|
Chí Thành Niện Phật

Có 2 vị Lạt-Ma là Ajo và Reto cùng theo học 1
thầy. Reto là 1 học giả tinh thông Kinh điển, có thể giảng
giải, trích dẫn hầu như tất cả sách vở 1 cách dễ dàng, trong
khi Ajo chỉ chuyên tâm Lễ Bái và Thiền Định. Lạt Ma Reto ghi
danh vào Đại Học Drepung, tốt nghiệp thủ khoa, trở nên 1
Pháp Sư nổi tiếng của Tây Tạng, trong khi Lạt Ma Ajo vẫn ẩn
tu tại làng Chumbi. Sau nhiều năm không gặp nhau, 1 hôm Pháp
Sư Reto có dịp công du qua làng cũ. Nhớ đến người huynh đệ
đồng môn, ông ghé lại ngôi chùa xưa thăm hỏi. Gặp nhau cả 2
đều mừng rỡ chuyện trò vui vẻ, Reto bèn hỏi Ajo đã tu học
đến đâu. Lạt Ma Ajo thành thật thưa rằng: “Bao năm nay chỉ
chuyên tụng 1 bộ Kinh A Di Đà mà thôi”. Pháp Sư Reto lắc đầu
than cho chú em quê mùa hủ lậu, Kinh điển thiên kinh vạn
quyển không đọc mà chỉ đọc tụng có 1 bộ Kinh tầm thường mà
gần như ai cũng biết. Reto bèn giảng giải cho Ajo một hồi về
những pháp môn cao siêu cho đến tận khuya mới đi ngủ. Vừa
chợp mắt ít lâu, ông đã giật mình tỉnh giấc vì thấy ánh sáng
ở đâu chói loà cả 1 vùng. Ánh sáng này phát ra từ phía chánh
điện ngôi chùa nên ông ngạc nhiên rời trú phòng bước ra xem
thế nào. Ông thấy Lạt Ma Ajo đang chắp tay đảnh lễ, trì tụng
Hồng Danh Đức Phật A Di Đà nhưng quanh ông này hào quang
sáng rực cả chánh điện. Ông thấy trong hào quang đó có 1 ao
sen lớn bằng các thứ ngọc báu với những lâu đài, dinh thự
toàn bằng vàng. Ngoài ra, còn có những giống chim lạ cất tấu
lên những điệu nhạc hoà nhã, vi diệu nghe như tiếng giảng
Kinh, rồi trời đổ mưa hoa, những bông Mạn Đà La rơi xuống ao
báu toả ánh sáng khắp nơi. Pháp sư Reto nín thở theo dõi cho
đến khi Lạt Ma Ajo trì tụng xong bộ Kinh A Di Đà thì linh
ảnh đó mới biến mất. Quá xúc động, Reto vội bước vào hỏi làm
sao Ajo lại có được thần thông như vậy. Lạt Ma Ajo cho biết
ông không hề có thần thông gì cả mà chỉ chuyên tâm trì tụng
6 chữ Hồng Danh mà thôi. Lạt Ma Reto lại hỏi: “Nhưng ta thấy
hào quang sáng ngời trong chánh điện và những linh ảnh lạ
lùng. Chắc chắn chú phải có những phương pháp tu luyện gì
nữa chứ?” Lạt Ma Ajo cho biết không hề áp dụng 1 phương pháp
gì ngoài việc gìn giữ Thân-Khẩu-Ý cho thật thanh tịnh, trang
nghiêm để trì tụng Hồng Danh Phật A Di Đà mà thôi. - Làm sao
có thể như vậy được? Như ta đây làu thông Kinh điển, tu tập
bao năm nay mà đâu đã có kết quả gì? Lạt Ma Reto thắc mắc. -
Có lẽ huynh chỉ đọc văn giải nghĩa để thoả mãn trình độ trí
thức giỏi biện luận như 1 nhà thông thái mà thiếu hành trì,
không chí thành cung kính, đọc Kinh còn nghi ngờ, chỉ trọng
về Lý Tánh mà không chuộng sự tu dưỡng Thân-Tâm chăng? Như
em đây thì chuyên tâm tin tưởng vào lời khuyên dạy của Chư
Phật, tin rằng có cõi Tây Phương Cực Lạc, tin vào Đại Nguyện
của Phật A Di Đà và tha lực tiếp dẫn của Ngài, rồi chí thành
nguyện cầu sẽ được sinh sang cõi nước Cực Lạc (Tín-Nguyện-Hạnh).
Pháp Sư Reto bừng tỉnh vội vã chắp tay đảnh lễ người em đã
khai ngộ cho mình. Ông trở về Lhassa
trình bày sự việc cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, rồi xin từ chức
Pháp Sư về nhập thất tu Thiền trong dãy Tuyết Sơn. Đức Đạt
Lai Lạt Ma truyền lệnh cho xây 1 ngôi Chùa nguy nga rộng lớn
để xứng đáng với công đức tu hành của 1 vị Cao Tăng và phong
cho Lạt Ma Ajo chức Hoà Thượng (Rinpoche). Tuy nhiên, Hoà
Thượng Ajo không thích việc có 1 ngôi chùa riêng như vậy,
ông chỉ muốn tiếp tục sống trong ngôi chùa nhỏ bé nơi thung
lũng Chumbi mà thôi. Vị quan trông coi việc xây cất lấy làm
lạ bèn hỏi tại sao, thì Ngài cho biết dù chùa cao to đẹp đẽ,
dù cung vàng điện ngọc cũng chỉ là hình thức bên ngoài, hữu
sinh hữu hoại, nay còn mai mất, không thể so sánh với cảnh
giới của cõi Cực Lạc được. Sau cùng, người ta đành mời Ngài
về trụ trì Chùa Tse Cholin, 1 ngôi chùa lớn trong vùng, vì
vị trụ trì tại đây đã qua đời trước đó ít lâu. Hoà Thượng
Ajo nhận lời quản trị ngôi chùa này nhưng vẫn tiếp tục sống
tại ngôi chùa nhỏ bé cũ gần đó, vì ông biết rằng vị trụ trì
Tse Cholin sẽ Hoá Thân trở lại đây trong 1 thời gian không
lâu nữa. Theo Hoà Thượng Ajo, thì Đức Phật đã chỉ dẫn rất
nhiều Pháp môn khác nhau, các đệ tử tuỳ theo căn cơ trình độ
lãnh hội mà tu hành được giải thoát. Tuy nhiên vì biết vào
thời Mạt Pháp (Kali Yuga), chúng sanh nghiệp sâu, trí mỏng
khó có thể trông cậy vào tự lực cá nhân mà giải thoát, nên
Đức Phật đã truyền dạy riêng 1 phương pháp giản dị là Pháp
môn Niệm Phật cầu Vãng Sanh. Pháp môn này giản dị mà công
năng vô cùng mầu nhiệm, bất khả tư nghì, vì ngay như Đức Di
Lặc chỉ còn 1 Kiếp nữa sẽ thành Phật mà Ngày Đêm 6 thời còn
đảnh lễ, trì niệm Hồng Danh Chư Phật. Theo Hoà Thượng Ajo,
thì cách trì tụng Hồng Danh phải đặt căn bản trên sự chí
thành, khẩn thiết thì mới được Cảm Ứng. Dù làm đúng các Nghi
thức nhưng tâm không thành thì khó có kết quả gì, tóm lại
vấn đề trọng yếu vẫn là ở TÂM. Ngài chỉ phương pháp Quán
Tưởng, là lúc nào cũng giữ trong Tâm hình ảnh của Đức Phật A
Di Đà và cảnh giới cõi Cực Lạc mà trong đó bất cứ thứ gì
cũng phát ra hào quang sáng chói, nơi mà tiếng gió thổi,
chim hót, lá cây rụng cũng phát ra những Diệu Âm. Ngài cho
biết làm sao để lúc Đi-Đứng-Nằm-Ngồi cũng đều chú tâm vào
hình ảnh Đức Phật A Di Đà cho đến lúc thật thuần thục, không
thấy có mình là Người Niệm Phật và Phật là 1 Vị mà mình đang
Niệm, chỉ có 1 ánh sáng vô tận, vô lượng chiếu soi. Niệm đến
chỗ Vô Niệm, cho đến Nhất Tâm Bất Loạn, thì sẽ được cảnh
giới bất khả tư nghì. Hoà Thượng Ajo cho biết 6 chữ Hồng
Danh A Di Đà Phật có 1 oai lực vô cùng rộng lớn với những
Mật nghĩa sâu xa, mà chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ cùng
tận mà thôi. Phật A Di Đà là Pháp giới tàng thân, bao nhiêu
công đức của Chư Phật trong 10 phương pháp giới, nơi 1 Đức
Phật A Di Đà đều đầy đủ cả. A Di Đà có nghĩa là nguồn sáng
vô tận (Vô Lượng Quang), tuổi thọ vô lượng (Vô Lượng Thọ);
hay nói theo nghĩa khác là bao gồm toàn thể không gian (ánh
sáng) và thời gian (tuổi thọ) tượng trưng cho chân lý tuyệt
đối bất khả tư nghì. Trích
Đường Mây Qua Xứ Tuyết
của Lama Anagarika Govinda
Việt văn của Nguyên Phong
|