chín bệ rồng tung hô vạn tuế. Thật là lạ lùng khi đối với một ông vua, ta lại nghe cảnh nửa đêm trở giấc vì tiếng chày giã gạo nơi nào, nằm ngắm trăng lay trên cành hoa quế qua đèn song chếch bóng án thư đầy :

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ  trích  thư  đình  dạ  khí  hư

Thùy khởi châm thanh vô mích xứ

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”.

(Nguyệt)

(Đèn song chếch bóng án thư đầy

Sân thu sương bạc ảo huyền bay

Trở giấc tiếng chày đâu chẳng biết

Trên cành hoa quế bóng trăng lay).

Như vậy không phải cứ hoa xuân, nguyệt dạ, không phải cứ cổ tự, chung thanh, mà là chính tâm hồn thi nhân hòa quyện cùng non nước ấy. Cái hồn quê không có những cảnh tình đặc tả khi mà cõi lòng chưa được bình yên. Đành rằng Trần Nhân Tông sống gần chùa chiền tăng viện, nhưng điều đáng nói là hình ảnh quê hương cứ như được ấp ủ và duy trì qua sinh hoạt của chùa chiền. Khi vị Sư khép cổng chùa dưới cội đa già sau khi xông trầm khắp điện, lúc ấy chỉ cần một tiếng ve cất lên là đủ kéo dài một tứ thu cho cả trời thơ đất Bắc :

“Huân tận thiên đầu mãn tọa hương

Thủy  lưu  sơ  khởi  bất  đa  lương

Lão  dung  ảnh  lý  tăng  quan  bế

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường”.

(Đề Phổ Minh Tự thủy tạ)

(Muôn nén trầm xông tỏa ngát xa

Nước gợn nghe chừng đủ mát da

Dưới cội đa già tăng khép cổng

Tứ  thu  dìu  dặt  tiếng  ve  ca).

Bài thơ tôi thích nhất của Trần Nhân Tông là bài “Thiên Trường vãn vọng”. Và có lẽ đây là bài thơ hay nhất của thi ca cổ điển Việt Nam khi gợi mở một hồn quê thanh bình miên viễn. Về thăm lại quê Tổ phụ ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, không biết thi nhân đã đứng ở đâu để ngắm cảnh chiều nên thơ đến thế :

“Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền”.

(Thiên Trường vãn vọng).

(Khói phủ mơ màng giữa xóm thôn

Bóng chiều như có lại như không

Mục  đồng  thổi  sáo  trâu  về  hết

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).(1)

Bài Thiên Trường Phủ cũng là một bài thơ rất hay của Trần Nhân Tông được làm khi ông dạo gót trên con đường thôn dã đầy bùn đất gần chùa Phổ Minh. Cũng cảnh sư tăng trở về chùa viện sau khi cơn mưa tẩy sạch đám bùn nhơ dưới ánh trăng mờ :

“Lục  ám  hồng  hy  bội  tịch  liêu

Tể  vân  thôn  vũ  thổ  hoa  tiêu

Trai đường giảng hậu tăng quy viện

Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều

Tam thập tiên cung hoành dạ tháp

Bát thiên hương sát động xuân triêu

Phổ minh phong cảnh hồn như tạc

Phảng phất canh tường(1) nhập mộng nhiêu”.

Trong bài này, hai câu cuối là hai câu thơ lạ. Ngắm cảnh rêu phong chùa Phổ Minh, tác giả chợt nhớ hình ảnh vua cha mình phảng phất. Lần đầu tiên trong thi ca Việt Nam, hình ảnh ngôi chùa và hình ảnh người cha xuất hiện cùng một lúc, như đời sống gần gũi của người dân quyện chặt với mái chùa thấp thoáng. Ở đây người cha lại là một ông vua - tức Trần Thánh Tông. Ôi ! Có triều đại nào lại êm đềm hơn thế nữa ?

Còn rất nhiều những bài thơ hay, những tứ thơ lạ của Trần Nhân Tông phảng phất hồn quê. Sau khi xuất gia hay lúc đã thành Tổ sư của một Thiền phái, thi kệ của Trúc Lâm Điều Ngự Giác Hoàng cũng luôn nhuốm nặng màu quê và thiên nhiên. Đọc những vấn thoại của các thiền sinh hỏi Trúc Lâm trong các bộ Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục hoặc Thạch Thất Mỵ Ngữ, ta chợt nhớ đến Tham Đồ Hiển Quyết của Viên Chiếu Thiền sư đời Lý, đầy những hình ảnh thi ca và hồn quê man mác trong từng câu vấn đáp. Trong Đại Hương Hải Ấn Thi Tập cũng còn rất nhiều những câu thơ đẹp, không thể nào nói hết. Như trong bài Tảo mai, khi đặc tả hoa mai sớm, thi nhân thấy sương móc đọng trên hoa tỏa hương làm chú bướm si ngây tỉnh giấc, ánh sáng đêm thì lại giống như nước làm con chim khát buồn rầu. Nếu Hằng Nga mà biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai như thế thì chẳng thèm ở làm gì nơi cây quế với cung thiềm lạnh lẽo trên kia :

… “Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh

Dạ quang như thủy khát cầm sầu

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ

Quế lãnh thiềm hàn chỉ ná hưu”.(Tảo mai)

Quả là phải có một tâm hồn vừa lãng mạn, vừa thanh tao, vừa đầy sáng tạo quyện chặt với thiên nhiên mới có những câu thơ mỹ miều đến vậy ! Vài nhà phê bình văn học thời nay cứ nói thơ xưa là thứ nghệ thuật vị nghệ thuật, không giúp ích gì nhiều cho thế đạo nhân tâm. Họ cho rằng nghệ thuật phải vị nhân sinh, thật là buồn cười và ngớ ngẩn quá lắm ! Nếu là thứ văn chương vô bổ thì sao gọi là nghệ thuật ? Đừng hỏi vì cái gì. Cứ xem thơ của thời nước nhà thịnh trị, của những bậc nhân đức phi thường và thơ của thời ly loạn, của những kẻ xu thời thức vận thì biết. Hồn quê tuy mộc mạc đơn sơ đó, nhưng đó chính là hồn dân tộc. Dân tộc mà không giữ được cái hồn của mình thì tất cả sẽ tiêu vong. Chưa nói đến những giá trị đạo lý và nhân văn trong thi ca bất hủ Lý Trần, chỉ nói đến cái giản dị thanh tao trong ngần trong từng câu chữ nhỏ, người viết dám tuyên bố rằng, trong thơ, và trong cả đời sống cũng vậy, hồn quê còn là dân tộc còn, bất luận là vị nghệ thuật hay vị nhân sinh.

Trong niềm tri cảm đó, xin nghiêng mình trước núi sông để lắng nghe bản hòa âm của cỏ nội hoa ngàn, và để ngâm tràn những bài thơ của đấng Đại quân vương thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông trong niềm thiết tha vô hạn.

Nhất Thanh. Trích: TậpSan Suối Nguồn số 9 (TVHQ)