Bạn ơi, trong bao
nhiêu điều có thể nói về Đạo Phật, chỉ xin bạn
nhớ cho “Đạo Phật là đạo của những người biết
lắng nghe.”
Nghe là sự vận
hành tự nhiên của một cơ thể bình thường. Thế
nhưng sự vận hành này tuy tự nhiên nhưng không
phải hoàn toàn phóng túng, bừa bãi, vô tổ chức…mà
có chọn lọc.
Chúng ta có thể
ví lỗ tai (nhĩ căn) của chúng ta giống như một
chú lính. Khi nhận được một tín hiệu, một thông
điệp, một tin tức nào…thì chú vội vàng báo ngay
cho chủ tướng của mình - không ai khác hơn là
chính Ta. Mà cái Ta này chính là cái Tôi hay cái
Ngã do Nhãn (Mắt), Nhĩ (Tai), Tị (Mũi), Thiệt (Lưỡi),
Thân, Ý (Ý thức) kết hợp lại mà thành.
Khi một “tin tức”
tốt được “báo cáo” thì vị chủ nhân hân hoan nói,
“Được,
chú tiếp tục nói đi.”
Lúc đó vị “chủ tướng” tức cái Ngã, lim rim tận
hưởng khóai cảm của những lời tán tụng, những
lời du dương, những lời ngon ngọt gửi tới. Thật
sướng lỗ tai!
Thế nhưng khi một
lời nói khó chịu, một lời nói bất ưng được báo
vào thì ông tướng lập tức nổi giận, quát tháo ầm
ĩ “Cút
đi! Ta không muốn nghe nữa!”
Thật tội nghiệp cho chú lính. Chú chạy biến ra
ngòai, ngồi xuống rầu rĩ bịt kín lỗ tại lại.
Trong khi đó thì
“ông tướng” có thể vẫn tiếp tục nổi trận lôi
đình, chửi bới rân trời và chú Khẩu (Miệng) bị
vạ lây.
Nghe lời nói ngon ngọt thì dễ, nhưng nghe, hoặc
lắng nghe lời nói nghịch nhĩ thì thật khó khăn.
Đối với chúng sinh bình thường, sự lắng nghe đã
khó, còn đối với những nhân vật gọi là quyền cao
chức trọng, giầu có, tăm tiếng, thế lực, nổi
tiếng v.v..thì sự khó khăn đó còn tăng gấp bội,
bởi vì cái Tôi, cái Ngã của những vị này rất lớn.
Nhìn vào lịch sử
Trung Hoa, chúng ta thấy biết bao trung thần,
nghĩa sĩ đã chết vì những lời tâu trình nghịch ý
vua. Khá hơn là những ông vua, tuy không ra lệnh
chém đầu nhưng lại bỏ tù, hoặc tước hết phẩm
trật, đuổi về quê những ông quan dại dột tâu lên
những điều mà nhà vua không muốn nghe.
Còn tại triều
đình Âu Châu, các ông vua Tây Phương tuy không
đến nỗi ác độc như vậy, nhưng lại có một lối
“bịt tai” một cách rất “thông minh”. Các ông vua
này nuôi mấy anh hề, chạy lăng xăng trước ngai
vàng. Khi có quan đại thần nào tâu trình điều gì
thì mấy anh hề làm trò khiến vua cười sặc sụa.
Và dĩ nhiên như thế vua có thể “đổ thừa” là
“Trẫm có nghe gì đâu!”. Quan đại thần lúc đó chỉ
có nước lạy tạ mà lui ra.
Còn tại Hoa Kỳ,
một quốc gia được coi như triệt để bảo vệ quyền
tự do ngôn luận và mọi người thảo luận trong
tình thần ôn hòa, tương kính. Tuy nhiên không
phải tất cả đều như vậy. Quý vị nào theo dõi các
buổi hội luận, phát biểu ý kiến trên các đài
truyền hình lớn như Fox News, CNN…chắc đã thấy
rất nhiều trường hợp, các người tranh luận không
thèm lắng nghe người đối diện mình nói, hoặc chờ
cho đối thủ của mình nói xong. Cả hai người đều
tranh nhau nói, khiến khán giả chẳng biết ông
nói gì, bà nói gì, và dĩ nhiên chỉ có nước lắc
đầu cười trừ.
Ở đây sự xung đột
ý kiến lên tới mức trầm trọng khiến người ta
không thèm lắng nghe nhau mà chỉ muốn phát biểu
ý kiến của mình.
Thế nhưng trong số vô lượng chúng sinh đã và
đang ngụp lặn, luân hồi trong Thế Giới Ta Bà này,
có một nhân vật rất lạ lùng, đó là Ngài Quán Thế
Âm Bồ Tát đã phát hạnh nguyện lắng nghe; lắng
nghe sự khổ đau cũng như nỗi bất ưng của muôn
lọai chúng sinh mà đến cứu giúp. Mà ngài đã thể
hiện hạnh nguyện đó từ vô lượng kiếp trước.
Do đâu mà chúng ta
biết được hạnh nguyện của vị đại Bồ Tát hi hữu
này?
Trong pháp hội tại Núi Kỳ Xà Quật của Thành
Vương Xá, Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát, từ trong đại
chúng đã đứng lên thưa hỏi Phật như sau: “Thế
Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ-tát do nhân duyên gì mà
tên là Quán Thế Âm?”
Phật đã bảo ngài Vô
Tận Ý Bồ-tát như sau: “Thiện
nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng
sinh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ-tát
này một lòng xưng danh, Quán Thế Âm Bồ-tát tức
thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát”
(Kinh Pháp Hoa)
Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát tương truyền đã và
thường thị hiện thành hình tướng người nữ với
tướng mạo thật đoan nghiêm, hiền từ, được gọi
một cách thân thương và giản dị là Phật Bà Quan
Âm để cứu độ bất cứ ai lên tiếng kêu khổ và niệm
danh hiệu ngài. Câu niệm đầy đủ nhất là “Nam
Mô Tầm Thanh Cứu Khổ, Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế
Âm Bồ Tát!”.
Do đó mà hình
tượng của Phật Bà Quan Âm đã được dựng lên khắp
nơi, được kính ngưỡng, thờ phượng. Tại sao vậy?
Bởi vì khi chúng ta niệm danh hiệu ngài, hoặc
trông lên tượng Phật Bà Quan Âm, chúng ta cảm
thấy bình an, được cảm thông, thấy tin tưởng và
không còn sợ hãi.
Mới đây nhất một
pho tượng Phật Bà Quan Âm, 17 tầng, cao 69.7 m,
được xem là tượng Phật cao nhất Việt Nam đã được
dựng và khánh thành tại Chùa Bãi Bụt hay Chùa
Linh Ứng nhìn xuống Bãi Biển Sơn Trà, Đà Nẵng,
không ngòai mục đích tôn kính biểu tượng của Từ
Bi, Cứu Khổ, Hạnh Nguyện Lắng Nghe và Khát Vọng
Bình An của mọi người.
Mẹ Hiền Quan Âm
không tạo ra dông bão, lụt lội, động đất, cuồng
phong, bệnh dịch, chiến tranh, chết chóc để lòai
người sợ hãi mà van vái cầu xin. Hình ảnh đẹp
của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát có thể tìm thấy ngay
trong cuộc sống này ở nơi các bà mẹ hiền thương
con vô bờ bến, không bao giờ giận hờn con, không
bao giờ làm khổ con mà chỉ biết lo cho con.
Bạn ơi!
- Bạn không thể phát khởi Tâm Đại Bi, tức lòng
xót thương người nếu bạn không lắng nghe những
lời than van, kêu khổ của người khác.
- Bạn không thể chia sẻ nếu như bạn không nghe
được nỗi lòng thầm kín, nỗi oan ức của người
khác.
- Bạn không thể an ủi người khác nếu bạn bịt kín
lỗ tai lại.
- Hãy để cho người khác trút hết nỗi niềm tâm
sự và bạn là người lắng nghe. Chỉ cần lắng nghe,
lắng nghe một cách cảm thông và hiểu biết, thì
nỗi khổ của người đối diện đã vơi đi rất nhiều.
- Ngày nay các nhà tâm lý trị liệu, các nhà cố
vấn tâm lý chỉ là những người biết lắng nghe bạn
trút hết nỗi lòng, những ý nghĩ thầm kín mà bạn
không biết tâm sự cùng ai.
- Thật vĩ đại và nhiệm màu thay hình ảnh của
Phật Bà Quan Âm chỉ vì ngài là bậc biết lắng
nghe.
Để tìm hiểu thêm về sự tuyệt vời của hạnh nguyện
lắng nghe, chúng ta kiểm điểm lại xem trong quá
khứ đã bao lần chúng ta im lặng để lắng nghe lời
kêu than của người khác? Phải chăng lúc đó chúng
ta thấy chúng ta thật bao dung cởi mở? Phải
chăng lúc đó cử chỉ và ngôn ngữ của chúng ta
thật dịu dàng? Phải chăng lúc đó trái tim chúng
ta không dung chứa gì, ngòai sự cảm thông? Chúng
ta đã hiển lộ Phật tánh lúc nào mà chúng ta
không hay.
Chính vì thế mà
bạn ơi, hãy là một người biết lắng nghe, Be a
good listener!
- Trong những đêm khuya thanh vắng, hãy im lặng
để lắng nghe tiếng con cú đang gọi bạn.
- Tiếng vạc kêu sương,
- Tiếng con cò lặn lội bờ sông,
- Tiếng côn trùng rên rỉ,
- Tiếng dế nỉ non,
- Tiếng cóc, nhái, ễnh ương âm vang một hợp tấu
tuy đơn điệu đối với chúng ta, nhưng vô cùng
quyến rũ đối với loài lưỡng cư để mời gọi con
mái,
- Tiếng mưa rơi trên mái ngói hay trên những mái
nhà dột nát,
- Tiếng bà mẹ ru con,
- Tiếng than van của những người nghèo khó trong
những khu lao động,
- Tiếng nhạc khích động vọng ra từ những phòng
trà ca vũ của những người nhiều tiền lắm của tìm
thú vui hoặc của những người cô đơn phải tìm một
nơi giải trí cho vơi sầu muộn,
- Và cả tiếng cô ca sĩ đang cố ru hồn người bằng
những cung bậc nỉ non, da diết,
- Tiếng nhạc Rock, nhạc Pop, nhạc Rap xập xình,
- Trong khi đó tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng
hiền từ của ni cô đang ngồi tụng Kinh Cứu Khổ
nghe rõ giữa canh khuya để cho thấy tình thương
của nhân lọai vẫn còn đây,
- Tiếng đại bác từ chiến trường vọng về cho thấy
nỗi gian nan của người chiến sĩ,
- Tiếng lá cây xào xạc theo ngọn gió đong đưa,
- Tiếng sóng vỗ rì rào như tiếng lòng của biển,
- Rồi bất thần tiếng xe cứu thương rú lên như
muốn xé tan màn đêm u tịch để cảnh báo cho mọi
người đừng quên con người từng giây từng phút bị
chi phối bởi luật Sinh, Lão, Bệnh, Tử,
- Và cả nhịp đập của trái tim mình.
Trong không gian bao la và tịch mịch đó, tất cả
đều bình đẳng, tự do hiển lộ trong thế giới
trùng trùng duyên khởi của Hoa Nghiêm. Lúc đó
mọi tư tưởng đều vắng bặt, chỉ còn sự quán chiếu,
cảm nhận và cảm thông. Phải chăng trong thế giới
này chúng ta không cần chân lý mà cần sự cảm
thông? Ít ra là trong giây phút này đây. Lắng
nghe là một sự cảm thông kỳ diệu nhất.
- Chư Phật trong hằng hà sa số thế giới đều lắng
nghe lời diễn nói của chư Phật ở thế giới khác.
- Trong nhiều pháp hội có khi Đức Phật chỉ lắng
nghe những vị Bồ Tát rồi ấn chứng.
- Trong nhiều pháp hội, thính chúng chỉ lắng
nghe Phật nói không thôi mà cũng đắc quả.
- Trong khi các vị thần chỉ biết ra oai và trừng
phạt thì các Bồ Tát, A La Hán, Bích Chi Phật và
hàng Đại Sĩ trong vô lượng kiếp lại biết lắng
nghe.
Trong bối cảnh đầy bạo lực và có nguy cơ hủy
diệt của thế giới ngày hôm nay, Đạo Phật đang
trở thành ngọn đuốc lương tri cho nhân lọai. Mặc
dù Đạo Phật chưa ảnh hưởng tới những thế lực chỉ
muốn dùng sức mạnh để giải quyết những vấn đề
của con người, nhưng Đạo Phật đang từ từ thấm
dần vào hàng ngũ trí thức khắp mọi nơi.
Là Phật tử chúng
ta hiểu rằng sinh mệnh của Đạo Phật nằm ở hai
chữ Từ Bi. Từ Bi là xót thương, là cứu độ, là
không làm người khác khổ, là cảm thông và biết
lắng nghe. Khi mọi người không còn muốn nghe
người khác nói nữa thì đó là lúc mà sự ghét bỏ,
nghi kỵ, hận thù, xa cách lớn dần lên.
Không biết lắng
nghe, hoặc không thèm lắng nghe người khác cũng
là một hình thái xây đắp hoặc bảo vệ một ngục tù
tư tưởng hay một “Tử Cấm Thành” của cái Tôi.
Sự vĩ đại của Đạo
Phật hay của Đức Phật là sự giải phóng trí tuệ
và
“viễn ly mọi điên đảo,
mộng tưởng”
(*). Chính những điên đảo mộng tưởng này đã đưa
tới vọng động làm khổ mình và làm khổ nhân lọai.
Bạn ơi, trong bao nhiêu điều có thể nói về Đạo
Phật, chỉ xin bạn nhớ cho “Đạo
Phật là đạo của những người biết lắng nghe.”
Tháng 9 năm
2554.PL- 2010. TL