|
Tây Phương Tam Thánh
Bồ-Tát Đại-Thế-Chí (Trí-Tuệ)
& Đức Phật A-Di-Đà & Bồ-Tát Quán-Thế-Âm (Từ-Bi)
(ý nghĩa: Từ-Bi + Trí-Tuệ =
Phật)
ÐẠI THẾ CHÍ BỒ
TÁT
CÀNH
HOA SEN MÀU XANH
TKN. Thích Nữ
Chân Liễu
T
rong thiền môn, bức tranh vẽ “Tây Phương Tam Thánh” Bồ Tát
Ðại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh đứng bên tay phải Ðức
Phật A Di Ðà, bên tay trái là Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành
dương liễu và bình tịnh thủy. Trong kinh sách hai vị Bồ Tát
hiện thân cư sĩ nữ hai bên Ðức Phật A Di Ðà tượng trưng Từ
Bi và Trí Tuệ.
Bồ Tát Quán Thế Âm được nhiều người nhắc
đến và tạc tượng lộ thiên ở các chùa, tu viện, tùng lâm, để
ca ngợi hạnh kham nhẫn và đức từ bi cao thượng.
Bồ Tát Ðại Thế Chí biểu trưng cho đức
tinh tấn và ánh sáng trí tuệ. Ngài còn có danh hiệu là Ðắc
Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Tinh Tấn
Bồ Tát hay Vô Biên Quang Bồ Tát.
Các danh
hiệu của Bồ Tát Đại Thế Chí nói lên hạnh nguyện đại hùng,
đại lực, đại tinh tấn và ánh sáng trí tuệ vô biên chiếu khắp
mọi loài chúng sanh, có thể phá trừ vô minh, điều phục tham
sân si, chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Các vị Bồ Tát đều
có từ bi, trí tuệ và ý chí xuất phàm như nhau, đó là nhân để
tiến đến Phật quả.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Đức
Phật ca ngợi Bồ Tát hạnh như sau:
“Nhân
vì chúng sanh mà khởi tâm đại từ bi. Nhân lòng đại từ bi mà
phát bồ đề tâm. Nhân phát bồ đề tâm mà thành ngôi chánh giác”.
Bồ Tát
Đại Thế Chí tay cầm cành hoa sen màu xanh. Hoa sen tượng
trưng cho sự thanh khiết trong sạch, không dính danh lợi thế
gian, có sức mạnh tự tại vượt thoát khỏi bùn nhơ, thành tựu
trí tuệ. Màu xanh của hoa sen tỏa ánh sáng xanh trên cõi
trời tây phương tịnh độ, và còn là sức mạnh tinh tấn của
chánh định, là trí tuệ siêu việt như trời biển tĩnh lặng
rộng lớn bao la bát ngát.

HẠNH NGUYỆN CỦA BỒ TÁT ĐẠI THẾ CHÍ:
Hạnh nguyện của Bồ Tát Đại Thế Chí thuộc về tâm thức, hạnh
tu tâm dưỡng tánh, đi đến giải thoát rốt ráo. Tu theo Bồ Tát
đạo là trước tiên phải tu tập thiền định để có được trí tuệ,
xa lìa ái dục để được giác ngộ giải thoát; sau đó là phát
đại nguyện
độ tận tất cả chúng sanh đều được an trụ trong cảnh giới chư
Phật. Mắt trần của chúng sanh thấy như Bồ Tát Đại Thế Chí
không làm gì cả, nhưng thật sự làm tất cả hạnh nguyện của
tâm hạnh bồ tát, làm với tinh thần tích cực và tinh tấn mạnh
mẽ cao thượng tột cùng.
Bồ Tát
Đại Thế Chí là tâm vô ngã và bình đẳng chân thật, không dụng
tâm cố ý cho người thấy để tán dương khen ngợi, cũng không
chấp vào công đức đã làm, không chấp tướng, không cầu danh.
Hạnh vô ngã, vô trụ, vô phân biệt của Bồ Tát chẳng sinh một
niệm gì cả, cũng không thấy có chứng, có đắc, có độ. Đó là
chánh định và chánh niệm viên mãn tuyệt đối.
Hạnh
nguyện của Bồ Tát Ðại Thế Chí là sự tinh tấn trong đạo Phật,
có ích lợi cho chúng sanh rất nhiều và cũng là pháp tu tượng
trưng cho sự nỗ lực dũng mãnh chân chánh trên con đường đi
đến giác ngộ và giải thoát.
Trong 37
phẩm trợ đạo, bát chánh đạo bao gồm: chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm và chánh định. Và tứ chánh cần gồm có:
·
Tinh tấn ngăn ngừa các điều ác chưa phát sanh.
·
Tinh tấn dứt trừ các điều ác đã
phát sanh.
·
Tinh tấn phát triển các
điều lành chưa phát sanh.
·
Tinh tấn tăng trưởng các điều lành đã phát sanh.
Hình ảnh
Bồ Tát Đại Thế Chí là một vị cư sĩ thân người nữ, cổ đeo
chuỗi anh lạc, tay cầm cành hoa sen xanh, tâm định như gương,
thanh tịnh như nước lặng. Bồ Tát biểu trưng năng lực người
tu không bị khuất phục bởi danh lợi và ngũ dục, tham sân si
không làm ô nhiễm, như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi
bùn.
LỢI
ÍCH CỦA TINH TẤN
VÀ TRÍ TUỆ:

Đức tinh tấn và trí tuệ rất cần thiết
cho người tu, là con đường đi đến sự giác ngộ và giải thoát
viên mãn. Trí tuệ có được là do tinh tấn tu hành, siêng năng
học đạo, tham thiền, niệm Phật, tụng kinh, bái sám, không
giải đải, không thối chuyển. Người học đạo có trí tuệ sáng
suốt, biết được sự nguy hiểm của vô minh dẫn chúng sanh đi
vào lục đạo sanh tử của luân hồi, nên mạnh dạn chặt đứt
phiền não của nhân bất thiện và nghiệp ác. Tinh tấn còn là
tâm hoan hỷ siêng năng, chuyên cần làm mọi việc thiện lành,
cứu người giúp đời, sau đó điều cần thiết và quan trọng là
tinh tấn tự tu học, cho đến khi thân khẩu ý được hoàn toàn
trong sạch và thanh tịnh.
Chư ác
mạc tác.
Chúng
thiện phụng hành.
Tự
tịnh kỳ ý.
Thị
chư Phật giáo.
Việc ác không làm.
Việc thiện vâng làm.
Tâm ý thanh tịnh.
Lời chư Phật dạy.
Đạo Phật
là đạo từ bi và trí tuệ, mặc dù giáo pháp của Đức Phật mênh
mông, nhưng không ngoài một vị giải thoát.

Văn Tư
Tu là ba pháp tu có công năng thành tựu được trí tuệ, người
tu theo Phật phải luôn luôn học tập, suy tư và thực hành.
Trong
Kinh Di Giáo, Đức
Phật dạy:
“Trí
tuệ là chiếc thuyền kiên cố chở ta ra khỏi biển sanh lão
bịnh tử; cũng là ngọn đèn chói sáng xua tan vô minh hắc ám,
là liều thuốc chữa bịnh tham sân si, là chiếc búa chặt đứt
phiền não. Vậy các ngươi phải văn huệ, tư huệ, tu huệ và
hành trì tinh tấn để tự tăng trưởng trí tuệ”.
. Văn huệ:
do nghe âm thanh, văn tự của Phật, mà hiểu được ý nghĩa của
kinh điển.
. Tư huệ:
do trí suy tư tìm hiểu, thấy được chân lý, sự thật một cách
sáng suốt.
. Tu huệ:
nhờ sự hành trì tinh tấn, mà giác ngộ thực tướng rõ ràng,
mọi sự vật không sai.
Hiện thân
của Bồ Tát Đại Thế Chí là căn bản trí tuệ cho người tu, nhờ
vào trí tuệ có năng lực như ngọn đèn sáng rực, soi rọi các
tà vọng thiện ác, thấy được vực sâu của tội ác trong thế
gian một cách rõ ràng.
Ánh sáng
trí tuệ chói rọi đến thâm tâm của con người, đến những nơi u
ám của thế gian, để phá vỡ màn vô minh cứu khổ cho nhân loại.
Tất cả chư Phật chư Bồ Tát nào cũng có hạnh nguyện đại từ bi
và đại trí tuệ như Đức Phật A Di Đà và đó cũng là Phật tánh
sáng suốt thanh tịnh, bất sanh bất diệt của con người.
Tu theo
hạnh Bồ Tát Đại Thế Chí là tinh tấn kham nhẫn cho đến khi
tâm an vui giải thoát, chứ không phải cái vui vị kỷ trong
đối đãi: được mất, hơn thua, khen chê, sướng khổ. Si mê là
gốc tội lỗi. Một niềm tin hay hiểu biết sai lầm sẽ khiến con
người rơi vào vực thẳm đau khổ triền miên. Trí tuệ giúp con
người nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa đúng và sai, thiện
và ác, nhưng không tâm kỳ thị phân biệt và không bị phiền
não chi phối. Đó cũng là tinh thần vô trụ, vô chấp của Bồ
Tát Đại Thế Chí. Ðạo Phật là đạo giác ngộ bằng con đường trí
tuệ, và giải thoát chúng sanh qua hạnh nguyện từ bi. Bồ tát
cũng từ thế giới ta bà khổ, tu hành tinh tấn, trì giới thanh
tịnh, tâm từ bi cao thượng, trí tuệ sáng suốt, phá được vô
minh sanh tử luân hồi, và đạt thành chánh đẳng chánh giác.
NIỆM
HỒNG DANH PHẬT
VÀ BỒ TÁT:
Người mê miệng niệm Phật, nhưng tâm
phiền não và ý mơ tưởng chuyện hưởng lạc cảnh giới tây
phương. Người ngộ miệng niệm Phật, tâm trong sáng, ý thanh
tịnh và tuệ chánh định như Bồ Tát Đại Thế Chí. Cảnh giới
Tịnh Độ là cõi chư Phật trong sạch đẹp đẽ như ngọc lưu ly,
xa cừ, xích châu, mã não, thì tâm chúng sanh muốn về cõi
Phật cũng phải thanh tịnh sáng suốt, vô chấp và vô ngã tuyệt
đối.
* Niệm mà không chấp có niệm, đó là chánh niệm.
* Hành mà không chấp có hành, đó là chánh tinh tấn.
* Độ mà không chấp có độ, đó là chánh tư duy.
* Tu mà không chấp có tu, đó là chánh tri kiến.
Niệm Phật
để thanh tịnh tâm và đạt được nhất tâm. Muốn sanh về cõi
tịnh độ Đức Phật A Di Đà, con người còn phải thực hành hạnh
từ bi, kham nhẫn, thanh tịnh như Bồ Tát Quán Thế Âm và đạt
định lực dũng mãnh, ý chí tinh tấn, trí tuệ sáng suốt như Bồ
Tát Đại Thế Chí. Thiếu một trong hai đức tánh bên trái hoặc
bên phải của Đức Phật A Di Đà, thì đường về cõi Tây Phương
Tịnh Độ còn xa cách ngàn trùng.
Hành giả trên đường tu, biết ơn, phụng
thờ, chí tâm đảnh lễ, và niệm hồng danh Bồ Tát Đại Thế Chí,
tức là đang hướng về ánh sáng trí tuệ sẵn có tự thân. Kính
lễ và niệm hồng danh chư Phật chư Bồ Tát không có ý nghĩa
cầu xin bình an, hay vật chất sung sướng, chính là hướng về
tâm hạnh từ bi, trí tuệ cao thượng, nguyện tinh tấn tu tâm
dưỡng tánh theo lời Phật dạy. Như vậy là cách niệm hồng danh
và đảnh lễ chư Phật chư Bồ Tát đúng chánh pháp bậc nhất,
còn gọi là chánh niệm và chánh định.
Ở thế
gian, khi bước chân vào điện Phật chốn Thiền môn, người Phật
tử đã phải bỏ lại đôi dép bụi bặm bên ngoài, thân tướng
trang nghiêm cung kính, tâm chánh niệm, ý thiện lành, để
xứng đáng là Phật tử chân chánh khi đảnh lễ Đức Thế Tôn. Cõi
Phật là cõi cao thượng, thanh tịnh, không có đau khổ, không
có ba đường ác. Tâm người tu phải thanh tịnh, sạch hết phiền
não, không còn nghiệp chướng, không còn danh lợi, không hơn
thua tranh chấp, xả bỏ hết ích kỷ nhỏ nhen của phàm phu. Đó
chính là chuẩn bị cho mình trở thành một bậc thượng thiện
nhơn, để được sanh về cõi tịnh độ của chư Phật.
Đạo Phật
là đạo từ bi và trí tuệ; đem ánh sáng trí tuệ phá trừ vô
minh, giúp người tu diệt tham ái sân hận si mê, đó gọi là
công đức; đem từ bi là tình thương trong sạch, thanh cao,
cứu người giúp đời, đó gọi là phước đức. Công đức và phước
đức là phương tiện đạt thành đạo quả.
Thông
thường, khi con người trong thế gian làm được việc lành việc
tốt, thì hay tự hào ngạo nghễ, xem thường tất cả mọi người
khác. Sự trói buộc của bản ngã làm người tu mất hết một phần
công đức, phước đức, giảm bớt một phần từ bi và trí tuệ. Tu
Bồ Tát đạo là phải tự giải thoát những trói buộc và phiền
não thế gian. Tu Bồ Tát đạo không sợ sanh tử, cũng không
chán ghét ta bà khổ. Tất cả vì sự đau khổ của chúng sanh,
phát nguyện tùy duyên cứu độ. Đó là tâm hạnh ưu việt của
người tu Bồ Tát đạo.
T
óm
lại, đời tu không phải ai cũng có hoàn cảnh giống như nhau,
con người thường thích cầu nguyện cho cuộc đời bớt sóng gió,
bớt khổ đau, nhưng cuộc đời không như chúng ta mong ước.
Trên thế giới ta bà khổ, không phải ai phát tâm tu hành đều
được người cung kính hay tán thán, hoặc không bị sóng gió,
nhưng dù cảnh thuận hay nghịch, người tu luôn cố gắng tinh
tấn giữ vững niềm tin và nghị lực không thối chuyển.
Con người
có hạnh phúc, không nhất thiết là phải được tất cả mọi mong
cầu, mà là người mạnh dạn đứng lên khi thất bại, biết chuyển
đổi được những khó khăn và khổ đau xảy đến, thành an lạc
hạnh phúc trong tâm hồn.
Bồ Tát
Đại Thế Chí là oai lực của trí tuệ, là công hạnh lý tưởng
cao thượng tột cùng của công phu tinh tấn tu tập của người
tu.
Xuất gia
hay tại gia đều có khả năng tự chọn con đường tu, tự độ và
độ tha, bằng sức mạnh của từ bi và trí tuệ.
“Tự Tánh Di Đà Duy Tâm Tịnh Độ”,
nơi tâm nhứt niệm thanh tịnh, không loạn động điên đảo thì
thấy được cảnh giới tịnh độ, có nhiều hoa sen xanh tỏa ánh
sáng màu xanh tuyệt đẹp, đó là hình ảnh của Bồ Tát Đại Lực
Đại Thế Chí chắc là không sai chút nào. ■
NAM MÔ ĐẠI LỰC
ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

Gia đình ĐH. Nguyễn Chánh Thiệt
& Lâm
Thị Tuyết Hoa (WA, USA)
CHUYỆN
TRONG NHÀ
HẠNH-PHÚC
GIA-ĐÌNH
Trong một
gia đình, một khi người cha, người mẹ muốn làm điều gì cho
con mình, dù biết đó là việc tốt, vẫn phải nên hỏi ý của con
mình trước, xem thử nó có thích, nó có bằng lòng, nó có điều
gì cần phát biểu về việc mà cha mẹ sắp làm cho nó hay không?
Như vậy,
việc làm của cha mẹ mới thật sự mang lại hữu ích thích đáng
cho con cái, mới được con cái quý trọng, gia đạo an vui,
hạnh phúc.
Trong
thời đại hôm nay, đó là nếp sống gia đình có giáo dục, nếp
sống biết trọng tinh thần bình đẳng, tự do, dân chủ và nhân
quyền. []
Ban
Biên-Tập PHTQ
Trích Tập san PHTQ 13
(Phật Đản 2010)
|