|
Nhân Quả - Tu Hành
Vĩnh Minh thiền sư sợ
người đời chẳng hiểu được nghĩa chân thật của Thiền - Tịnh,
[chẳng] quán sát rõ ràng, nên mới làm bài kệ này để giảng
rõ. Có thể nói [bài kệ này] là chiếc bè báu để thoát bến mê,
là người dẫn đường lìa nẻo hiểm, công lao rất lớn. Bởi lẽ,
hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực, chỉ riêng pháp môn
Tịnh Ðộ kiêm nhờ Phật lực. Hết thảy pháp môn phải hết sạch
Hoặc nghiệp thì mới có thể liễu sanh tử; pháp môn Tịnh Ðộ
đới nghiệp vãng sanh liền dự vào dòng Thánh. Người đời chẳng
xem xét, coi Tịnh Ðộ là vô dụng, thật đáng than lớn! Hiện
tại, người ta hay cho rằng khán thoại đầu là cách tu thích
hợp nhất, [cứ cho rằng] hễ lâm chung được chết an lành là
liễu thoát. Nào hay lời ấy là lời nói mớ của kẻ chưa mở
Chánh Nhãn. Ở đây, tôi dẫn chuyện cũ để làm thí dụ:
Vào khoảng đời Càn Long
- Gia Khánh nhà Thanh, có ba vị Thiền tăng cùng tham thiền
với nhau. Chết đi, một vị sanh tại Giang Tô, tên là Bành Văn
Chương; một vị sanh ở Vân Nam, tên là Hà Quế Thanh; một vị
sanh ở Thiểm Tây tên là Trương Phí. Trong ba người, chỉ ông
Bành nhớ được chuyện kiếp trước. Sau lên kinh đô thi Hội,
gặp hai người kia liền kể chuyện kiếp trước cùng làm Tăng.
Hai người kia tuy không nhớ được [việc cũ], nhưng vừa thấy
ông Bành đã như [gặp lại] cố nhân, trở thành bạn thân thiết.
Vào Điện Thí (thi Ðình), ông Bành đậu Trạng Nguyên, ông Hà
đậu Bảng Nhãn, ông Trương trúng Truyền Lô. Họ Bành sau từng
làm Chủ Khảo, Học Ðài, nhưng khá tham sắc, sau chết tại nhà.
Họ Hà giữ chức Chế Ðài ở Nam Kinh. Giặc Hồng Dương nổi dậy,
Nam Kinh bị mất, ông bị hoàng thượng bắt tội chết. Ông
Trương từng làm thầy dạy hoàng đế Hàm Phong, dân Hồi Hồi
muốn làm phản bèn giết phăng ông đi. Ba vị này chẳng thể coi
là Tăng nhân bình thường, đáng tiếc là chẳng biết cầu sanh
Tây Phương, tuy được đôi chút phước lớn nhưng hai người
chẳng được chết yên lành. Ông Bành tham đắm nữ sắc, e trong
đời sau chẳng được như đời này!
Lại nữa, tiên sinh Ngô
Dẫn Chi ở Tô Châu, đậu Thám Hoa triều Thanh. Học vấn, tướng
mạo, đạo đức đều tốt đẹp cả. Năm Dân Quốc thứ mười (1921),
đi triều bái Phổ Ðà, gặp tôi, tự bảo kiếp trước ông ta là
hòa thượng ở Vân Nam. Vì khách đến dâng hương đông đảo,
chẳng thể chuyện trò nhiều, cũng chưa hỏi tường tận nguyên
do. Năm [Dân Quốc] thứ mười một (1922), tôi qua Dương Châu
khắc in sách, đến ở nhà một người đệ tử tại Tô Châu, liền dò
hỏi về việc ấy, định bụng: Xưa kia vì chưa rõ nguồn cơn, nay
[muốn] gặp ông ta để đàm luận, nhưng rồi hoàn toàn quên mất.
Từ đó, chẳng qua lại với nhau nữa. Ðến năm [Dân Quốc] thứ 19
(1930), tôi bế quan tại chùa Báo Quốc. Đến tháng Mười Một,
ông ta cùng hai tiên sinh Lý Ấn Tuyền, Lý Hiệp Hòa đến thăm.
Tôi hỏi: “Sao ông biết là kiếp trước là nhà sư ở Vân Nam?”
Ông ta bảo: “Năm hai mươi sáu tuổi, tôi nằm mộng đến một
ngôi chùa kia, biết là chùa X. ở huyện X. thuộc tỉnh Vân
Nam. Trông thấy hình dạng điện đường, phòng xá, cây cối đều
như thường thấy, cũng thấy mình là Tăng. Tỉnh dậy, nhớ rất
rõ, ghi chép lại từng điều”. Sau đấy, một người bạn tôi đi
làm quan ở Vân Nam (tiên sinh Trương Trọng Nhân còn chưa
biết tên họ ông này), đem đối chiếu những lời ông ta chép
thì không sai lệch mảy may.
Tôi bảo: “Tiên
sinh nay đã tám mươi tuổi, không còn được bao nhiêu ngày
nữa, hãy nên khôi phục sự nghiệp hòa thượng kiếp trước, nhất
tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì mới chẳng phụ công khó
tu trì đời trước!” Ông ta đáp: “Niệm Phật có gì là hy hữu,
lạ lùng?” Tôi nói: “Niệm Phật tuy chẳng phải là hy hữu, lạ
lùng gì, nhưng thế gian chẳng có mấy người niệm. Chuyện
chẳng hy hữu, lạ lùng nhất là chuyện ăn cơm, cả thế giới
không một ai là chẳng ăn; đấy là sự chẳng hy hữu, lạ lùng
bậc nhất, vì sao ông vẫn cứ phải làm?” Ông ta chẳng đáp
được, nhưng vẫn không chịu niệm. Ông ta hỏi hai ông Lý: “Các
vị có niệm không?” Họ đáp: “Niệm chứ!” Ông ta vẫn chẳng nghe
theo, đến tối ngày Ba Mươi tháng Chạp, lúc sắp thắp đèn, qua
đời, vừa tròn tám mươi tuổi. Vị này đời trước tu trì cũng
rất khá nên đời này mới cảm được công danh lớn lao, tuổi thọ
lâu dài, nhưng đời này chỉ giữ trọn luân thường, chẳng còn
tin vào Phật pháp nữa, há chẳng phải là đáng xót xa lắm sao?
Cả bốn vị trên
chưa ai chứng đắc, mà dù có sở chứng đi nữa, nếu chưa đoạn
hết phiền hoặc thì vẫn khó thể lìa khỏi sanh tử được! Thậm
chí như thiền sư Viên Trạch đời Ðường, biết được chuyện quá
khứ, vị lai, nhưng vẫn không thể thoát được, huống hồ là kẻ
chỉ được chết an tường lại có thể giải quyết xong chuyện
sanh tử được sao? Cha ông Lý Nguyên đời Ðường, trấn thủ Ðông
Ðô, bị An Lộc Sơn làm phản giết chết. Lý Nguyên chẳng muốn
làm quan, biến căn nhà mình đang sống ở Lạc Dương thành chùa
Huệ Lâm, thỉnh Viên Trạch làm Hòa Thượng; Lý Nguyên cũng tu
hành ở chùa ấy. Qua mấy năm, Lý Nguyên muốn triều bái Nga
Mi, mời Viên Trạch cùng đi. Viên Trạch muốn đi theo đường
Thiểm Tây, nhưng Lý Nguyên chẳng muốn đến kinh đô nên nhất
định đi theo đường thủy Kinh Châu. Viên Trạch đã tự biết
mình chẳng trở về được nên liền dặn dò hậu sự, mỗi mỗi đều
rành rẽ, kẹp trong cuốn kinh nhưng chẳng để lộ ra, theo Lý
Nguyên ngồi thuyền ra đi.
Thuyền bơi đến
miền thượng du Kinh Châu, sắp gần đến Giáp Sơn, vùng đất ấy
thế nước chảy xiết, chưa đến tối đã phải cắm thuyền. Chợt có
một người đàn bà mặc quần gấm, kéo nước bên sông. Viên Trạch
vừa trông thấy, hai mắt ứa lệ. Lý Nguyên hỏi nguyên do, Viên
Trạch đáp: “Ta chẳng chịu đi theo đường này là vì sợ gặp
người đàn bà này. Bà ta mang thai đã ba năm, chờ ta sanh làm
con. Chẳng thấy còn có thể trốn lánh, chứ nay đã thấy, không
cách nào không làm con bà ta được! Ông nên tụng chú, giúp ta
mau sanh. Ðến ngày thứ ba, hãy đến nhà thăm ta. Ta trông
thấy ông, cười một tiếng làm tin. Mười hai năm sau, đêm Rằm
tháng Tám, đến bên bờ giếng Cát Hồng tại Thiên Trúc ở Hàng
Châu gặp ta”. Nói xong, Viên Trạch tọa thoát (ngồi qua đời).
Bà nọ liền sanh con. Ngày thứ ba, Lý Nguyên đến thăm, đứa bé
liền cười. Sau đấy, Lý Nguyên quay về chùa Huệ Lâm, thấy
trong quyển kinh đã viết sẵn lời dự ngôn về hậu sự, càng
thêm tin [sư Viên Trạch] chẳng phải là kẻ tầm thường. Mười
hai năm sau, Lý Nguyên đến Hàng Châu. Tới đêm Rằm tháng Tám,
ông đến chỗ ước hẹn chờ đợi; chợt thấy bên sông có đứa bé
trai chăn trâu, ngồi trên lưng trâu, dùng roi gõ sừng trâu,
xướng:
Tam sinh
thạch thượng cựu tinh hồn,
Thưởng
nguyệt, ngâm phong bất yếu luân.
Tàm quý
tình nhân viễn tương phỏng,
Thử thân
tuy dị tánh thường tồn.
(Trên đá ba
sinh, vẫn nguyên hồn
Ngâm gió,
thưởng trăng lọ phải bàn
Thẹn thấy
người xưa tìm đến gặp
Thân này tuy
khác, tánh thường còn)
Lý Nguyên nghe
xong bèn đến chào hỏi. Hàn huyên xong xuôi, đứa bé lại đọc:
Thân tiền,
thân hậu sự mang mang,
Dục thoại
nhân duyên khủng đoạn trường
Ngô, Việt
giang sơn du dĩ biến
Khước hồi
yên trạo thượng cù đường
(Thân trước,
thân sau sự vấn vương
Bàn chuyện
nhân duyên luống đoạn trường
Ngô,Việt giang
sơn chơi khắp cả,
Gác chèo mây
khói, ẩn ao chuôm)
Rồi ruổi trâu
đi mất. Thân phận như thế còn chưa liễu thoát được, huống hồ
là những kẻ chỉ mới lãnh hội được câu thoại đầu, được chết
an lành mà coi là đã liễu thoát ư? Cậy vào tự lực để thoát
sanh tử khó khăn như thế đó; cậy vào Phật lực để thoát sanh
tử dễ dàng như thế đó; vậy mà người đời vẫn cứ buông bỏ Phật
lực để cậy vào tự lực, cũng là vì chưa hiểu rõ lẽ mầu nhiệm.
Nay dùng hai câu sau đây để nói toạc ra: Chỉ là vì tri kiến
sai lầm “muốn tỏ vẻ ta là hạng người bậc thượng, chẳng chịu
làm chuyện tầm thường, không hy hữu, lạ lùng” vậy. Xin hết
thảy mọi người hãy suy nghĩ chín chắn chuyện đã qua của năm
người này rồi tự lợi, lợi tha, sốt sắng tu Tịnh Nghiệp như
lo chôn cất cha mẹ, như cứu đầu cháy thì mới khỏi luống uổng
đời này và lần gặp gỡ này.
----o0o---
|