|
DÒNG
ĐỜI XUÔI CHẢY Cư
sĩ Liên Hoa -
Kính
dâng bài viết nầy như tấm lòng của một người mong được
xem là con thảo lên Chư vị đang
mang hạnh nguyện“ Truyền Đăng Tục Diệm” làm lợi ích
cho muôn người, cho Đời và cho Đạo, nhân mùa An Cư Kiềt
Hạ. -
Xin
được chia sẻ với tất cả các bạn- Đời hoặc Đạo- chưa
quen, chưa biết mặt hoặc những người đã hân hạnh được
gặp, quen biết. -
Thương
tặng Thanh- người vợ và là người bạn Đạo. Từ
trên tầng 95 của Nhà hàng nằm trong khu Johnson Hancock, thành
phố Chicago qua cửa kiếng nhìn khung cảnh chung quanh. Kìa
bờ hồ Michigan trải mình bên dưới, nước trong xanh. từng
con sóng nhỏ tắp vào bờ, sủi bọt trắng. Những
dấu ngoằn nghèo, có những con kiến nhỏ nhiều màu sắc di
động trên các con đường . Chung quanh, những toà nhà cao
sừng sững, vững vàng, hiên ngang, oai vệ dưới bầu trời.
Các cửa kiếng của toà nhà đều đuợc dán màu đen nhạt,
nên nhìn xung quanh tạo cảm giác như nhìn xuống vực sâu.
Phong cảnh thật đẹp, trầm ấm, khoan thai như… Một
cuộc đời đã mất dưới
vực sâu u huyền đá
buồn vì héo hon biển
reo vì đợi chờ bàn
tay thảo linh dược một
thoáng dễ buông lơi sắc
màu vờn sóng nhỏ trùng
dương hội biển khơi.
Minh
Thanh Bữa
cơm thịnh soạn được dọn ra, trình bày rất đẹp, bắt
mắt, nhưng giá tiền lại không vừa. Những người hầu bàn
đi qua lại để phục vụ, thanh lịch, miệng luôn mỉm cười.
Dù sao, nhìn thấy nụ cười nở trên môi mọi người cũng
đủ làm cho thức ăn thêm ngon. Du khách, ai nấy đến đây
đều muốn có cái nhìn quang cảnh xung quanh từ trên độ
cao nầy, để thấy được toàn cảnh thành phố Chicago.
Phải công nhận rằng cảnh quá tuyệt đẹp. Là một người
tập tành viết văn làm thơ, dù rằng văn thơ của mình sáng
tác cũng chẳng ai thèm đọc tới, nhưng trước cảnh đất
trời nầy, lòng tôi cũng thấy xốn xang như muốn tỏ bày
một cái gì đó, nhưng rồi hỡi ơi! văn thơ bay mất. .Gia
đình tôi là một gia đình rất thích du lịch. Năm nào cũng
vậy, khi những cơn nắng hạ lăn mình, tràn lan, và những
trận mưa gàn dở nhảy múa ….có nghĩa là gia đình bắt đầu
hỏi nhau phải đi du lịch nơi đâu và dành nhiều thời gian
để chọn lựa, để đồng ý nơi chốn đến thăm viếng và
quyết định book vé máy bay. Có lúc thì ra nước ngoài, lúc
thì ngoạn cảnh trong nước Mỹ. Có lẽ, một lúc nào đó,
sẽ chỉ còn đi trong nước Mỹ mà thôi và không đi xa được
nữa, nhất là khi tuổi về già…đi đứng sẽ lụm khụm,
đi đâu cũng cần Bác sĩ đi kèm, nhưng không biết “đầu
tiên” có đủ hay không…. Đi
du lịch cũng là dịp sum họp gia đình sau bao ngày tháng
học hành, bận rôn với cuộc sống, cũng là dịp mở mang
kiến thức, chia sẻ sự hiểu biết v.v…du lịch cũng để
quên những bận bịu, bỏ lại những vướng mắc sau lưng
trong một khoảng thời gian nào đó, vì mọi thứ đều ở
quá xa, vượt khỏi tầm tay để giải quyết và cũng để
thấy, cảm nhận được không gian bao la, thời gian thoáng
rộng. Tôi
lần đầu tiên có duyên và đến viếng Chicago. T. thì đã
hai lần đến nơi đây, lần nầy là lần thứ ba. Tôi thì
chắc một lần thôi cũng đủ, còn biết bao nhiêu chỗ
phải đi để học hỏi; đời một người lữ khách vẫn
rảo chân bước không dừng. Chỉ mong rằng “ tâm dừng”
nhưng đời vẫn hoạt hoá để dấn thân vào đời, tùy theo
nguyện ước mà làm một cái gì đó, dù nhỏ nhoi nhưng có
ý nghĩa.. Gia
đình tôi có mặt tại khu Navy Pier vào buổi chiều, ngập bóng
người. Dân địa phương cùng du khách đổ về trên bến
cảng nầy vui chơi, ca hát và chờ đón xem bắn pháo bông,
nổ tỏa sáng rực cả bầu trời, khoảng nửa giờ đồng
hồ. Phong cảnh chung quanh nhộn hịp, dòng người đổ càng
lúc càng đông, những bước chân dồn dập, chen lẫn nhau trên
con đường dọc theo bờ hồ, đủ màu sắc. Tôi
chợt nhớ đền bản nhạc “Chiều trên bến Tam Giang”
của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Ở nơi đây không có cảnh
chờ đợi, ngóng trông bồi hồi của người con gái đối
với người yêu, người lính chiến đang xông pha ngoài mặt
trận, để lòng có nhiều nổi lo âu…” chợt nghĩ đến
anh, chợt nghĩ đến những điều không dám nghĩ…”.
Một tấm lòng quá đẹp, có lẽ trong một bản nhạc không
thể chuyên chở đủ hết chiếu sâu đại dương của nổi
lòng đó! Biết bao nhiêu sự cách xa đau lòng đã xẩy ra thường
trực trong thời chiến, mà bút mực viết hoài vẫn chưa
dứt. Quê hương tôi, chiến tranh nồi da xáo thịt đã qua
rồi. Tuy nhiên, có lúc tưởng chừng như đời sống sẽ bình
yên, mọi người Việt sẽ được sống trong an bình, no ấm,
tự do v.v…làm lại cuộc đời, để bù lại cho sự chết
chóc hy sinh của biết bao nhiêu triệu sinh mạng, bao nhiêu tài
nguyên, trí tuệ.. của cả một dân tộc, cho một chủ nghĩa
ngoại lai. Nhưng cho đến giờ phút nầy, người Việt vẫn
còn nhìn nhau nhưng trong chia cách, ngờ vực, do bởi đâu? Bến
cảng nầy chỉ đón chào những niềm vui, những nụ cười,
những ly cà rem nhiễu chảy, những chiếc bong bóng nhiều màu
bay ngập ngừng khỏi đầu người, những tiếng náo động
do số người đông đúc, những tiếng nhạc mang nhiều bản
sắc, những trò biểu diễn v.v.. Chicago
có nhiều cảnh đẹp và nhiều nơi chốn cần đến tham quan
để thưởng thức những nét đẹp của thiên nhiên và các
của công trình do con người phối hợp, tạo dựng. Ai chưa
đến, cũng nên đến một lần để chiêm ngưỡng dung nhan
của thành phố nầy. Hồ
Michigan trong xanh, hiền hoà, màu xanh biếc. gió từ khơi
thổi vào. Bây giờ, đã tháng 6 mà gió thổi cũng vẫn còn
mang hơi lành lạnh. .. dù không khí trong lành, dễ chịu. Tôi
chợt nhớ đã đọc được ở đâu đó vài câu hỏi nho
nhỏ: “
Người bạn đố mọi người
biết nước biển màu gì? -
tại sao ta lại nhìn thấy
nước biển có màu xanh??? ---------- Nước
mưa không màu nhưng mưa càng to nước mưa sẽ thành màu xám
bạc... Nước
mắt không màu nhưng nước mắt càng rơi sẽ thành màu sương
khói... Ngồi
trên chiếc du thuyền Odyssey trôi nổi trên bờ hồ Michigan.
Con gái tôi đã đặt chỗ trước cho gia đình để vừa thưởng
thức bữa ăn Brunch, cùng thưởng thức nhạc và ngắm cảnh. Tuy
thức ăn là lạ, đơn giản nhưng ăn thật ngon, có thể vì
không khí nhộn nhịp lẫn êm đềm trong khoang thuyền như có
cái gì rất lạ, rất quyến rũ. Những cơn sóng mấp mô đập
vào mạn thuyền, vờn mình, theo đuổi, ngẫng đầu trắng
xoá. Tiếng nhạc trổi lên của hai nguời nhạc sĩ: một
với chiếc đàn guitar, một với chiếc Keyboard hoà lẫn nhau,
thật thoải mái, ngang dọc..Lời ca, tiếng nhạc chảy róc rách
làm tâm hồn sảng khoái. Mọi
ưu phiền một lúc nào đó quên lãng, những nhăn mặt nhíu
mày biến mất, nụ cười hớn hở trên môi hiện rỏ trên
gương mặt của mọi người. Cùng
chạy lên sân thượng của du thuyền Odyssey. Ồ! Cảnh
Skyline hiện rõ mồm một. sừng sững những toà nhà cao ốc,
cao thấp xen kẻ ẩn trên nền trời trong xanh. Chung quanh
nhiều chiếc du thuyền khác xuôi ngược, phơi mình trên
mặt nước. Trời xanh, nuớc xanh…sâu thẳm, bung ra như làm
cho không gian lớn rộng, không biên giới. Nhịp thở của
trời đất cùng nhau hoà hợp… Mênh
mông là nước, xanh xanh sâu lắng, cười đùa. Vung tay là nước,
cười ra nước, hồn của nước non. Giữa khoảng không
nầy, không gì có thể bám víu. Trong
cuộc đời, có nhiều khi chúng ta rơi vào dòng nước chảy,
dù hồ, dù biển bao la, dù sóng ngùn ngụt…và giữa biển
đời không chỗ nương thân cho cái tâm lăng xăng, có người
thấy cô đơn, có người cười ra nước mắt, có người
trở nên thầm lặng, rút thân về tâm…để nhìn ngắm mây
trời thênh thang. Có người điên cuồng, lao vào vòng xoáy
để tìm những ngày đã mất, để vọng tuởng về một tương
lai xa gần nào đó với những hy vọng. Chúng ta lao đi như mũi
tên bắn vào khoảng không và tự lòng rơi vào tê tái,
buốt giá, trống rỗng, vì thực ra trong tâm vẫn đầy là
những nội kết, ưu phiền đã quấn ta trong đau khổ. Chúng
ta có không gian chung quanh và có quá đầy đủ, nhưng trong tâm
ý riêng lại luôn cho rằng không gian mình chật hẹp. Cho nên,
đòi hỏi không gian phải lớn hơn, phải rộng hơn vì đó là
bước đuờng cần phải đi, phải chiếm đoạt v.v…để
che lấp cho sự trống vắng của tâm hồn, trong lúc chỗ đó,
nơi đó cũng chứa đầy những tầm thường của thuờng
nhật được ta dán tên lên thành những gì cao đẹp. Đó là
nổi ao ước trầm luân của con người không có nhìn thấu
triệt về thực tại. Thực tại của vị lai không có,
thực tại của quá khứ không còn, chỉ còn chỗ “ không
“ là thực tại, vì bao chứa tất cả. Máu,
mồ hôi, nước mắt hay là những gì đi nữa theo sau những
mơ ước và ước mơ, chưa chắc hoặc chưa hẳn là những gì
bao chứa của thực tại.
Một
trong các bản nhạc của nhạc sĩ tài ba Trịnh Công Sơn,
trong lúc nầy đây, lại vang lên trong tôi ca khúc “ Biển sóng”.
“ Biển sóng , biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi
ngả dưới tim người…ngả dưới chân đồi”.
Có
thể vì nhìn chung quanh thấy đâu đâu cũng biển, cũng màu
xanh…Biển sóng lại tượng hình theo bản nhạc. Lời ca da
diết như tiếng thở, tiếng rên. Ai có thể xô chúng ta
ngả gục đầu trong cuộc đời nầy. Chỉ có chúng ta mơ màng
theo hình theo bóng, đuổi bắt những mờ ảo và để rồi
vụt mất, bay xa. Lời ca ảo não, rào rạt, bức xúc như
lời tâm sự. Dù chúng ta có kêu gào, than thở, chờ mong, nhưng
biển sóng vẫn vô tình, thản nhiên đưa đẩy mọi người
theo dòng đời, do chuyển lực. Biết
cuộc đời là khổ. Đó là một nhận thức phải tiếp
cận, đi vào và cần chuyển hoá. Bên kia cái khổ hay nói đúng
hơn- bản chất của khổ là Hạnh phúc. Chúng ta không
thể tìm thấy Hạnh phúc bất cứ nơi nào nếu không
chuyển hoá cái khổ. Có người không hiểu, dán cho nhản
hiệu là « thú đau thương », quên rằng do
những cảm xúc bùng nổ đó có thể làm hũy hoại đi cái
« bản tâm ». Tiền tài, danh vọng, tình yêu
v.v…có thể đầy con người đến chỗ bế tắc, sa đọa,
tranh giành, đấu tranh, chán nản, đau khổ …nhưng cũng từ
chất liệu đau thương nầy hay là bản chất thường tình
của con người, dấy lên cuộc cách mạng tâm linh quan
trọng chuyển đổi đời người qua sự chuyển hoá, chuyển
tâm, dấn thân làm lợi ích vì con người, vì các khổ nạn
đối diện. Mỗi
người đều có cái khổ. Khổ thân, khổ tâm, khổ vì
« bốn đại không điều hoà », khổ Đạo, khổ
đời, khổ gia đình, khổ chồng vợ, con cái, thân bằng
quyến thuộc, gia tộc, bạn bè…Cái khổ đeo dai dẳng như
hình với bóng. Có người đời sống tương đối hạnh phúc,
an lạc, nhiều điều kiện thuận lợi so với biết bao nhiêu
người khác, nhưng cũng ráng tạo ra cảnh khổ cho mình, cho
người thân v.v. để có cái khổ mà mình mong muốn, để
gọi đó là cuộc đời « C’est la vie » hay
« It is life » cho thêm phần nghiêm trọng. Khi
cái tâm bất an, lăng xăng chạy nhảy, chúng ta lại vô tình
hay cố ý tạo ra những tình huống khổ đau cho mình, cho người. Chúng
ta có thể nói rằng những thứ như: tài sắc danh thực
thụy- cái cốt lõi của con người bình thường- là vô nghĩa
trong cuộc đời đối với ta, bởi vì trong tay mình chưa
nắm, chưa có được gì hết. Cũng như khi có đầy đủ
tiền bạc, có sức khoẻ, có đủ thứ… ta rất dễ đại
ngôn, lên cao vút tận mây xanh như một bậc thượng nhân
thứ thiệt, « tám ngọn gió không xoay chuyển được
mình » ( trong lúc chỉ một ngọn gió bất thường
thổi qua, lại nhảy mũi, cảm mạo). Trong
lúc, thực tế rất quan trọng là chúng ta có dám chuyển hoá,
chuyển thành phương tiện thiện xào có ích cho thân - huệ
mạng của mình và người. Đó chính là sống thực. Đừng
bao giờ cho rằng tôi không bao giờ bệnh, không có đau khổ
v.v…khi mỗi ngày mình lại sống, ăn uống đầy đủ bổ
duỡng. Đừng bao giờ cho rằng mình thấy xót xa, đau khổ
của người, trong lúc mình chưa bao giờ cảm nhận được
đau khổ đó như thế nào, để cảm thông, chia sẻ. Đừng
bao giờ để một lúc nào đó, thân sẽ hỏi tâm rằng :
“ Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai?”= Hỏi rằng :
Khách nầy từ đâu đến vậy ?.(
1 ) .
Thân còn không biết mình là ai, rất xa lạ. Who are You ?
Vậy mình ai giữa trời đất nầy ? Hãy
nhìn những người dân của đất nước Iraq. Họ sống không
có một chọn lựa, chết chóc xảy ra từng giờ từng ngày
và không thể kiểm soát được. Họ đau khổ, than khóc,
mất nhà mất cửa, mất tất cả và còn chăng- chỉ là
tiếng khóc nhức buốt tự cõi lòng. So với nổi thống
khổ của họ, chúng ta có thấm thía vào đâu mà lên giọng
làm tàng là mình « đau khổ cùng mình ». Một
tháng trước đây, tôi thỉnh được một tượng Phật Thích
Ca cổ bằng gỗ. Tượng ngồi kiết già, an nhiên tự tại,
to cao lớn như một người khổng lồ. Lớp sơn ngoài đã tróc,
sần sùi, còn in dấu màu vàng thếp. Gương mặt Tượng
thật là đẹp, hiền hoà. Hiếm thấy một Tượng nào được
dáng dấp, gương mặt, mắt mũi, nụ cười, tư thế v.v…như
vây. Thực sự cũng không biết Tượng được tạo vào niên
đại nào, tuy nhiên, nhìn ngắm Tượng thì biết là Tượng
rất là xưa, xưa lắm và làm cho người chiêm bái cảm
thấy sự an lạc, ấm cúng, vì từ Tượng như chứa đựng
muôn vạn lời Kinh, bao tâm thành của khoảng thời gian nào. Trong
căn phòng vừa là thư viện vừa là chỗ thờ Phật, thờ
Tổ Tiên. Với lòng tôn quí, nên tôi thấy cần phải an trí
Tôn Tượng Ngài cho trang nghiêm, cho nên việc đầu tiên là
phải dời một kệ chứa sách để có khoảng trống cho Tượng.
Sau khi đã an vị Tượng và khi sắp xếp lại tủ sách cho
gọn gàng, thứ lớp, ngay ngắn. Bỗng một Tượng Phật khác,
chỉ là mặt Đức Phật được nung đúc bằng đá đỏ,
cứng chắc như khối đá, nặng khoảng 1 kg từ trên kệ sách
thứ 5 rơi xuống. Chắc chưa có ai bị búa đập đầu, vì
nếu đã từng bị thì sẽ biết cái đau như thế nào. À quên,
nếu búa đập đầu thì đã sống dưới lòng đất rồi, đâu
còn nói điều gì nữa. Có lẽ Tượng Phật đã chờ đúng
thời tiết, đúng nhân duyên…để rơi trên đỉnh đầu
của tôi, chứ không thèm rơi vào chỗ khác. Đau
quá, thật là đau kinh khủng. Tôi ngồi bệt xuống, người
tôi hoàn toàn bần thần, choáng váng, mất định tâm, đầu
tê rần rần, cứng người. Nuớc mắt tự nhiên chảy
xuống, tôi ráng sức lấy đôi bàn tay xoa xoa vào chổ đau,
vừa niệm chú, niệm Phật. Sợ bị bể sọ đầu. Không
lẽ mình ra đi bây giờ, chứ sao người như bị tê dại. Ai
mà chết lãng nhách như vậy. Chết phải chết đàng hoàng
cho ra vẽ, chứ ai lại chết vì Tượng Phật rớt trúng đầu,
mắc cở lắm. Hay là mình sẽ bị điên, bị tửng tửng, nhưng
nghĩ cũng không được nữa. Dù sao, đường đường là thân
« nam nhi chi khí », vào ra cữa nhà, í quên «
vào sanh ra tử », ai lại bị ra đi một cách vô duyên
quá vậy. Tôi
chợt nhớ người chị ruột, lớn nhất nhà. Lâu lắm rồi,
cả mấy chục năm đã qua. Trong một lần
chị em giỡn nhau, tôi chạy trước, còn chị thì
chạy đuổi theo sau, vô tình tôi làm rớt đồ và từ trên
cao, chiếc bình bông bằng sứ đang đuợc trưng trên kệ
bị rơi xuống, đúng ngay đầu chị tôi. Chị khóc tức tưởi,
ôm đầu, kêu đau. Tôi chỉ biết nói : « Xin
lổi chị » và thôi. Có lẽ lúc đó còn nhỏ quá,
mới 10 tuổi đầu, nên không ý thức được sư nguy hiểm
hay đau của cái đau bị đồ vật nặng rơi xuống đầu như
thế nào, nên trong bụng cũng còn nghĩ là chị cũng làm bộ
nữa. Một ý nghĩ vô cùng xấu, sai lầm. Vì sau đó, mỗi
lần trở trời, mưa gió, chị tôi hay bị đau đầu ?
Nay, chị đã không còn nữa. Duyên chị em ruột thịt chỉ còn
có trong một đời nầy và những kiếp sau, ai biết được ? Nay
ngồi đây, đau đớn vì bị khối đá nung rắn chắc nầy rơi
xuống đầu, tôi mới cảm thấy thấm thía cơn đau mà ngày
xưa chị bị và chịu đựng. Chỗ bị thương, sưng vù lên,
đè xuống chút xíu, sọ đầu bị lõm. Gặp vợ con tôi đi
chợ về, tôi vội nói là vừa bị Tượng Phật rớt trúng
đầu, tưởng chết rồi, nhưng đừng nói ai biết, kỳ lắm…
Thanh- vợ tôi, sợ hãi, chạy vội đến, lấy tay sờ lên đầu
để xem xét. Hai đứa con thì lo lắng, muốn đưa tôi đi
bệnh viện để chụp hình đầu, sọ xem sao, có nức hoặc
bễ sọ không, có bị máu bầm trong não không ?….Tôi nói
chắc không sao đâu, vì hiện giờ thì rất tỉnh táo. Có gì,
thì đã bị hôn mê rồi. Nhìn
những người thân lo lắng, sợ sệt…khi biết tôi bị như
vậy, lòng chợt dâng nhiều xúc cảm. Gia đình tôi là vậy,
nổi đau của người nầy chính là niềm đau của người,
chia sẻ từng chút một, từ tâm tình cho đến cuộc sống.
Chứ nếu mà thấy bị đau mà cười thì có mà chết. Ai đâu
cười trên sự đau khổ của người khác, phải không ?
Nhất là người đó lại là thân của mình. Người ngoài mình
không dám làm vậy, huống chi là người nhà, tàn nhẫn lắm…. « Người
cười khi thấy tôi đau. Tôi đau khi thấy người đang mỉm
cười ». May mắn là gia đình ai nấy đều lo lắng,
quan tâm đến. Tuy
nhiên, cho đến hiện giờ, chỗ sưng đã không còn, nhưng
chỗ lõm trên sọ vẫn còn đó. Sờ nhẹ lên trên, người
như bị nổi gai, tê rần ? Khi trời mưa gió, người hơi
bị tê, đầu nặng. Chắc không đến nổi nào? Chắc không
sao ? Dù gì thì cũng đã mãn nguyện khi sống rồi, chỉ
mong rằng khi mình ra đi biết trước ngày giờ để sắp
xếp mọi chuyện, để cám ơn mọi người, để nhiếp tâm
cho hướng đi mới. Nhìn
dòng nước chảy, xanh biếc, bập bềnh theo thủy triều lên
xuống, hiện rõ bóng dáng vô thường của cuộc đời. Sự
vô thường làm cho cuộc đời thật đẹp, đẹp hơn, vì
sẽ mang lại cho chúng ta sự trân quí cuộc đời nầy và
sẽ sống sao cho ý nghĩa…. Có
một bài thơ được sáng tác vào năm ngoái 2006, khi quán
chiếu thấy cuộc đời huyễn mộng. Có những thứ vượt
khỏi tầm tay, xa rời, không thực. Cảm nhận đầy đủ
sự vô thường của đời sống, tâm tôi thắt lại, bóp nát
rơi rụng những vần thơ tuôn chảy :
Trong
một bài kinh, Đức Phật cho ví dụ về cái thân xác như là
ta có 4 bà vợ : có bà vợ được ta săn sóc, nâng niu,
lo lắng từ cái ăn, cái mặc. Có
bà vợ được săn sóc về sức khỏe, bệnh hoạn v.v…Nhưng
tất cả sẽ rời bỏ ta đi như một cơn gió thoảng, để tìm
một thân hình mới, đẹp, trẻ trung hơn. Còn thân chúng ta
hiện giờ thì già cỗi, héo tàn theo gió bụi phong sương,
theo thời gian dài chồng chất. Chúng ta nghĩ sao khi một lúc
nào đó, được báo động rằng : « Thôi bye
bye nhé. You già rồi, tôi cần một thân xác khác, mới lạ,
đẹp hơn You nhiều lắm… ». Những
lời nói được xuất phát từ cái thân mà chúng ta đã bao
năm săn sóc, cúc cung, tận lực, phục vụ…bằng tất cả
tấm lòng thương yêu, quí mến và giờ đây, muốn từ giả
ta ra đi, vì lý do nầy hay lý do khác… « Không. Không.
Tôi không còn, tôi không còn yêu You nữa You ơi ! »
( Xin lỗi Nhạc sĩ Nguyển
Ánh Chín vì đổi lời nhạc « Không » ). Thật
là thấm thía. Thật là chua xót….cho cái sự vô thường,
biến đổi nầy. Có phải bên đời nầy là một trường
ảo vọng, nối tiếp, biến chuyển. Sau lớp cây già vẫn còn
ẩn tàng của tuổi thơ năm nào, đã được chúng ta chăm sóc,
yêu thương, dung dưỡng, nhưng rồi chỉ như là dòng nước
vô tình, vô thường lặng lờ chở ánh trăng.
Chấp
vào thân, chấp vào những gì mình sở hữu, vào những nội
kết giăng bủa bước chân, vào những tấm lòng đối xữ tương
duyên qua bao thời gian đi theo v.v…chúng ta sẽ đau khổ. Dù
chúng ta có kêu gào, có đập đầu vào gối khóc than, có
uống nước ngọt Coca Cola để tự tử ( Ghi chú: Người
bị tiểu đường uống không đưọc
nước ngọt), dù có xức dầu cù là, dầu xanh vào
mắt cho nước mắt chảy xuống ròng ròng cho tha thiết, ỉ
ôi…nhưng tất cả sẽ phản bội ta để ra đi khi đúng
thời gian.
« Ôi đời người, chỉ dài có một hơi thở ».
Thở vào mà không thở ra, thì đời sẽ có muôn màu, muôn
sắc bong bóng, vì hoa mắt, ngộp thở và nhắm mắt xuôi tay.
Chết sẽ không còn thở và nằm im, bất động và có bị
thọt lét cũng không thèm cười. Không ai vực dậy một thây
ma đã chết để luyến thương, tiếc nuối, để làm những
trò hề. Chỉ có chúng ta không ý thức được thân mạng
cao quí của con người nên mới làm trò hề trên thân tâm
của mình.
Thời
gian trước, là một người sinh ra trong một gia đình theo Đạo
Phật, bình dân và không hiểu gì về Phật Pháp. Nhưng khi
lớn lên, lúc còn là sinh viên, tôi lại đến với Đạo
Phật bằng sự nghiên cứu và tu học. Khi bắt đầu nghiên
cứu về Đạo Phật, tôi cứ hay bị bâng khuâng, thắc mắc
hoài về Tứ Diệu Đế. Rồi sau đó, khi đọc đến Kinh Pháp
Hoa nói về : « Ba cõi không an giống như nhà
lửa », và « Ái
hà thiên xích lãng. Khổ ải vạn trùng ba »
cũng
như cho đến khi biết đến câu trong Kinh Bát Đại Nhân
Giác :
lòng
càng mang nhiều nổi ưu tư, muốn đi sâu vào tận suối
nguồn của bản Kinh. Lời Kinh rất rõ ràng, trong sáng, dễ
hiểu, nhưng đi vào nội dung, cảm thấy như cách xa vạn
dậm. Tuy nhiên, càng về sau, khi cuộc đời đã trải qua bao
nhiêu phong trần biến đổi. Quán chiếu lại đời, mới
cảm thấy thấm thía và tường tận về nội dung của Kinh
dạy.
Làm
sao biết là khổ, biết là ba cõi không an, hay là…là…khi
mình không nắm bắt được bản chất của cuộc sống. Như
vậy, những gì được diễn tả trong kinh điển không phải
là thực tại, mà chỉ được trình bày, chỉ thẳng đến
tiêu đích, như ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thể nhập vào
thực tại, vào nội dung Kinh, thì phải chứng nghiệm đuợc
lời Kinh. Bằng cách nào ? Bằng hành trì, bằng
sống với, trực nhận với. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên
khi biết rằng là Đạo Phật là Đạo của thực hành, của
sống. Kinh nghiệm, thực nghiệm, nhận thức, sống thực v.v…là
vươn mình lên trên những nội kết đã bao đời chất
chứa, dù tịnh dù nhơ, dù đau khổ, dù hạnh phúc và từ
đó, mầm sống thực mới có mặt. Đoá sen được mọc lên
từ bùn nhơ và bùn nhơ lại chính là tất cả những nội
kết, chất liệu làm cho bông sen thanh khiết, vi diệu, trong
sáng. Không có những chất liệu nầy, không thể có đoá
sen tuyệt đẹp. Trong
Kinh Phật thuyết Kinh Di Đà, chúng ta nhận thấy rằng chư
Phật trong mười phương đã đồng ca ngợi Đức Phật Thích
Ca là một vị Giác ngộ đã làm một việc vô cùng khó khăn,
hiếm có là vào cõi đời Năm trược: « Kiếp trược,
kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược »,
thành Phật và giáo hoá chúng sanh. Nhưng, chúng ta cũng cần
hiểu rằng : Tất cả chư Phật đều thành Phật từ
nơi các cõi khổ đau, bất tịnh. Đó chính là nét đẹp
tuyệt vời của Đức Phật và Đạo Phật.
«
Là đệ tử Phật thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc
tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đã
giác ngộ. -
Thứ Nhất
là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, chế độ chính
trị nào cũng dễ xụp đổ, những cấu tạo của bốn đại
[1] đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người
do tập hợp của năm ấm [2] mà có, lại không có thực ngã,
sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có thực
quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là nguồn suối phát sinh
điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội
lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi
sinh tử. -
Thứ Hai
là giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng nhiều
khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều
do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì không
bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm mình
được thư thái. -
Thứ Ba
là giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi không
bao giờ biết chán cho nên tội lỗi cũng theo đó mà càng ngày
càng lớn. Các bậc Bồ Tát [3] thì khác hẳn: họ luôn luôn
nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với đạm bạc để
hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là sự
thực hiện trí tuệ giác ngộ. -
Thứ Tư
là giác ngộ rằng tính lười biếng đưa đến chỗ đọa
lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo, phá
giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, và ra khỏi ngục tù
của năm ấm và ba giới [4]. -
Thứ Năm
là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam hãm
trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thì thường xuyên nhớ
rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt
được biện tài để giáo hoá cho mọi người, để cho
tất cả đạt tới niềm vui lớn. -
Thứ Sáu
là giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta sinh ra
nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm
những nhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên
tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua
những điều ác mà người khác đã làm đối với mình và
không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác. -
Thứ Bảy
là giác ngộ rằng năm thứ dục vọng [5] đã gây nên tội
lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy là người sống
trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục, thường
quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếc áo cà
sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí,
rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để
hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi
để tiếp xử với tất cả mọi người. -
Thứ Tám
là giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nên mọi
loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy cho nên
ta phải phát tâm Ðại Thừa, nguyện cứu tế cho tất cả
mọi người, nguyện thay thế cho mọi người mà chịu khổ
đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt
tới niềm vui cứu cánh. Tám
điều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đại
nhân, Phật và Bồ Tát; những vị này đang tinh tiến hành
đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân
đến được Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độ
thoát cho chúng sinh, họ đều dùng tám điều giác ngộ ấy
để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến chúng
sanh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ
được ngũ dục và hướng tâm vào con đường thánh . Nếu
đệ tử Phật mà thường đọc tụng tám điều này thì
mỗi khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới
giác ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với
sinh tử, thường trú trong sự an lạc » ( * )
Một buổi chiều, sau khi đi làm về nhà và ngồi
viết những trang giấy nầy như viết những lời tâm tình.
Viết, ghi chú và đọc lại lại lời Kinh mà năm xưa Đức
Phật đã dạy, lòng tràn trề nổi lòng qui kính, tưởng
nhớ đến Đấng Cha Lành với tất cả tấm lòng yêu thương
mà Ngài đối với muôn loài chúng sanh.
Đức Phật- Từ tuổi thanh xuân, chứng Đạo
quả và suốt những năm dài trên mọi nẻo đường, một
chiếc y, một bình bát…đoạn đường dài đến 49 năm,
dấu chân của Ngài không mệt mỏi, dù sau nầy thân đã già
yếu của tuổi đời 80. Là
người Phật tử, nhưng đọc lại nhiều bài Kinh, chúng ta
chảy nước mắt. Cuộc đời của Ngài quá đơn giản như tâm
địa bao la của Ngài. Có những bài Kinh kể rằng, sau khi đi
khất thực trở về Tịnh xá, Ngài xúc miệng, rữa tay và
ngồi xuống trên tấm bồ đoàn và những lời Kinh được
giảng ra từ lúc đó, tuôn tràn những trận mưa Pháp. Có
những khi Ngài tự thuyết vì thấy ích lợi cho mọi người,
có khi là thuyết Pháp khi có người thưa hỏi. Tấm lòng đó
cao cả quá, dày đặc như cả vũ trụ bao la, chúng ta
lấy gì để báo đáp ? Thân
thể do cha mẹ sanh ra, nhưng thân huệ mạng là do những
tấm lòng của những Bậc Thánh nhân đó dạy dỗ, trao
truyền. Ân đức nầy, chúng ta trả ra sao? Những người con
Phật, Phật tử như chúng ta với bao gánh nặng Đạo và Đời
trên đôi vai, do duyên lành từ nhiều đời nhiều kiếp, may
mắn gặp được Phật-Pháp-Tăng và chuyển hoá đời sống
của nội tâm, để mong thoát ra khỏi những đau khổ của
kiếp người, nhưng chúng ta sẽ làm gì cho Đời, cho Đạo ? Trong
cuộc đời hiện tại, chúng ta thừa hưởng và có quá đầy
đủ về mọi mặt. Về vật chất, chúng ta sung sướng hơn
người xưa cả vạn lần, thần thông biến hoá đủ thứ
được xử dụng trên cõi đời nầy, muốn gì có đó ;
nhưng tâm hồn chúng ta thì sao ? Có
nhiều người nói về tôi rằng không hiểu biết về Phật
Pháp. Cuộc sống anh đầy rẫy sự vuớng mắc, chấp trước
từ vợ con, danh vọng, tiền tài, nhà cao cửa rộng, tham sân
si còn đầy đủ v.v. và v.v., thì làm sao mà tu ? làm sao
mà làm lợi ích gì cho con người ? Thưa
vâng,
những lời nói đó thật đúng hoàn toàn. Đã bao lần, trong
cuộc đời, đối diện hay gặp phải nhiều giông bão, mưa
gió. Đây là nói về những gì xẫy ra trong đời sống,
chứ không phải là mưa bão hay giông tố mưa to của thời
tiết, vì nếu là giông bão thì tôi đã di tản đi nơi khác
để lánh nạn rồi hoặc nếu bị mưa to gió lớn thì đóng
cữa ở trong nhà cho yên thân. Nhưng đây là nói về những
xáo trộn của nội tâm, của đời sống, những bất
hạnh đổ ập tới ….tôi có đủ cả những thất tình
lục dục để đối đải, để đau khổ, để xúc cảm
v.v..nhưng tự trong tâm lại buông những lời thành tâm sám
hối. Sám hối những gì tôi đã gặp phải trên đường đời.
Sám hối những đau khổ, đắng cay, chua xót… mà có những
người đem đến cho tôi với tất cả sự thành thật nhất
mà mình có được và cầu xin cho mọi người đều thoát ra
khỏi những nghịch cảnh như tôi đã gặp. Trong
Pháp thân ( Dharmakaya= Dharma body ) của Phật, bàng bạc
thực tại và là thực tại, là « nguyên ngôn »
v.v…có nghĩa đồng thời tương duyên tương sanh theo Lý Duyên
Khởi, cũng có nghĩa là « Một tất cả, tất cả là
một ». Tôi
có một Đạo Phật của tôi và tôi có quyền đó theo quan
niệm và nhận thức của riêng mình. Trong « vô
thức tập thể = Collective Unconscious » của muôn
loài, bàng bạc, ẩn hiện tánh Phật, một thực tại sáng
suốt và tương duyên tương sinh. Tất cả đều liên hệ
lẫn nhau, hổ tương lẫn nhau và đã bao lần chúng ta cầu
nguyện, hồi hướng : « đệ tử và chúng sanh
đều trọn thành Phật đạo » hoặc « tình
dữ vô tình, đồng thành Phật Đạo ». Xé lẻ bầu
trời, chia ra làm nhiều mảnh thì chúng ta chỉ có một không
gian nằm trong lòng bàn tay. Hãy để bầu trời mở rộng,
bầu trời sẽ thênh thang, bao la vô tận. Thời
buổi hiện nay, là thời của thị trường, của marketing.
Tất cả đều cố gắng định số trên data, trên số lượng.
Nhìn bề mặt, đó là khối lượng lớn, nhưng đi vào
chiều sâu, đó là môt sự nguy hiểm. Cái bản chất, cái
nội dung là cái hồn của sự kiện, còn dữ kiện chỉ
là một đáp ứng, có thể đưa đến bội thực….như viên
đá rơi trong hồ nước, làn sóng sẽ lan, lan rộng…nhưng
quan trọng vẫn là bản chất giác ngộ, giải thoát của
nuớc.
Bạn
ạ ! Đã bao lần tôi đã chết gục trên dòng sông định
mệnh, dòng sông của cuộc đời, của nội kết, của bao ngày
qua. của những vọng niệm lăng xăng. chết để cho con người
mới sống lại, thay đổi, từng giờ từng phút. chết đi
để những hoạt cảnh cũ sẽ chỉ là những chất duỡng
tố bồi đấp cho dòng sống mới…
Là
người con Phật, tôi học hỏi hạnh khiêm cung với lòng
trung thực “có sao, nói dzậy người ơi”. Tôi chỉ
là một Phật tử đơn thuần, giản dị, mộc mạc và không
hiểu nhiều về giáo lý cao xa. Lại là người có gia đình,
vợ con, lo chạy ăn từng bữa. Những lời giảng dạy nào
của Thầy Tổ, của Đức Phật, tôi chỉ tóm lược và áp
dụng được chút nào hay chút đó. Nhớ lời Phật dạy: “
Con hãy là hòn đảo của chính con” và qua gương
hạnh của Ngài, tôi tập tễnh để bắt chước. Đằng sau
cái giả tạo của sự bắt chước nầy, mong rằng sẽ trở
thành nhát cuốc đào sâu vào nội tâm để trở thành hiện
thực. Bạn
có thể là người thông thái, học rộng hiểu nhiều. Có
thể bạn đang bay bổng trên mọi phương trời, từ vật
chất đến tinh thần. Bạn đang làm những việc vô cùng to
lớn, tôi thật mừng cho bạn vì bạn có đầy đủ phước
báu, đầy đủ mọi phương tiện v.v…để làm và hãnh
diện. Còn
tôi, là một người “cùng tử” đã lang thang qua bao
nhiêu kiếp và nay được làm con người, nên khi áp dụng Đạo
Phật vào đời sống, lại giản lược để ứng dụng trong
cái vụng về, giản dị, dễ hiểu. Có gia đình, tôi ráng
sống trọn vẹn cho gia đình, vì tôi nghỉ rằng nếu gia đình
xáo trộn, bất an…thì chính lúc nầy, tôi đã không có
hạnh phúc. Và không có hạnh phúc, an lạc, tôi sợ những gì
cho ra của tôi cũng đầy như tâm niệm không hay, không tốt.
Còn
nếu như con cái, những thân duyên ruột thịt của tôi, không
nên người, không thành nhân và bê tha, tôi sẽ có nhiều
bất an, lo lắng. Như thế, làm sao tôi có thể cống hiến
những gì ích lợi cho các đàn trẻ nhỏ khác. Bạn có thể
nói tôi chấp nhất, sợ hãi vu vơ, sợ nầy sơ kia sợ nọ
và sẽ không làm gì được có lợi cho Cộng đồng, nhưng
bạn nghĩ sao nếu tâm tôi đang có nhiều vấn đề, nhiều
vấn nạn hoặc như mang nhiều tánh si tham sân, tranh giành
quyền lợi, danh vọng v.v..và sẽ đem những vấn nạn đó
cho cuộc đời, tôi thấy không ổn. Con
người tiền sử đã bắt đầu kết đoàn khi ý thức sự
nguy hiểm rình rập của môi trường chung quanh và tư tưởng
thành lập những đoàn thể cũng thành hình. Đó cũng là
sự kết hợp của gia đình. Gia
đình trở thành quan trọng trong xã hội, vì đó là nền
tảng của xã hội. Mỗi quốc gia kết hợp, thành hình bởi
nhiều con người và tất cả con người đều từ gia đình
mà ra. Giữa một xã hội quá nhiều biến động, thay đổi
và những biến chuyển đều ảnh hưởng và tác động đến
con người. Con người dù ở đâu, bất cứ mội trường nào,
đều mang dáng dấp của gia đình- một sự kết đoàn của
những nhân tố là con người. Có
nhiều chủ thuyết cố phá bỏ gia đình và tạo điều
kiện biến con người thành những động vật, nhưng thất
bại. Tôn giáo mà có nhiều người cho là “thuốc phiện
ru ngủ con người”, chính là vì muốn đẩy con người
theo một hướng nào đó, một lý tưởng nào đó…mà đôi
khi với những tiêu đích xa vời, huyễn hoặc. Đạo
Phật ngược lại, vì nhận thức con người là thiêng liêng,
tối ư quan trọng và con người từ gia đình mà có mặt, nên
hướng đi của Đạo Phật là trình bày cho con người phương
pháp đưa “ tâm trở về thân”. Từ nền tảng nầy,
con người chuyển hoá thành đời sống tâm linh của mình, xuất
thế- xuất khỏi phiền não, những tâm địa xấu ác,
những tạp nhiễm v.v…và đi vào thế cuộc, vào đời
sống của con người, của gia đình, của xã hội, đem
những sức sống tâm linh nầy để chuyển hoá, xây
dựng như lý tưởng : “đồng thành Phật Đạo”. Trong
Đạo Nho cũng có quan niệm, tinh thần về “Xuất” và “Sử”,
làm thành nền tảng cao đẹp của con người. Như trong Đạo
Lý Người Xưa kể rằng: “
Khi Khổng Tử hỏi học trò của Ngài
về : Thế nào là người Trí? Thế nào là người Nhân?. -
Tử Lộ nói: Người Trí là làm cho người ta biết đến mình;
người Nhân là làm thế nào để cho người ta yêu mình. -
Tử Cống nói: Người Trí là biết người; nguời Nhân là yêu
người. -
Nhan Hồi trả lời: Người Trí là người tự biết mình; người
Nhân là người tự yêu mình. Khổng
Tử khen Tử Lộ và Tử Cống là người có học vấn. Còn
riêng về Nhan Hồi thì được khen ngợi
rằng: Đây mới đáng gọi là Bậc Sĩ Quân Tử, vì cái Trí
và Nhân nầy bao trùm cả muôn loài, muôn vật. Bởi vì xét
người thì dễ, còn xét mình thì rất khó. Nhân thì lấy
chữ Tâm làm đầu, nên không tự yêu mình, không chuyển đổi
những nội kết khổ đau, những phiền não, ganh tị, oán
hờn v.v…đã làm khổ mình, thì làm sao có thể yêu thưong
những người khác được”.
( Trích “Đạo lý người xưa” do Hồng Khanh - Kỳ
Anh biên soạn) Gia
đình là nhịp đập trái tim, là duyên nợ mà tôi cần
phải chuyển hướng theo tinh thần Phật Pháp, vì tôi là
Phật tử và những người thân đó đều là những vị
Phật sẽ thành. Làm sao cân bằng giữa đời sống Đạo và
Đời? Tôi chỉ mong phải làm sao, khi lìa bỏ thân nầy ra đi,
sẽ thấy mình mỉm cười vì đã sống trọn vẹn với tình
với nghĩa. Văn
hoá Việt Nam nói rằng: “Một bồ cái lý, không bằng
một tí cái tình”. Trên
vũ trụ nầy, không có con người thì tất cả đều là vô
nghĩa, trống rỗng, vô hồn và do đó, Đạo Phật được
gọi là Nhân bản, vì đặt nặng vị trí nơi con người. Thánh
Gandhi nói rằng: “ Be the change you wish to see in the world”,
tôi ứng dụng Đạo Phật theo “cặp kính màu” của
mình ( như GS. Võ Đình Cường nói), có lẽ đó là điều không
hài lòng và không đúng với bạn. Có
khoảng không gian, thời gian lo cho gia đình, dạy dỗ con cái,
hướng thiện. Có chua xót, đau khổ, cảm thông khi thấy
những hoạn nạn, khổ đau của người khác vì mình từng
bị đau khổ, nên cũng đóng góp chút chút cho xã hội, cho
con người. Dành chút thời gian để tu tập, để áp dụng
những lời dạy của Đức Phật vào đời sống hàng ngày và
theo nhận xét của bạn, như thế thì tôi phải qua vô lượng
kiếp nữa mới hiểu, mới biết mùi vị Đạo và giải thoát
được. Tôi thực sự may mắn như vậy sao? Tôi
chỉ là người làm vườn, săn sóc vườn tâm của mình, sau
những ngày giờ lo sinh kế. Không tận diệt si tham sân, nhưng
mong lấy những chất liệu làm nên si tham sân, chuyển hoá và
tạo thành phân bón nuôi dưỡng tâm. Hoa sen tâm chỉ mọc
từ bùn nhơ, nở hoa và toả hương thơm ngát. Không có
những chất liệu bùn nhơ, sẽ không có một cánh sen đẹp.
Không có những chất tố cấu tạo nên một con người, do
si tham sân, do thất tình, lục dục và được chuyển hoá để
làm nên duỡng chất để nuôi tâm, thì chúng ta sẽ có một
bông sen bằng nhựa, bằng plastic. Không
có đau khổ sẽ không có hạnh phúc. Không có phiền não,
sẽ không có Bồ Đề. Tất cả những công trình văn hoá,
những công trình văn minh, tâm linh cao quí của nhân loại để
phục vụ con người, phục vụ cho trái
đất và làm cho tất cả có ý nghĩa kỳ diệu đều
đến từ chất liệu được chuyển hoá nầy. Theo
đà tiến hoá của nhân loại, với sự kiện toàn cầu hoá
và đến một lúc nào đó, biên giới giữa các quốc gia
sẽ ngắn lại, chan hoà. Tất cả các tôn giáo sẽ biến đổi
theo hướng của nhập cuộc với trào lưu tiến hoá của nhân
loại. và sẽ có những tôn giáo bị đào thải, nhất là
những tôn giáo độc thần, mang tính giáo điều, cuồng tín
đã bao lần đưa loài người vào những thảm cảnh đau thương,
khổ nạn, chiến tranh. Loài người sẽ sáng mắt ra, đem trí
tuệ nhìn tận được nguồn cơn, nguồn gốc đã làm cho
chiến tranh, hận thù, chém. giết lẫn nhau, giữa con nguời,
dù với bất cứ lý do nào. Chúng
ta không nói như Nhất Chi Mai: “Sống mình không thể nói.
Chết mới nói được ra lời”, mà phải nói từ bây
giờ, khi còn sống. Đạo Phật sẽ trở nên phổ quát,
biến rộng. Phật giáo của kinh viện không còn, mà chỉ
lại những con người hành đạo. Bởi vì loài người đã
kinh qua một sự đau khổ tận cùng, nên ý thức rõ tôn giáo
nào có giá trị ích lợi cho con người. Con
người văn minh, tiến hoà là con người đối thoại. Tôn giáo
nào thực sự mang lại an lạc, hoà bình cho con người, cho
muôn loài, thì tôn giáo đó cũng phải đối thoại, với bao
dung, với trí tuệ và từ bi Con
người hành đạo chính là sống với những gì mà mình kinh
qua, nhận thức thấu đáo và cảm nhận được trung thực
những điều đó và có an lạc. Đó là kinh nghiệm và sống
với thực tại. Sự hành đạo,
sống Đạo cũng chính là sự truyền đạo đúng nghĩa nhất.
Vì đó chính là mạng sống tâm linh của mình, của mọi người,
phải không bạn? Ngày
11.07.2007 ______________________________________________ 1- Trong “ Hồi hương ngẫu thơ” của Hạ Trí Chương.
(2) Bản
dịch và Chú thích của HT. Thích Nhất Hạnh: Chú
Thích :
Bốn
Ðại là bốn nguyên tố hay là bốn chất cấu thành vũ
trụ. Bốn đại gồm có: Ðịa đại, Thủy đại, Hỏa đại,
và Phong đại. Năm
ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sắc là thân
thể có hình có sắc. Thọ là cảm thọ vui buồn. Tưởng là
tri giác bằng hình ảnh tưởng tượng lại. Hành là dụng tâm
làm việc này hay việc khác. Thức là phân biệt, hay biết.
Năm ấm cũng còn gọi là năm uẩn.
Bồ
Tát là dịch âm từ chữ Phạn, dịch âm đầy đủ là Bồ
đề tát đỏa, có nghĩa là giác hữu tình Bồ Tát là người,
sau khi tin Phật, học Phật, phát nguyện tự độ, độ tha,
thậm chí hy sinh cả bản thân mình để cứu giúp người.
Muốn làm Bồ Tát trước hết phải có tâm nguyện lớn,
chủ yếu là bốn lời nguyện:"Chúng sinh vô biên thề
nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn
vô lương thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ
nguyện thành". Mọi người từ khi phát tâm cho đến khi
thành Phật được gọi là Bồ Tát, vì vậy mà có phân ra
Bồ Tát phàm phu và Bồ Tát hiền thánh. Các vị Bồ Tát
được nói tới trong các kinh Phật thường là các vị Bồ
Tát hiền thánh.
Ba
giới là dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, là ba cõi
sống của chúng sinh: Loài người thuộc về dục giới, cõi
sống của chúng sinh còn có lòng tham dục. Sắc giới là cõi
sống của loài Trời. Ở cõi Trời sắc giới này, chúng
sinh đã thoát khỏi mọi lòng dục, nhưng vẫn còn sắc thân.
Vô sắc giới là cõi gồm những chúng sinh, không những không
còn có lòng dục mà cũng không còn có sắc thân nữa, chỉ
còn có tinh thần thuần tuý mà thôi. Năm thứ dục vọng là năm thứ ham muốn: sắc, thanh , hương , vị, và xúc .
|