Ðức Phật, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và Chất Sống Mầu Nhiệm

                          Thích Nhật Minh (chùa An Lạc, Sàigòn)
 

      Từ ngữ "Ðức Phật" là danh hiệu của một bậc giác ngộ có tên trước đó là Siddhartha Gautama sống vào một hoàn cảnh lịch sử tại Ấn Ðộ cách đây trên 2500 năm.  Vậy nhân cách lịch sử của bậc thầy đó và cuộc đời Ngài có một liên hệ gì với con người hôm nay không? 

      Con người thời nay đang theo đổi những trào lưu tiến bộ torng một thế giới mới và đạt được tầm hiểu biết vượt bực nhưng tại sao nỗi khổ vẫn tiếp tục đè sức nặng của nó lên suốt lịch sử con người.  Tìm hiểu câu trả lời này đã làm cho nhân cách Ðức Phật trở nên thuyết phục trong thế giới ngày nay cũng như trong qúa khứ đã từng là nguồn suối tâm linh nuôi dưỡng văn hóa Ấn Ðộ qua một thời gian dài.  Ðể thưởng thức hương vị Chánh Pháp, chúng ta bắt đầu đọc một đọạn văn ngắn trích từ phẩm Phổ Hiền, phẩm thứ 28 của bộ Kinh Pháp Hoa:

      "Này Phổ Hiền!  Bất cứ ai nếu thọ trì, đọc tụng Kinh Pháp Hoa này; nhớ nghe đúng, học hỏi, biên chép, thì phải xem người ấy thấy Ta và nghe Kinh từ miệng Ta nói."

      Qua đó, người ta quán chiếu từ dòng văn trên xuất hiện hai thế giới liên hệ với nhau: một là, thế giới tích môn của Ðức Phật lịch sử và hai, thế giới bản môn của Ðức Phật pháp thân cùng với con đường tiến từ tích môn đến bản môn.

      Nói về thế giới tích môn là nói về Ðức Phật lịch sử.  Theo sử liệu ghi lại, Ðức Phật đản sinh tại Lumbini, vào năm 623 trước dương lịch, giữa hai cây vô ưu đang mùa trổ hoa.  Tại nơi đây, 375 năm sau, hoàng đế A Dục (Asoka) đã dựng một trụ đá kỷ niệm ghi lại chứng tích lịch sử.  Khi còn là thái tử, Siddhartha Gautama là tên thật của Ngài.  Phụ vương là Suddhodana có sức mạnh như vị thần Indra, trị vì một tiểu quốc dòng Thích Ca, bấy giờ thuộc Népal.  Hòang hậu Maya có tâm hồn tinh khiết như hoa sen, là mẹ của Ngài.  Theo phong tục Ấn Ðộ thời ấy, Thái tử kết hôn với một công chúa tên là Yasodhana (Da Du Ðà La) lúc mới 16 tuổi và sống một đời sống xa hoa trong những cung điện thật tráng lệ.  Nhưng bỗng nhiên, khi giáp mặt thực chất cuộc đời và nỗi thống khổ của con người, Ngài quyết định đi tìm một phương cách giải quyết - con đường dẫn đến giải thóat vĩnh hằng.  Năm 29 tuổi, khi đứa con trai La Hầu La (Rahula) ra đời, Thái Tử rời vương quốc yêu dấu, vượt thành Ca Tì La Vệ vào nửa đêm.  Bên dòng sông Anoma, Ngài cắt tóc và trở thành một đạo sĩ khổ hạnh đi tìm con đường giải thóat.

      Trong thời gian 6 năm, đạo sĩ Gotama vân du đó đây trong vùng thung lũng sông Hằng tìm gặp các đạo sư lừng danh như Akara Kalama, Udraka Ramaputra để học hệ thống giáo thuyết và pháp môn tu đạo và đắm mình vào cuộc sống khổ hạnh rất khắc nghiệt theo truyền thống Ấn Ðộ.  Cuối cùng tất cả đều không thỏa nguyện của Ngài, vì thế Ðạo sĩ Gotama đành phải từ bỏ những truyền thống tôn giáo và phương pháp tu tập kia và chọn một con đường mới cho riêng mình.  Ngày nọ, khi sao mai vừa mọc ở phương Ðông, dưới gốc bồ đề bên dòng sông Ni Liên tại Bodh Gaya (nay là Bihar), lúc ấy 35 tuổi, đạo sĩ Gotama đạt quả vị chánh đẳng chánh giác.  Ðây là một biến cố trọng đại không những chỉ cho lịch sử Phật giáo mà còn là một vai trò quan trọng trong lịch sử tôn giáo thế giới.

      Với tuệ giác vô thượng, trong suốt 45 năm, Ðức Phật đã thuyết giảng phần lớn trên đất nước Ấn Ðộ bao la.  Nhìn vào lịch sử thuyết pháp của Phật, Trí Giả đại sư (538-547) vốn là người sáng lập tông phái Thiên Thai ở Trung Hoa, dựa trên trình tự trong thời gian đó, đã phân chia giáo pháp Phật thành 5 thời: 1) thời Hoa Nghiêm, 2) thời A Hàm, 3) thời Phương Ðẳng, 4) thời Bát Nhã, và 5) thời Diệu Pháp Liên Hoa và Ðại Bát Niết Bàn; nhưng căn cứ trên nội dung kinh Pháp Hoa thì lúc bấy giờ có ba khuynh hướng tu học trong đạo Phật: khuynh hướng đầu là khuynh hướng thanh văn, thứ hai là khuynh hướng duyên giác, và thứ ba là khuynh hướng Bồ Tát; tuy nhiên đây cũng chỉ là phương pháp thuyết giảng tùy cơ để mở (khai), chỉ ra (thị), làm cho thấu đáo (ngộ), đi vào làm một (nhập tri kiến Phật) qua con đường cuối cùng là Phật thừa và thông điệp sấm sét đầu tiên của kinh Pháp Hoa chính là đây:

      "Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất, 'Các vị Phật Như Lai nếu hướng dẫn và giáo hóa cho các vị Bồ Tát những điều mà thực tập, là chỉ quay vào một việc là đem cái thấy của Phật mà chỉ cho tất cả lòai chúng sanh thấy, để họ cũng có thể tỏ ngộ được như Phật.  Này Xá Lợi Phất, Ðức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà nói Pháp cho chúng sanh, không có thừa thứ hai và thứ ba."

      Như vậy con đường khai thị ngộ nhập tri kiến Phật là con đường dẫn từ thế giới tích môn vào thế giới bản môn, có nghĩa là chuyển dẫn từ thế giới của khái niệm đến thế giới vô ngã - thế giới thóat ra ngòai thời gian và không gian.  Nói theo kinh Pháp Hoa một cách thơ mộng, đó là thế giới của tháp Phật Ða Bảo xuất hiện trong không trung diễn tả pháp thân Phật trong phẩm Hiện Bảo Tháp của kinh Diệu Pháp Liên Hoa:

      "Lúc bấy giờ Phật Thích Ca Mâu Ni thấy các vị Phật phân thân của mình đến đầy đủ, ngồi trên tòa sư tử và tất cả có ý muốn đồng mở tháp báu của Phật Ða Bảo, tức thì Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trụ trong hư không và sẵn sàng mở tháp.  Lúc bấy giờ mọi người đều đứng dậy vì đây là giờ phút linh thiêng của sự mở tháp.  Lúc đó Phật Thích Ca Mâu Ni dùng ngón tay bên hữu mở cửa tháp thì có một âm thanh rất trong trẻo vang ra rất lớn, và tất cả mọi người đều trông thấy Phật Ða Bảo ở trong tháp hiện ra ngồi trên tòa sư tử, toàn thân vẫn còn nguyên vẹn."

      Từ ngữ "đứng dậy" trong đoạn văn trên có nghĩa là sửa sọan phong cách bứơc vào thế giới bản môn, thế giới của thực tại.  Nhưng bằng cách nào hành giả có thể rời thế giới của khái niệm để tiến vào thế giới này?

      Theo quan điểm kinh Pháp Hoa, với bồ đề tâm, hành giả có thể tiếp xúc với bản môn qua những con đường sau đây:

      1.Con đường của phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát:  Ð ây là vị Bồ Tát tu hành nhẫn nhục trãi qua nhiều năm tháng bị mắng chửi mà Bồ Tát chẳng sanh lòng giận hờn.  Có người lấy gậy, lấy cây, lấy đá để đánh, ném nhưng Bồ Tát chỉ chạy trốn, đứng xa rồi xứơng lên sự thật là "Tôi chẳng dám khinh quí ngài vì quí ngài sẽ thành Phật."  Ðây cũng là bức thông điệp lớn thứ hai của kinh Pháp Hoa.

      2. Con đường của phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự: Ðây là con đường của tín nguyện:

           "Tôi kinh hành chốn kia
           Tức thời đặng tam muội
           Hiện chư thân tam muội
           Siêng tu rất tinh tấn
           Bỏ thân thể đáng yêu
           Cúng dường Ðức Thế Tôn
           Ðể cầu huệ vô thượng."

      3. Con đường của phẩm Diệu Âm Bồ Tát: Ðây là con đường tiếp xúc với thần thông trí tuệ.  Trí tuệ đó là khả năng hiểu biết được lòng ngừơi, hiểu được tiếng người; vì vậy âm nhạc của Bồ Tát có thể đi vào lòng người dễ dàng và tạo nên sự chuyển hóa lớn từ nền tảng nhận thức về cách sống và cũng là lúc báo hiệu sự có mặt của Bồ Tát Quán Thế Âm.

      4. Con đường của phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát: Ðây là con đường của thương yêu và lắng nghe, của sự trì niệm danh hiệu Bồ Tát.  Như đã được giải thích qua lý do vì sao có danh hiệu này bởi Ðức Thế Tôn trả lời câu hỏi của Bồ Tát Vô Tận Ý: "Thiện nam tử!  Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ứccchúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ Tát này, một lòng xưng danh Qúan Thế Âm, tức thời Bồ Tát xem xét tiếng tăm kia, đều đặng giải thóat."

      5. Con đường của phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương: Qua sự tu tập con đường này, hành giả chứng được pháp nhãn tịnh, rời xa trần lụy.  Phẩm Kinh nói rằng, "Bấy giờ Tối Âm Tú Vương Hoa Trí Phật bảo đại chúng rằng: 'Các ngươi thấy vua Diệu Trang Nghiêm chắp tay đứng trước Ta đó chăng?  Vị vua này ở trong pháp của Ta làm tỳ khưu siêng năng rộng tu tập các món trợ Phật đạo, sau sẽ đặng thành Phật, hiệu là Ta La Thọ Vương."

      6. Con đường của phẩm Phổ Hiền Bồ Tát: Trong phẩm này, Phật bảo Bồ Tát Phổ Hiền rằng nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào thành tựu được 4 pháp sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này: một là được các Ðức Phật hộ niệm, hai là trồng các cội công đức, ba là vào trong chánh định, bốn là phát lòng từ cứu độ tất cả chúng sinh.

      Thật ra giữa thế giới tích môn (khái niệm) và thế giới bản môn (thực tại) chưa từng có phân ly.  Khi thấy được thế giới bản môn là bắt đầu tiếp xúc được với sự sống mầu nhiệm giữa đời thường đó chính là sự việc màkinh Pháp Hoa gọi là Diệu Pháp, cũng là điều vi diệu mầu nhiệm mà Thiền Sư Mãn Giác mô tả trong bài thơ thiền của ngài:

           "Xuân đến trăm hoa nở
           Xuân đi trăm hoa rơi
           Trước mắt đời diễn biến
           Trên đầu tóc bạc phơ
           Ðừng nói xuân đi hoa rụng hết
           Ðêm qua sân trước một nhành mai."

      Nhành mai kia nở đêm qua hôm nay đã héo trong cảnh trí thế giới tích môn nhưng vẫn nở tươi đẹp mãi trong bầu trời thế giới bản môn, thế giới của bây giờ và ở đây, thế giới của thực tại nhiệm mầu.

      Pháp âm của Ðức Thế Tôn, trãi qua hơn 5 thế kỷ, vẫn vang dội về qua kinh Páhp Hoa, đã mang đến cho thế gian một thông điệp lớn của thế kỷ là chỉ có một con đường ngộ nhập tri kiến Phật và tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật. 

      Hãy sống tinh tiến theo lời Phật dạy!