|
GÓP NHẶT LỜI
VÀNG
trang nhà Phật
Giáo Đại Chúng sưu tầm
Con
người là tên gọi đích thực của nỗi đau khổ truyền miên, bất
tận trên cõi đời này. Hay nói khác hơn, con người đã mang
lấy một hình tượng là đau khổ khi khởi đầu thân phận của
mình. Thế thì, có ai là người đã hạnh phúc thật sự để được
sống ở đời? Người khách đã tự hỏi lòng mình như thế, vào một
buổi chiều cuối năm. Không gian yên tĩnh lại càng yên tĩnh
hơn, vì câu hỏi này vẫn bị bỏ ngõ, vẫn không được trả lời,
vẫn là niềm ray rức không nguôi bên lòng người khách. Để rồi
cho đến một hôm, sau tuần trà buổi sáng trong thư phòng,
người khách mới chợt nhớ lại câu chuyện Đức Phật trên một bờ
sông nọ.
Trong lịch sử con người, có lẽ Đức Phật là người đầu tiên đã
định nghĩa lại danh từ “con người”với bao hàm ý nghĩa rất
nhân bản. Trong nguyên ngữ “Buddha”, được dịch là “Người
Tỉnh Thức”, Người tỉnh thức thì không còn đau khổ nữa. Cho
nên, người khách từ đây hướng lòng về quy y Phật, quy y Pháp,
quy y Tăng như là một điểm khởi đầu cho cuộc hành hương đời
mình vào Đức Phật, mà trên đó một ngôi Thiền thất nhỏ được
dựng lên với vẻ uy nguy mà giản dị, thiêng liêng mà hữu tình,
để phụng thời tượng Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, và cũng để
chiêm bái tượng Đức Quán Thế Âm - vị Bồ tát có đôi mắt nhìn
xuống chúng sanh đau khổ. Khi ấy chính là lúc từ trong chiều
sâu vực thẳm đến cùng tận tâm hồn của người khách chầm chậm
vang lên từng đợt chững âm ba dài hải triều vọng lại, vỗ về
lấy cung điệu cổ xưa từ vô thuỷ. Cùng lúc đó, những tiếng
sóng gào thét của khổ đau cũng bùng lên dữ dội, chập chùng
không dứt trên biển tâm thức chuyển động càng bao la. Những
lúc này, người khách có cảm giác thời gian như muốn ngừng
lại. Nhưng rồi, mùa Đông cũng phải lụi tàn đi, để nhường cho
một mùa Xuân mới khác xuất hiện trở lại trên địa cầu. Thật
vậy, cũng cùng lúc ấy người khách lại một lần nữa hiểu dần
ra rằng đâu là nghĩa của câu hỏi mà Bồ tát Vô Tận Ý thỉnh
vấn Đức Thế Tôn về nhân duyên và danh hiệu của Bồ tát Quán
Thế Âm trong phần mở đầu “Phẩm Phổ Môn – Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa”: “Nhĩ thời, Vô Tận Ý Bồ tát tức tùng toà khởi, thiên
đản hữu kiên, hiệp chưởng hướng Phật, nhi tác thị ngôn: Thế
Tôn! Quán Thế Âm Bồ tát dĩ hà nhân duyên danh Quán Thế Âm?”.
Và đến đây cuộc hành hương vẫn cứ tiếp tục, trong khi câu
hỏi trên kia mỗi lúc càng thêm xúc tích, thân tình như một
công án Thiền phải cưu mang trong đời, nhất là vào những lúc
như lúc thư thản này, ngồi uống ngụm trà nhìn hoa cúc vàng
nở đầu năm.
“Việc chùa cũng
vừa xong,
Về thắp hương
thư phòng,
Quanh đây làn
khói toả,
Con thỉnh Phật .
. . uống Trà”
HOA
Hoa
chính là vị Bồ tát hoá thân làm đẹp mắt mọi người, để những
ai chuộng sắc trần vào Đạo. Vẻ đẹp của hoa không có vị tục
tằn của xác thịt, vẻ đẹp của hoa không có mùi quyến rũ của
tội lỗi, vẻ đẹp của hoa là hiện thân của vô thực, sự huyền
diệu của ánh nắng kết tinh thành màu sắc. Hoa là Từ bi, một
đời tặng hết dịu dàng và an ủi cho chúng sanh. Hoa là Hỷ xả,
sau khi đem giọt nước mắt của chân mỹ đến để ra đi, không
bận tâm đến kiếp sống vô thường. Hoa là Bồ tát dạy con “tâm
vô trụ”, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những
giây phút ấy trôi qua trong đau khổ, trong địa ngục của giận
hờn và lo toan. Mỗi giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn
đoá hoa. Khi con bên lề đường không một người để mắt, hoặc
rực rỡ trong những khu vườn cùng sự chăm sóc của con người,
hay lẻ loi đơn côi nơi đồng hoang vắng, hoa vẫn bình đẳng
trải rộng từ bi, không phân biệt đắng đo về lẽ thân tình của
mình sẽ đến với ai và được tiếp nhận hay không! Con hãy sống
trong vô trụ, trải rộng từ bi đến mọi người, không phân biệt
tình cảm của người đối với con ra sao, không lượng thời gian
không gian, không cần được đền đáp, không cần được hiểu và
thông cảm. Hãy để đoá hoa Tâm được nở, đừng để “Ngã” của con
làm khô cằn mảnh đất vốn đã được gieo giống “Phật”, vì mọi
sự phân định phải trái chính là “Bản ngã”! Con có quyền tu
thì kẻ khác cũng có quyền không tu, con không được tự cho
rằng: mình tu nên đúng hoàn toàn. Thêm vào đó, là người tu
mà không chuyển nổi tâm kẻ khác theo đường Đạo thì phải tự
trách mình. Vả lại, nếu con thật sự hết lòng cầu giải thoát,
hãy tự giải thoát mình khỏi cảnh khổ hiện tại, đừng quy lỗi
cho kẻ khác về nỗi khổ của mình. Tu là tự giải thoát. Giải
thoát là gì? Sự bình an của con trước mọi điều thuận nghịch
của hoàn cảnh mà con đang sống, hay được tự giải thoát, bình
an nơi sự thay đổi hoàn cảnh, phải nhìn thực tại của tâm
mình mà giải quyết, hãy nhìn xuống, hãy hạ tâm mình! Hoàn
toàn được mọi người khen tặng là điều không thể có, nhưng
hoàn toàn bị chê bai cũng là điều không thật. Nghĩ rằng mình
bị mọi người chú ý để chê bai cũng chính là “Ngã” đấy. Muốn
thấy ánh sáng chân lý đưa con ra khỏi vô minh, phiền não,
con phải học hạnh Từ Bi Hỷ Xả của hoa. Hoa phải là tâm con.
Chư Phật trong mười phương đều nói đến giải thoát, hoá sanh
nơi hoa sen trong ao báu, chẳng phải không nguyên do. Cho
nên, hoa mang tướng vô thường mà sống đời vĩnh cửu của Đại
Từ; giây phút đi qua trần thế, nên giọt nắng cõi trần soi
vào mắt con, khai thị điều thiện mà con chưa tự chứng. Như
hoa có thể tàn mà vẻ đẹp và mùi hương không biến mất khỏi
tâm con, điều thiện có thể mang tướng đến và đi, mà trong
tâm thức của con, con không bao giờ quên điều thiện có thật,
hiện hữu rõ ràng khi con đối diện với khổ đau.
ÂM
NHẠC
Âm
nhạc là chuỗi tiếng động sắp xếp theo tâm tư của từng người,
trong mỗi con người, trong mỗi chúng sanh là một nguồn nhạc
ý tuông tràn, những giận hờn, những đau khổ, những niềm vui
tuông ra từ đó. Cho nên, lắng nghe thế giới với tất cả những
âm thanh đa dạng là một nguồn vui bất tận, vì đó là âm nhạc.
Những câu chưởi rủa là nhạc của một tâm hồn dao động đến cực
điểm, những bài hát là âm nhạc của thi nhân, và tất cả là
bài hát bất tận của Sinh-Trụ-Hoại-Diệt, là âm thanh của sự
sống, tức là hình tướng của Đạo.
Tiếng chân bước trên đường vắng, tiếng là khô rơi rụng,
tiếng dế kêu, tiếng đàn và cả những âm thanh mà con không
nghe bằng nhĩ căn được, như tiếng mây trôi, tiếng hạt nước
mưa chạm nhau trên không, tiếng thì thầm của hoa cỏ, tiếng
của người xa con. . . là những âm thanh kỳ diệu của cuộc đời.
Biết thưởng thức tất cả những âm thanh của cuộc sống là sống
trong âm nhạc. Con có hiểu âm thanh là gì, thì mới thực sự
cảm được âm nhạc của đời. Hãy nghe đi! Chỉ biết nghe những
âm thanh mà con thích thì chưa thưởng thức được cái kỳ diệu
của âm thanh, nếu con chỉ thích nghe những lời ngợi khen và
rất ghét nghe những lời chê bai, thì nhĩ căn chỉ làm việc
một nửa, đó là khuyết tật, đó chính là sự bất toàn của thân,
đó chính là sinh bất túc. Tất cả mọi âm thanh đều là vui,
tất cả mọi âm thanh đều là Pháp, những lời nói dữ là thử
thách sự kiên định của tâm, là pháp rèn tâm, là pháp điều
phục tâm xao động. Như thế, những lời nói dữ chính là giả
tướng của lời Phật thuyết, chính là Pháp. Những lời nói dữ
tự bản tánh nó không dữ mà con chấp rằng nó dữ, vì con còn
vướng mắc vào âm thanh, nên con không nhận thấy thật tánh
của ngôn ngữ. Quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì
hiểu được Đạo.
Mỗi
âm thanh đều có độ ngân của nó, vì thế âm thanh là âm nhạc.
Những lời khen tự nó không xấu, nhưng chấp vào thì nó trở
thành độc dược. Khen hay chê đều không thể biến con thành kẻ
khác. Hãy nghĩ những người chỉ biết chê bai người khác chính
là Bồ tát hoá thân, chính nơi những vị ấy con hiểu được lời
Phật dạy: Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng
không! Khi con điềm nhiên trước những âm thanh ấy là con đã
độ được tâm mình, độ được kẻ ấy, mà điều đó cũng chính là kẻ
ấy đã độ con.
Đôi
khi, những âm thanh đi thẳng vào tim làm con khổ sở là vì
con chỉ nghe một nửa, chính điều ấy mới là thân tướng xấu,
mới là sự nghèo nàn. Đây là thần chú trị bệnh ấy: Hãy quán
điều ấy trong tiếng trống, tiếng đàn, phổ trong một đoạn
khúc, cho đến khi con trân trọng âm thanh ấy, thì đó là
“thấy tự tánh ngôn ngữ là không”.
HỘI
HOẠ
Con
được mẹ hoạ tranh, quên được cái “Ta” của con thì vào được
tranh mẹ hoạ. Tức tâm mẹ truyền cho. Hội hoạ là tướng của
“Mỹ” (cái Đẹp), quan sát “Mỹ” như thế nào thì bức hoạ tả như
thế ấy. Nếu con không quan sát “Mỹ” mà để “Mỹ” hoá hiện
thành hoạ, thì con sẽ thấy tất cả vũ trụ này là hiện thân
của cái đẹp toàn diện. Vì tất cả vũ trụ tuân theo quy luật
hài hoà, cân đối tuyệt vời.
Con
biết chăng, từng hạt bụi cũng có chỗ đứng của nó, cũng có số
phận, cũng có bắt đầu và chấm dứt. Nói khác đi, cũng không
bắt đầu hiện diện và không có diệt vong. Thế thì con vẽ gì
đây? Con vẽ các sự vật thật có hay không thật có? Nếu thật
có, thời nhận định của mọi người về một vật đều giống nhau;
nếu không thật có, thời lẽ ra không một ai có thể nhận biết.
Vậy khi con hoạ thế giới là con hoạ tâm của con đấy! Mà tâm
ấy thì huyển vô cùng.
Thế
thì lấy gì để nhìn thế giới? Lấy “Tánh Không” mà nhìn. Mà
“Tánh Không” chẳng phải cần luyện tập mới có, đó là bản tánh
của muôn vật. Một con ong không nhìn thấy cái đẹp của bướm,
bướm không nhìn thấy cái đẹp của hoa như con tưởng, vì con
mang nặng thành kiến của loài người, với bướm hoa chỉ là
thức ăn. Và chính con, con đâu nhìn thấy cái đẹp của côn
trùng, con mang ảo tưởng về thân người của mình, tận đáy
lòng vẫn chưa chấp nhận sự thật là không có gì khác nhau
giữa con và một con kiến, con mèo, cây cỏ; chỉ có sự khác
biệt về nghiệp quả, mà nghiệp quả thì không thường hằng. Con
không thích nghe tiếp, đó là “Ngã”, mà “Ngã” là bất bình
đẳng. Con có cái nhìn buộc tội mọi người đó là bất bình đẳng.
Con có ưa thích đó là bất bình đẳng. Thế thì, con làm sao
thấy cái đẹp thật được mà hoạ. Bất bình đẳng là căn bệnh tàn
phá vũ trụ. Ta thương vi sinh huỷ hoại những cơ thể lành
mạnh đồng với một người nói Pháp, những vi sinh vật đó không
nghiến răng gặm nhấm sức khoẻ con người, đó là những chúng
sanh nghiệp căn quá nặng, hoá sanh vào loài ấy, phải sống
trong môi trường ấy, hoàn toàn vô tội về nơi ở của mình,
chúng không có ý chọn nơi, nếu chúng hiểu được cái khốn cùng
của kiếp sống ấy, chúng sẽ tu. Và chính chư Phật cùng chư
đại Bồ Tát dùng viên âm độ chúng, gọi Phật và Bồ Tát là y
vương vì thế, trị lành bệnh muôn loài. Chí rận cũng thế, khi
phát tâm tu, nghiệp dứt chúng không còn bị đoạ trong kiếp ấy,
nên hoá sanh vào một thân tướng khác, không còn phải sống
bằng máu. Điều ấy con phải hiểu, giải thích cho con rõ vì
sao có người phát tâm tu thì gặp hiểm nạn. Phát tâm là một
việc rất cao quý, đó là sức mạnh thu nhiếp thời gian, sức
mạnh vượt qua sanh tử, thu bao nhiêu kiếp vào làm một, sức
mạnh của người lội ngược dòng, sức của người chiến đấu với
chính mình, sức mạnh của thiên nhiên. Đó là cái năng lực phi
thường biến chúng sanh thành Phật! Cho nên, vẽ là phương
pháp hữu vi. Tả, chỉ, lột được cái sự thật ấy, cái bản chất,
cái hình dáng thật của mọi vật, thay vì uốn nắn thêm giả
tướng theo ý mình.
Con
có thấy tình yêu khiến con người đẹp ra như người vẫn tả
không? Đó là vì khi thương yêu nhau thật sự, con người chỉ
nghĩ đến làm những việc tốt đẹp cho nhau, bỏ đi những vụn
vặt. Tóm lại, đó là biến tướng của Từ-Bi-Hỷ-Xả qua cửa ngõ
ái dục. Điều đó cho con thấy cái đẹp không nằm ở kích thước.
Trong cách nhìn người khác, con thường chỉ nhìn bằng nhục
nhãn, chỉ thấy người tiếp cận với mình với một mặt phẳng,
tâm trạng của họ lúc ấy, rồi sinh buồn-vui, lo-sợ…đó là chất
huyển. Hãy nghĩ, vô lượng kiếp về trước, hoặc vô lượng kiếp
về sau, người kia xử trí với con ra sao trong hoàn cảnh này;
Và con, vô lượng kiếp về trước hay vô lượng kiếp về sau thì
con phản ứng như thế nào trước hoàn cảnh trên. Mọi vật biết
hiện vô chừng, tâm chúng sanh trôi nổi theo nghiệp duyên,
không thể nào quyết định thật tướng nơi cảnh ấy. Khi con
nhìn một sự vật, chẳng phải chỉ là mắt con nhìn thấy, mà là
Thức, là Sở tri, là Kiến đã huân tập từ hằng vô số kiếp nhìn
sự vật ấy. Từ vô số kiếp đã tích tụ vô số kiến chấp, hoá nên
tất cả những phân biệt đây tốt kia xấu, màu đen màu trắng,
giàu nghèo, thọ yểu, khinh trọng. Bỏ tất cả những kiến chấp
này đi ngược lại vô thuỷ về trước, con sẽ thấy chỉ có ánh
sáng vô cùng, không ngằn mé. Con người đã bỏ chiếc bóng của
mình! Thế nên, con người là nguồn ánh sáng rực rỡ mà không
tự biết, đi tìm ánh sáng bên ngoài để nhìn mình, để chồng
chất thêm những màn đêm làm mờ đi ánh quang minh của tự thân.
Màu mà con vẫn gọi là đen chẳng phải là màu đen, đó là một
tập hợp ánh sáng màu ngũ sắc, màu cầu vồng, nổi bậc riêng
sắc đen trên các màu khác. Con đường mà con vẫn đi qua chẳng
phải con đường, đó là chiếc cầu vồng mà con vì chấp vào thân
tứ đại, chỉ thấy đó là đất đá màu đen. Và người xấu, con
phải nhìn họ trong hiện kiếp, kiếp quá khứ là người bị hà
hiếp và vị lai bị nghiệp quả, thì tướng xấu ở đây là đâu?
Quan sát như thế mới nên vẽ, quan sát như thế mới nên quan
sát.
Thế
nào Quán Tự Tại? Là ở nơi không hai lập cái thấy. Thế nào là
không hai? Không có ta và vật, không đây và đó, không khoảng
cách không chướng ngại, hoàn toàn tự do nên không gì là
không biết, không gì là không thấy, không đâu là không đến
được, và không biết tất cả những “không” trên, đó là “Tự tại”.
Bố cục bức tranh lấy tâm điểm ở hai phần ba (2/3) hoặc một
phần ba (1/3) khổ giấy hay vải. Màu sắc, chọn màu gần thiên
nhiên hoặc màu mà con thấy bức thiết như một nhu cầu, đừng
dùng lý luận bẻ nén sự vật, đảo lộn màu sắc, rồi theo đó mà
vẽ, như thế là giả dối. Các bức hoạ Phật, Bồ Tát và Chư
Thiên đừng vẽ bóng, chỉ dùng màu nước pha nhạt hoặc vẽ nét.
Ánh sáng ở tự thân chiếu ra, trong cõi ánh sáng không cùng,
màu sắc phản chiếu ánh sáng, ánh sáng phản chiếu ánh sáng,
không thể có bóng. Hội họa là phản chiếu ánh sáng của các sự
vật, con người. Hội hoạ là dùng màu sắc thuyết pháp, là đưa
thế giới bên trên về gần.
Con
hãy dùng hội hoạ mà cúng dường Chư Phật!
KHỔ ĐẾ
Đau
khổ không phải là điều xa lạ đối với mọi người và với riêng
con. Đau khổ đã là bạn đồng hành từ lâu lắm, thế thì có gì
phải ngỡ ngàng. Đau khổ đến từ người này hay người khác, từ
hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, điều đó có nghĩa gì đâu.
Vì lẽ đơn giản là nó phải đến, nên mang hình tướng để gây
hại cho sự bình tâm của con, đau khổ sẽ mang hình tướng ấy.
Cho nên, đừng oán trách người làm con khổ, vì họ chỉ là công
cụ của một sức mạnh ở ngoài chính họ, đó là sự đau khổ vẫn
hiện hữu nơi thế gian. Đau khổ vò xé tâm cang tức một tướng
của địa ngục rồi. Thế thì, đau khổ chính là địa ngục. Đã ở
trong địa ngục là tận cùng, thì còn tự tử để đi đến cõi chết
nào khác nữa. Vả lại, đau khổ là nghiệp đeo đẳng, há phải do
người nào mang đến mà có nơi trốn tránh khỏi mắt nhìn. Chết
là không chịu sự tác động của loài người và hoàn cảnh thế
gian, nhưng chưa thoát khỏi nghiệp báo. Đau khổ sẽ mang hình
tướng khác để theo đuổi con, và ở nơi không có thân để chịu
quả báo, những cảnh khổ sẽ nhân lên hằng bao lần để tâm thức
phải động và đau đớn như một đau đớn cảm được trên thân thức,
là những cảnh của địa ngục. Cho nên, phải biết tự tử để
thoát nỗi khổ đang gánh chịu tức sẽ dẫn đến địa ngục cõi
khác mà thôi. Khi chưa là Phật, thì chưa thể nói được đã
thoát khỏi địa ngục, khi chưa thể thoát khỏi địa ngục thì
đừng mong không còn đau khổ. Vậy thì, đau khổ sẽ theo con
cho đến ngày giải thoát. Cứ mặc nó đến, quan sát nó ở chân
tướng chứ không ở giả tướng. Chân tướng của đau khổ khi đến
với con là nghiệp, giả tướng là người hay hoàn cảnh chẳng
thuận lòng con. Để hoá giải ác nghiệp chính là thiện nghiệp,
hãy gây lấy thiện nghiệp để thoát khỏi bể khổ trần gian. Và
điều thiện bậc nhất là ngay trong lúc này khi con đang khổ
sở, hãy niệm Phật. Niệm Phật thì sẽ tỉnh táo để thấy được
chân tướng của đau khổ, đau khổ tự đến thì tự nó sẽ đi.
Không phải vì con xua đuổi mà đau khổ xa lánh con, bình tâm
trước nghịch cảnh sẽ không cảm thấy đau khổ sâu xa như chính
mình đang chịu khổ. Quán rằng, khổ này không cũ nhưng không
mới, không tự tánh thì không tha tánh, không hoàn toàn của
con. Vì nếu không có ngoại vật, tha nhân thì con không khổ,
nhưng không lìa con, thì con cảm thấy nỗi khổ đau rõ ràng
nơi con. Vậy, nó ở đâu? Không ở nơi con, không ở nơi người,
do đó đau khổ là duyên hiệp thành theo nghiệp mà đến. Nói
nghiệp tức là nói chính mình, đâu ai có thể trốn khỏi chính
mình, cho nên đừng tự làm khổ mình. Nghiệp đến cứ đến,
nghiệp đi cứ đi, được như thế thì đó là “Tâm không trụ”. Tâm
không trụ thì an ổn, an ổn nơi oán hội, là thấy Niết Bàn tại
thế. Để có đủ lực đạt đến Niết Bàn, con phải niệm trong đau
khổ và quán trong cảnh nghịch. Tha lực và tự lực là sức mạnh
mãnh liệt đến từ bên ngoài, phát ra từ bên trong thì hiệp
nhất sẽ phá tan xích xiềng của địa ngục khổ đau. Đó chính là
giải thoát. Đau khổ là nhân đưa đến giải thoát, nên đừng sợ
nó, đừng ghét nó, đừng là kẻ vong ân, hãy cảm ơn đau khổ;
như thế những người mang đau khổ đến cho con, chính thực là
những vị Bồ Tát phát tâm hành nghịch độ, để cho con được quả
thiện tròn đầy. Đó là những Bồ Tát trải thân làm cầu đường
cho chúng sanh đi đến giải thoát. Và luôn nhớ, chư Bồ Tát
không phải chỉ mang tướng thiện để độ sanh, hãy cầu nguyện
cho các vị ấy sớm đắc quả vị Phật mới trả được ân. Phải tri
ân những người mang đau khổ đến cho con, hành như thế mới là
người trí huệ, hành như thế mới là con Phật. Đau khổ hay
nghiệp chướng là nhân Bồ Đề, nên con không được khinh, không
được hổ thẹn vì nó. Và chính vì Niết bàn có nhân ban đầu là
Phiền não, nên con không được sinh tâm mong cầu tha thiết,
chẳng trụ đau khổ, chẳng trụ Niết Bàn là chân thật Niết Bàn,
là giải thoát. Con hãy y theo để tìm thấy hạnh phúc ngay
trong đời, ngay từ giây phút này. Hạnh phúc tìm thấy nơi
không có hạnh phúc, nơi không cho phép hạnh phúc tồn tại.
Nơi cõi trần này là hạnh phúc vĩnh cửu, vì đã kinh qua đau
khổ.
Con
hãy tự cứu mình!
TẠI
SAO TU?
Tại
sao phải đặt vấn đề tu khi điều đó chưa là cấp thiết đối với
nhiều người? Có người vào Đạo một cách tự nhiên, dễ dàng,
nhờ căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trước; có người trong
đau khổ cùng cực, chợt hiểu chỉ có tu mới thoát khổ, còn đại
đa số không thấy cuộc đời đáng buồn đến độ phải bỏ nó, hay
cuộc đời của mình suy đến cùng cũng chẳng có gì đáng phàn
nàn, thì tu để làm gì.
Thật
ra, ý niệm tu làm nhiều người sợ hãi, tu là từ bỏ những gì
mình đang yêu thích thì quả là khó khăn, và không hứa hẹn
điều gì tươi sáng cả. Thiện ác là hai mặt của cuộc đời,
nhưng thiện ác cũng là hai mặt của mỗi con người. Và không
thể dễ dàng để phân định ranh giới giữa hai khuông mặt này,
không thể dễ dàng quyết định trắng đen. Mỗi người sanh ra
đời đều mang sẵn liều lượng thiện ác trong mình, thiện là
Phật mà ác là chúng sanh. Nhưng thế nào là thiện, và vì sao
gọi là ác? Bất cứ một hành động hay tư duy nào không lấy
“Tôi” làm nguyên nhân và đích đến thì đó là thiện, ngược lại
là ác. Nhưng nếu không có “Tôi” thì ai hiện hữu, ai làm việc
thiện ấy? Đó là Phật của con hay Phật trong con. Có người sẽ
gọi đó là “Thượng đế” hàm nghĩa chân lý, điều toàn thiện,
nhưng Thượng đế là ban bố, dù không nhận lại nhưng vẫn mang
tướng thi ân. Còn Phật thì ngay cả ý thức thi ân cũng không
có, Phật chính là sự tự tại của Thiện. Như thế thì ngoài bản
ngã của con ra mà con nghĩ đích thực là mình, còn có một bản
ngã khác là một đời sống tự do không lìa con, nhưng không lệ
thuộc, sẵn sàng hiện diện khi con không tìm cách nhấn mạnh
sự có mặt của mình như một thực thể chân lý. Bản ngã ấy là
chân tánh của con, chân tánh ấy là Phật tánh. Không tìm thấy
bản ngã thật ấy con phải đau khổ, phải bất an, con không bao
giờ bằng lòng với cái mình đang có, hay bằng lòng với thế
giới quanh con. Vì không thể nào sống yên ổn hoà bình với
cái ác được, dù đó là cái ác của chính mình.
Tu
là tự hoàn thiện mình, tu không có nghĩa là mất cả ánh nắng
của cuộc đời, chôn vùi một cái gì thân thiết của con, mà con
hãy sống hoàn toàn, tràn đầy như đập vỡ vỏ cứng của một quả
ngon để thưởng thức. Không sợ chữ “Tu” thì con sẽ hiểu tại
sao phải tu. Ai cũng có một lần cảm thấy sự bất lực vô cùng
của mình khi đối diện với cuộc đời, dù là ai chăng nữa, họ
có thể thành công trong những mặt nào đó, và lấy hào quang
của thành công này che lấp những buồn tủi của thất bại khác,
nhưng sự đền bù này cũng chính là sự xác định mặt khiếm
khuyết kia. Cái nhân của đau khổ vẫn còn đó dù được che dấu
dưới lớp tro than của quên lãng, hay nhung gấm của hạnh phúc
hiện tiền. Người đời vẫn thường chấp nhận và bằng lòng với
cái tương đối ấy, nên gút lại là hạnh phúc đối với họ giản
dị quá, là cho qua đi những đau khổ và thụ hưởng những cái
mà họ đang có. Đó là làm quen với ác và đi đến kết luận có
thể dung hoà Thiện – ác. Vì ác là gì, nếu không là đau khổ?
Nhưng còn một lối thoát, còn một con đường dẫn con đến nơi ý
niệm về ác cũng không có, huống nữa là sự hình thành của tội
ác. Bóng dáng đau khổ vắng bặt nơi đây, chỉ thuần một màu an
lạc. Tại sao con không dấn thân vào con đường hạnh phúc chu
toàn ấy! Con đường ấy là đường tu. Cho nên, tu là đến với
những gì vui hơn cái mà con đang hưởng, những kỷ luật gặp
trên đường tu là điều tất yếu để giải quyết chất ác, chính
là sự hoại diệt của điều ác để hiển bày điều thiện. Sự hoại
diệt này là nhân, là quả mà điều ác chất chứa trong nó nên
phải lãnh chịu. Khi ác đã không còn thì không có sống chết,
không có đau khổ, không có ranh giới, không còn phải khép
mình vào căn phòng Thiện để đối kháng với ác. Thiện là con,
con là thiện, thì điều gì con làm lại không là điều thiện,
nơi đâu trong con lại không là không gian của thiện, thì còn
phải khép mình vào một lề lối nhất định nào để hành thiện!
Đó là giải thoát khỏi cái ác, khỏi đau khổ, khỏi cả ý niệm
về đau khổ, khỏi cả ý niệm về sự giải thoát ấy. Đó chính là
giải thoát!
Vì
thế, tu không phải là từ bỏ hạnh phúc cuộc đời để đến với
Đạo, tu là đi từ hạnh phúc mong manh đến hạnh phúc vĩnh cửu.
Tu là vẫn hít thở không khí ấy, vẫn nhìn thấy vầng Dương cũ
rực nắng mỗi ban mai, vẫn bầu trời đầy sao của ngày xưa tràn
lên tâm tư mỗi khi đêm đến, vẫn những người con đã gặp bao
lần, vẫn hoàn cảnh mà cuộc đời đã đặt con trong đó. Nhưng
con ơi! Nhận thức của con chẳng còn như xưa nữa, mặt trời
thế gian chỉ là hình ảnh thô thiển của mặt trời đã sáng
trong con, những người con gặp gỡ là những chiếc bóng của
chính họ, mờ nhạt và yếu ớt trước cuộc đời, trước sanh tử
của mình. Và cuộc đời cùng những hoàn cảnh thuận-nghịch,
buồn-vui xưa, nay chẳng còn chuyên chở được tình cảm của
con, con đã thoát con nhỏ bé ngày xưa. Ngày xưa? Phải. Vì
những căn tánh, nhãn quan cũ sau ý thức muốn tu và sau khi
con dấn bước trở nên xa xôi và lạ lẫm, cứ lùi mãi vào vô tận
mang tính vô thực của một huyền thoại nhưng thiếu chất hư.
Con bây giờ mới thật sự sống. Hãy san bằng chướng ngại ngăn
cách con với thường hằng, hãy làm người lữ khách mà mỗi bước
chân đến cõi không thời gian nở đoá sen vô ưu, hãy là con
mãnh sư uy dũng giữa đám người đành chịu khuất phục trước
bao nỗi khổ sầu. Tu là một quyết định sáng suốt nhất trong
đời người, không chỉ là sự sáng suốt của tuổi nào, mười, hai
mươi, bảy mươi, tám mươi hay hơn… mà đấy là sự sáng suốt của
vô lượng tuổi, vượt ngoài giới hạn của tuổi tác, là tiếng
nói của Phật trong con, vang gọi con vào cuộc đại hành hương.
Hãy đi, nhớ rằng hãy làm gương thắp đuốc soi đường, mỗi nỗ
lực sẽ có vạn nghìn mắt Phật thương nhìn, mỗi vấp ngã sẽ có
vạn nghìn cánh tay Bồ Tát nâng lên. Con đi bằng sức mình
nhưng không bao giờ lẻ loi, không bao giờ cô độc hoàn toàn.
Hãy
tấn tu!
CÚNG
DƯỜNG
Cúng
dường - biết bao cung kính, biết bao thương mến, biết bao
nỗi niềm trong mỗi mỗi sự cúng dường. Có khi do một thôi
thúc của thiện tánh, con mang lễ vật cúng dường Phật Tổ;
cũng có lúc vì mong cầu một điều gì đó con cúng dường, hoặc
vì thói quen, hoặc vì ai cũng làm thế, hoặc vì muốn đền đáp
một cái ân mà con cúng dường Phật. Trong tất cả các tâm ấy,
ý nghĩa thật sự của cúng dường nằm ở đâu?
Khi
Phật bảo: Hãy mang hương hoa thanh tịnh đến lễ bái cúng
dường chư Phật. Thì đó là tâm con thanh tịnh hay lễ vật
thanh tịnh? Nếu tâm thật tịnh thì lễ vật thật tịnh, nếu tâm
không kiên nhứt thì lễ vật cũng không thể là tịnh vật. Khi
Như Lai nói “cúng dường” là bảo con hãy xả, hãy quên đi
những “của tôi”, “thuộc về tôi”, “cho tôi” để tự cởi dần
trói buộc. Việc ôm về cho mình là “tâm thủ”, mà “thủ” là tự
trói mình. Khi con nghĩ chọn những thứ thật tịnh để cúng
dường là tâm con đang định mà không tự biết. Không có một
niệm về “ngã”, không có tạp niệm nào ngoài sự thật của lúc
này: con đang chọn hoa tươi nhất, hương thơm nhất, quả ngon
nhất để dâng Phật. Con thấy hoa, thấy hương, thấy quả mà
không thấy cái thấy ấy, không biết cái tâm đã khiến con hành
động, đó chính là đang sống với vô biên trong khoảnh khắc.
Sống với vô biên là sống với Phật, vì thế mà Như Lai mới dạy:
Hãy cúng dường!
Con
lễ bái và cúng dường chư Phật có lợi lớn cho con. Vì sao? Vì
điều đó làm tăng tưởng tín căn, đẩy lùi ngã mạn. Khi con lễ,
đó là dấu hiệu của khuất phục, không phải Phật hay Bồ Tát đã
khuất phục con, mà là kiêu căn, ngã mạn, kiến chấp đã bị sự
khiêm cung của con khuất phục. Cho nên, cúng dường Phật
chính là Đạo. Cúng dường thân mạng là bỏ tướng nhân, thọ,
giả; cúng dường tài sản là diệt bỏ tâm tham. Còn cách cúng
dường nào cho chư Phật quý hơn tất cả các thứ trên? Cúng
dường thế nào để được giải thoát? Đó là cúng dường thức nào
có thể khiến con và chúng sanh thoát khổ, thoát sanh - bệnh
– lão - tử, thoát khỏi luân hồi, thức cúng dường có thể đáp
đền được hồng ân của Phật, thức cúng dường cho Phật đúng sở
nguyện của Ngài là mang lợi vô tận đến cho người dâng cúng,
đó chính là “Pháp cúng dường”. Pháp cúng dường là tu thâm
pháp, là hành Bồ Tát đạo, theo chân Phật làm lợi ích cho mọi
người, trong chỗ hành không còn tâm vọng, hồi hướng tất cả
công đức có được về chư Phật, đó chính là thật nghĩa của
Pháp cúng dường.
Dâng
chư Phật không phải những hiện vật kết thành bỡi đất - nước
– gió - lửa, nên có hoại diệt, nên không toàn thiện; Dâng
Pháp là thứ không thể hoại diệt, trường cữu, bất biến, tồn
tại mãi với thời gian, là ngọc của chúng sanh, kết tinh bỡi
một cuộc đời tịnh hạnh. Khi con cúng dường chư Phật tại thế,
Ngài còn không thật có thọ các vật ấy, chỉ vì thương chúng
sanh mà có giả thân, nên nuôi dưỡng giả thân cũng vì lợi ích
chúng sanh, huống nữa là khi đã nhập Niết bàn. Nên khi cúng
dường Phật là dâng tấm lòng thành, chứ Phật đâu dụng những
thức cúng dường ấy làm vật sở hữu của Phật; và có tâm nào
quý hơn tâm của một người tu, tại sao không cúng dường tâm
ấy cho Phật! Tâm tu là Pháp tướng. Con thấy có gì quý hơn
một người có thể nói với mọi người rằng: “Thưa anh chị! Tôi
đã nhận chân được đau khổ, tôi đã chiến đấu với kẻ thù trong
một trận một mất - một còn, và đã thắng. Chiến thắng đau
khổ nên tôi không còn sợ sệt, vững chãi bước đi trên con
đường vô ngã, vĩnh viễn bỏ lại sau lưng bóng đêm của chết
chóc và tái sinh. Đau khổ không còn mang hình dáng của hận
thù và giận dữ từng giây bóp nghẹn trái tim tôi, điều khiển
tôi như con rối trong chiến tranh của “Ngã”, mà người chịu
hậu quả cuối cùng vẫn là tôi; Đau khổ không còn mang hình
dáng của tài - sắc dẫn tôi vào đấu trường của tham lam và mê
đắm; Đau khổ không còn mang hình dáng của “vô tư lự” để độc
ác có thể len vào khống chế tôi; đau khổ đã gục ngã dưới
chân tôi, không còn bị xiềng xích của hận thù trói buột, nên
tôi thương cả kẻ thù tôi, không còn một xích xiềng nào của
tánh chúng sanh trói buột tôi được nữa. Nên, tôi là một
người tự do. Hãy nghe tôi, đau khổ sẽ không còn là hình ảnh
của nước mắt, vì mặt trái của đau khổ chính là hạnh phúc. Đi
xuyên qua đau khổ như đi xuyên qua một trận bão, sẽ đến được
bến bình an một cách không ngờ! ”. Làm được như thế và giúp
mọi người làm được như thế, kẻ ấy đã không trụ tâm vào việc
đã làm mà dâng tất cả cho chư Phật, gọi là hồi hướng hay
cúng dường cho Phật. Đó chính là cách cúng dường cao quý
nhất, tuyệt đối, gọi là Pháp cúng dường. Con cần phải hiểu,
Pháp cúng dường là lòng tri ân sâu xa, sự kính ngưỡng vô
cùng đối với chư Phật, thể hiện bằng hành động dâng cả cuộc
đời cho Ngài, lòng tin không chỗ trụ, nên không điều kiện,
không giới hạn vào giáo pháp của Ngài, và dùng tất cả các
kiếp sống hiện tại và mai sau để hành thâm giáo pháp ấy. Như
thế mới là chân thật cúng dường!
Phát
tâm cúng dường Pháp chính là phát Bồ Đề Tâm. Phát Bồ Đề Tâm
là đại nguyện không để Tam Bảo có cơ duyên hoại diệt, là tu
giải thoát mà không lìa chúng sanh, là sanh tâm Phật Pháp,
là con Phật. Khi con lập nguyện là đã trở thành con Phật,
xem quãng đời trước kia như một chiếc áo cũ đã ném trả lại
cho cuộc đời. Con nhìn lại sẽ thấy xa lạ với con của ngày
trước, cái mà con vẫn tưởng là bản ngã thật của mình, chính
mình đã rơi xuống, những cá tính làm nên con người con đã
trở nên thừa thãi và có phần nào kệch cỡm cũng rơi xuống, để
lộ một cái gì không tên, sáng chói tinh khiết vô cùng của
nguyên sơ, tạm gọi “Chân Ngã”, chính là “Thánh Thai”. Nguyện
lực đầy đủ thì chân ngã hiển lộ, nguyện lực chưa đầy đủ thì
chân ngã chỉ lóe sáng rồi bị che lấp, tinh tấn siêng năng
hành Đạo là nuôi dưỡng thánh thai. Đến ngày công hạnh đầy đủ,
Pháp thân tức thánh thai xưa kia hiện đủ trong thân, thân
nay trở thành hoá thân. Vì công hạnh viên mãn, quả báo viên
mãn, nên báo thân là thân Phật, ba thân hiện đủ tướng là
giải thoát, là quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, là
Phật - Thế Tôn – Thiên Nhân Sư! Cho nên, phát Bồ đề tâm là
nguyện rất lớn. Nơi đâu có người phát Bồ đề tâm là nơi ấy có
chấn động, Thiên Long vì chúng sanh và vì vị Phật tương lai
mà ủng hộ người đó.
Đừng
sợ không đủ sức làm tròn lời nguyện, chỉ sợ tâm buông lung
mà không quyết chí đi đến nơi. Chính khi phát nguyện là đã
nói lên một thần chú bí mật, một đại thần chú có công năng
dẹp trừ tất cả ma oán, chuyển bánh xe nghiệp quả trở thành
bánh xe của Pháp, một vô thượng chú, biến người nói trở
thành người không đối thủ. Như thế cách cúng dường cao quý
nhất là Pháp cúng dường. Đã phát nguyện Pháp cúng dường thì
con hãy vui mừng, an nhiên hành Đạo, chớ khởi tâm thối lui!
MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN
Hàng
năm, vào tháng Tư là con lại hân hoan, náo nức chờ ngày kỷ
niệm Phật giáng thế. Con mong chóng đến ngày Phật Đản để đến
chùa lễ Phật, cùng gia đình tưởng niệm Thế Tôn, vị Thầy của
tất cả chúng sanh biết nếm mùi Đạo pháp, vị Cha lành của
chúng sanh còn lăn chìm trong sanh tử. Con phải quán về ngày
Phật Đản như thế nào để hiểu về đại nhân duyên nhập thế của
Đức Phật Thích Ca?
Trước khi Đức Thích Ca thị hiện có giả thân Thái tử Tất Đạt
Đa, chân lý vẫn có, vẫn sáng tỏ, nhưng thiếu duyên lành, nên
số chúng sanh tầm Phật đạo không bao nhiêu người đến được
bến Giác Ngộ. Vì thế, Như Lai tạm mượn giả thân cùng chúng
sanh đồng sự để chỉ bày con đường giải thoát từ chính nơi
con đang ở, đang đứng, chứ không phải một giải pháp viễn
vong, một con đường bắt đầu từ nơi khác. Đó là duyên lành
lớn nhất của chúng sanh, được thấy vũng bùn mình đang ở và
hoa sen mà mình có thể thành, nương theo duyên lành ấy là
quy y Tam Bảo. Quy y Tam Bảo là “Tâm” quy chứ không phải “Tướng”,
tâm đã quy y Tam Bảo thì hành tướng quy y sẽ đến. Bằng giả
danh bảo rằng: Tâm đã quy y thì không cần tướng quy y. Những
kẻ ấy chấp tướng là thật có, nên chỉ thiêng hướng về tâm
cũng là một tướng khác của “Ngã”; còn những người chỉ có
hành tướng quy y mà tâm thì không biết Phật, con hãy khoan
bàn luận Phật Pháp với họ.
Con
tưởng nhớ Đức Thích Ca Như Lai như tưởng nhớ một người đã
mất thật là một sai lầm không sao nói hết. Thân Phật vẫn có
đây, trong mỗi lời Ngài dạy, trong mỗi chiếc y mà con thấy,
trong tâm của mỗi hành giả chân thành. Thân Phật không đâu
khác ngoài tâm của con, tâm xa Phật thì chỉ có y là có Phật,
người đắp y thì ở rất xa; tâm xa Phật thì chỉ có lời nói,
chỉ có văn tự, chỉ có Phật Pháp là có Phật, còn người nói
thì ở rất xa. Tâm xa Phật thì dù ở gần vẫn không thấy Phật,
với những kẻ ấy Như Lai là người đã khuất, nên không còn
Chánh Pháp, không có ai phân định chánh – tà, không có nhân
quả báo ứng. Phật không có sanh và diệt, Phật đã thị hiện
cho mắt trần nhìn thấy để chúng sanh biết rằng những chân lý
mà nhục nhãn không thể thấy mới là bất diệt. Hiện tại, Thích
Ca Như Lai vẫn đang thuyết pháp, sao mắt con không nhìn thấy,
sao tâm con không cảm được! Cho nên, ngày Phật Đản là ngày
kỷ niệm dành cho chúng sanh, chứ không phải dâng Phật. Con
hãy hiểu như thế này mới là thật biết mừng ngày Phật Đản.
Con mừng ngày Phật Đản là ngày Phật có trong tâm con, ngày
con phát tâm theo Đức Phật vượt bể khổ trần gian, đó mới
chính thật là ngày Phật Đản.
Ngày
Phật Đản là ngày chư Thiên, Hộ Pháp, chư Phật, Bồ Tát mười
phương thế giới lớn tiếng ngợi khen sự không thể nghĩ bàn
của Thích Ca Văn Phật, Ngài đã thị hiện vào đường sanh tử để
độ chúng sanh thế giới Ta Bà đi đến quả vị Phật. Chư Địa
thần cũng phát tâm hộ trợ cho chúng sanh nào quyết tu Phật
đạo. Cho nên đó cũng là ngày trời đất giao hoà, chúng sanh
chịu hoạ báo trong địa ngục cũng được hào quang thánh đức
của Như Lai soi tới, nên phát tâm Bồ Đề đông không kể xiết,
gọi là ngày “địa ngục khai môn” cũng vì thế. Địa ngục đã hết
đối với các chúng sanh ấy. Trong bầu không khí của ngày hội
đó, con hãy lập ngày hội của con, con hãy cho mình một ngày
hoàn toàn là của mình, gạt bỏ tất cả quá khứ, ngày hôm qua,
gạt bỏ ngày mai và những toan tính về tương lai khỏi tâm trí.
Chỉ có hiện tại, chỉ có ngày hôm nay, chỉ có Như Lai và con
trong suốt ngày Phật Đản, thì mới thật là nếm được Pháp vị
của ngày Phật Đản. Thời gian chỉ là chướng ngại khi tâm con
còn chướng ngại, tâm không chướng ngại thì quá khứ không có
nghĩa đã mất, vị lai không có nghĩa chưa đến. Nên, ngày lễ
kỷ niệm Đức Thích Ca hôm nay không mảy may kém hơn 2600 năm
về trước về mặt thực tế, cũng như về nghĩa vui mừng. Và
tương lai cũng không vì thời gian xa hơn mà Thánh lễ càng xa
Đức Phật. Như Mẹ tán thán công đức vô lượng vô biên của Như
Lai, từ bi vô lượng vô biên của Như Lai trong ngày Thánh đản,
chư Phật mười phương cũng đồng ngợi khen như thế. Nhưng con
có đón ngày ấy với tâm trạng nào thì ngày ấy vẫn là ngày vui,
là ngày vĩnh viễn đã tự tách rời khỏi quá khứ, đi mãi trong
thời gian, hiện hữu mãi trong thời gian.
Khi
con đến chùa cùng chư phật tử đảnh lễ Như Lai, thì phải thấy
con đã lập Đạo tràng nơi tâm, đã thờ Phật nơi tâm, đã xây
ngôi chùa bất hoại bằng Tam quy ngũ giới nơi tâm để phụng
thờ Đức Phật. Và con đến chùa là để thỉnh Phật lên đài tôn
nghiêm tại thế, chứ không phải là đến chùa rồi mới tìm Phật.
Nếu con và tất cả phật tử đồng thỉnh Phật trụ thế, sự đồng
tâm ấy làm nên một vị Phật duy nhất không có tướng phân biệt,
sự đồng tâm ấy là thế giới đại đồng, là Phật tánh, và sự
đồng tâm ấy chính là Phật vậy.
Nam
Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Đệ tử ngày hôm nay ngồi dưới
Phật đài, chiêm ngưỡng tôn dung vô tướng hiện thân. Lễ này
con nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai mừng đại nhân
duyên Phật chuyển Pháp luân.
Lễ
này con nguyện đồng tâm với vô lượng chúng sanh trong quá
khứ, hiện tại, vị lai tán thán công đức không thể nghĩ bàn
của Như Lai, vì chúng con đã chuyển Pháp luân.
Lễ
này con nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai báo đáp
thâm ân Ngài đã chỉ cho chúng sanh con đường diệt khổ.
Lễ
Phật phải lễ bằng tướng và bằng tâm như thế mới thật là kính
lễ. Con hãy vui mừng làm theo để trọn hưởng được khí lành
ngày Phật Đản.
KINH ĐIỂN
Con
đọc kinh điển trong tâm tướng nào, có bao giờ con tự hỏi
mình như thế? Con không thể đọc kinh điển như đọc sách,
thích thú với những đoạn hay, tò mò với những ý tưởng lạ,
đọc như thế là tâm bất kính. Con vì thế vô tình đóng cửa
chân tâm, lòng không để tác động của thần lực phát ra từ
kinh điển chuyển mình, nên cũng khó có thể hiểu được nghĩa
kinh. Kinh điển là sự kết tập lời nói của Đức Phật Tổ, lời
nói ấy là văn sống động, giản dị, dễ hiểu, đại chúng, ở ngay
trong đời sống tầm thường bình dị của mỗi ngày; chỉ bày
những chân lý thật nhưng có thể nắm bắt được bằng thân, thật
dưới sự có mặt vô hình đối với mức thường của gió (?).
Đọc
kinh là học, là nghe kinh. Khi mở quyển kinh, lòng của con
cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự
kính tín của người muôn dặm thỉnh kinh. Hãy cẩn thận, muôn
dặm đường xưa nay nằm trong tâm con đấy. Lời nói của Phật Tổ
một bản ngã vô ngã chính là Pháp, đó không còn là lời nói,
không còn là ngôn ngữ văn tự, đó là chân lý tuôn tràn, ẩn
chứa trong ấy tất cả sức mạnh của vũ trụ, của tánh “Không”.
Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên có chúng sanh mới có
Pháp là thế. Muốn biết chắc rằng con hiểu đúng tinh thần
quyển kinh mà con đọc, trước hết phải tận tường nhân duyên
thuyết kinh ấy, sau phải nắm được mật chỉ trình bày xuyên
suốt tất cả lời lẽ của kinh. Dù Phật có thuyết bao lời lẽ
cũng để diễn bày mật chỉ ấy; mật chỉ ấy, mật mà không mật,
thường chính là Tự của kinh. Những người nhân nghe một câu
kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền
ngẫm vấn đề của mình từ rất lâu, tâm đã đạt chỗ “tri hành
hiệp nhất”; lời nói và việc làm là một, nên chỉ cần một cái
gõ mạnh trợ duyên là bừng sáng, đó là người đã sẵn chứa tạng
Kinh trong tâm, người khác cũng có mà cũng không, vì chưa tự
thấy biết tạng Kinh của mình. Lời nói của người có thể khiến
người khác bỏ những việc khó bỏ, làm những điều khó làm, ắt
hẳn không chỉ là lời nói.
Giở
một trang Kinh là nghe tiếng nhạc trời, đọc một dòng chữ là
thấy hào quang toả sáng, đón nhận nghĩa lý như là uống giọt
cam lồ, con sẽ là người sống cùng thời, được nghe chính
tiếng Phật thuyết giảng. Không đọc kinh điển trong tinh thần
thu thập kiến thức, thì kinh điển bao giờ cũng mang lại lợi
ích nhất định cho con, vì “Kiến” đã là chướng ngại rồi. Đọc
kinh trong trạng thái tinh khôi, thì tâm hồn con là tờ giấy
trắng được in đậm chân lý giải thoát của chư Phật. Con hãy
đọc kinh điển trong tinh thần ấy!
KINH PHÁP HOA
Nghe
kinh Pháp Hoa và trì tụng con được an ổn thân tâm, nhưng để
hiểu và hành thì con chưa đạt được điều ấy. Vần đề ở chỗ là
phải tìm hiểu và quán, tu trong kinh là “Tri kiến Phật”. Tri
kiến Phật đó là sự thấy biết của Phật Đà, đó là trí huệ viên
mãn tột cùng. Nói tất cả mọi người, mọi vật đều có Phật tánh
là nói tất cả chúng sanh đều sẽ được Tri kiến Phật, hay
chúng sanh đều là Phật, điều này con thật khó mà tin được.
Vì sao? Vì con chưa thấy, chưa được, chưa ngộ Phật tánh,
Phật tri kiến nên không nhìn thực thể như nó vẫn thường hằng.
Như
khi con buồn, tìm an ủi, quân bình cả tâm hồn trong sự chiêm
ngưỡng tượng Phật. Đau khổ ngập trong lòng, nên trông tượng
Đức Di Lặc con không cảm được từ tâm của Ngài, vì tượng Đức
Di Lặc Bồ Tát là biểu tượng của Pháp hỷ, sự an ổn vô song về
mặt tâm linh, điều thật xa cách với tâm trạng hiện tại của
con. Con trông tượng Phật Tổ để thấy Ngài không gần gũi trần
gian, con nhìn hình tượng các vị Bồ Tát với nét thương cảm
chúng sanh qua gương mặt đượm buồn và nhận rằng đích thật
đây là Phật của con, con cảm thấy một mối giao cảm đặc biệt
với vị ấy và mở lòng cầu nguyện. Thật ra, chư Phật vẫn đồng
tâm thương xót chúng sanh, nhưng chỉ vì kiến chấp của con mà
Phật hoá chẳng đồng. Ở nơi “Không” lập các Pháp là chư Phật
tùy tâm địa của chúng sanh mà thuyết giảng, với người thích
Giáo pháp Thanh văn, Phật vì đó nói Pháp ấy là Thanh văn;
với người thích Đại thừa, Phật vì đó nói Pháp ấy là Đại thừa;
nhưng đâu phải vì danh tự “Đại thừa”, “Tiểu thừa” mà các
giáo pháp không phải xuất sanh từ Phật tri kiến, các Pháp
sai biệt ở văn tự bản tánh vốn là sự Giác ngộ của Phật,
không hề khác nhau. Vì thế, muôn Pháp đều dẫn đến Giác ngộ.
Dù hàng Thanh văn không biết, không hay Phật đã gieo Phật
trí nơi mình.
Một
người cư xử không phải với con, ức hiếp con, con thở than,
buồn bã hay giận dữ. Tại sao? Tại sao con cần phải phản ứng
lại sự việc trên như thế? Có phải vì trong con những ý niệm
về bất công, ức hiếp vẫn còn đầy dẫy, nên con cảm thấy sự
bất công, tức là chính con cũng không khác người kia. Như
thế con có thực sự tốt hơn người kia, con là thiện và họ là
ác không? Tuy con không hành ác nghiệp nhưng tâm không lìa
ác, nên tất cả giai đoạn nhân quả của điều ác vẫn diễn biến
đầy đủ trong con, đó là sự thấy biết của chúng sanh. Nếu
trong cảnh “oán tắn hội” đó, đau khổ của con chuyển thành
thuận cảnh, con sung sướng biết bao! Thế nghĩa là trong đau
khổ có mầm hoan lạc, hạnh phúc đến sau khi vượt qua đau khổ
là hạnh phúc có sự dự phần của trí huệ. Trí huệ là giai đoạn
mở đầu tri kiến Phật.
Trong một hoàn cảnh tuyệt vọng, con vẫn còn niềm tin vào
điều vượt ngoài phạm trù của lý trí sẽ xoá tướng tuyệt vọng
mà con đang nhận biết rõ ràng, niềm tin ấy khiến con niệm
Phật cầu thoát khổ, cầu điều kỳ diệu, đó chính là niềm tin
vào bản tánh thiện vẫn chi phối vũ trụ. Sợ hãi là tin vào sự
chiến thắng của điều ác, nếu có một sự tin tưởng tương đương
vào điều thiện thì sợ hãi tiêu tan. Phải chăng giây phút cầu
nguyện ấy, con vượt qua tướng thời gian, nên vượt qua tướng
của sanh tử, đã nói với hiểm nguy, với tứ đại, với giả duyên,
với tam nghiệp rằng: “Bất chập sự cản trở của các ngươi, bất
chấp sự trói buộc mà các ngươi đang giam giữ ta, ta cũng
tiến lên, tiến mãi về phía trước, về cảnh giới có tri kiến
tuyệt đối, sẽ giải thoát cho ta khỏi hoàn cảnh hiện tại”. Đó
là vươn tới Phật, và tri kiến Phật như một phép mầu, phải
đưa con vào nước “Trí” (?). Sự mầu nhiệm mà con mong cầu
phải đến, vì bản thể Phật vốn không hạn lượng, không cùng
tận, nên không gặp cảnh trái nghịch, luôn gặp thuận cảnh.
Đề
Bà Đạt Đa là Phật, vì đã chỉ cho chúng sanh thấy định lực
của Phật Tổ; Đề Bà Đạt Đa là Phật, vì đã phỉ báng Phật, ghét
Phật vì Phật là Phật. Hình ảnh của Phật là hình ảnh mà Ông
chối bỏ, tức là ý niệm về Phật có trong Ông. Người ta không
thể phản đối một hình tượng không hề hiện hữu. Nghiệp chướng,
chúng sanh kiến ngăn trở Đề Bà Đạt Đa phản Phật, hoà nhập
vào Phật, thấy Phật nơi mình, nhưng Phật trong Ông vẫn hiện
diện. Tại sao con lại nghĩ rằng Ông ta ghét Phật, mà không
biết rằng Ông chưa bao giờ không kính Phật! Ghét hay thương
chỉ là hai cách tiếp nhận một tiền đề sẵn có, cách này hay
cách kia là phương tiện diễn đạt, nên tướng ghét cũng như
tướng thương kính mà thôi! Đề Bà Đạt Đa là Phật thị hiện làm
Bồ Tát độ oán tắn.
Phải
biết rằng mọi sự con vẫn thường cho là thuận - nghịch từ chỗ
đứng của con, đều không thật. Tâm con đem vào những phán
đoán, mà tự thể các hiện tượng hay Pháp ấy không có. Ví dụ:
Con vẫn cảm thấy mặt đất rất vững chắc, từ bao kiếp vẫn cho
rằng vòng tay của đất đáng tin cậy vô cùng; nhưng hãy thử
tưởng tượng, nếu mặt đất trở thành trong suốt, thì bầu trời
mênh mông đáng sợ trên đầu lại vẫn có dưới chân, con không
có nơi trú ẩn an toàn, con sẽ thấy chân lý trời trên đầu và
đất dưới chân trở thành nghịch lý. Nước chảy xuôi chỉ là giả
tướng, hãy tìm tướng xuôi ngược nơi tâm, và luôn nhớ không
thể tin vào con để quyết định chân tướng của sự vật.
Vì
sao con phải lễ Phật? Vì Phật ở ngoài. Không đảnh lễ vị Phật
ở trong ư? Như thế vẫn chưa thấy Phật. Đảnh lễ Phật mà không
hướng vào đâu, không hướng về phía trước, không hướng về
phía sau, không trên, không dưới, không phía trong, chẳng
phải không phía trong, lìa tướng quỳ, tướng đứng vào nơi vô
biên, đó là “Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”.
Hoa
sen mọc từ bùn nhơ lại có mùi thơm ngào ngạt, đó là nhờ mọc
từ bùn mà có hương, hay bản chất của sen là thơm? Từ nơi
muội manh (?) lại nảy điều cao quý, chính vì tánh của bùn
vốn không nhơ. Tướng bùn lầy là phương tiện cho hạt giống
nẩy mầm, vì muốn chỉ tánh của bùn và sen là một, nên hoa
phải chấp tướng hiện hữu. Nếu không muốn chỉ tánh ấy thì
vắng bặt tướng tịnh và bất tịnh, vắng bặt nói năng, tên gọi,
không có tướng thiện-ác, chúng sanh và Phật. Tánh không tên
ấy khi động thì hoá ra vũ trụ, không động thì vô hình, rắn
hơn sắt đá, tạm gọi là “Tánh Không”. Ngộ tánh không của vạn
vật là ngộ Phật tri kiến.
Không ghét người xấu, không ngại đau khổ, với sức kham nhẫn
vô biên, thề tận độ chúng sanh thành Chánh giác, tất cả
chúng sanh chưa thành Phật thì con nguyện chưa thành Phật.
Đó là Pháp môn tự tu dẫn đến Tri kiến Phật. Có phát tâm như
thế mới có thể hiểu kinh Pháp Hoa, mới thật trì kinh Pháp
Hoa, đó mới chính là thật hành Diệu Pháp.
Con
hãy phát tâm!
*
Vì băng ghi âm đã quá cũ, nên có một số từ chúng tôi không
thể nghe rõ hoặc phỏng đoán được, xin đánh dấu (?) phía sau
những từ ấy để quý vị lưu tâm.
----o0o---
|