QUAN ÐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ PHỤ NỮ
NHƯ HẠNH
Bình đẳng giới tính (sexual equality) và
nữ quyền thuộc về những vấn đề quan trọng nhất của thời đại
mới. Trong đa số các nền văn hóa (không cứ là văn hóa
Ðông phương) giới chịu các bất công trong những bất bình đẳng về
giới tính thường là nữ giới. Do đó tranh đấu về bình đẳng giới
tính thường là đồng nghĩa với tranh đấu cho nữ quyền.
Bình đẳng về giới tính một cách tổng quát
xoay chung quanh các vấn đề chính mà tôn giáo cũng có ảnh hưởng
trực tiếp hay gián tiếp như: khái niệm về đàn ông và đàn bà
và khả năng tâm linh của họ; quyền được học hỏi và thực hành
các giáo lý; cơ hội về các vai trò trong tổ chức; địa vị, sự
kính trọng, và quyền hành trong gia đình; bình đẳng trong các vấn
đề luật pháp như ly dị; quyền được hưởng những phương tiện giáo
dục; quyền được theo đuổi nghề nghiệp; quyền lợi chính trị, vân
vân.
Như đã đề cập khái niệm của tôn giáo
về bản tính của người đàn ông và nhất là người đàn bà có rất
nhiều ảnh hưởng đối với tình trạng hiện thực của người phụ nữ
trong đời sống tôn giáo và xã hội. Ngày nay vì ưu thế của
văn minh Tây phương, đa số mọi người (kể cả người Ðông phương)
nuôi dưỡng những thái độ rất nông cạn về văn hóa và tôn giáo
Ðông phương. Một trong những thái độ này là tôn giáo và
văn hóa Ðông phương "đè nén" phụ nữ. Văn hóa và tôn giáo
Tây phương trái lại chấp nhận bình đẳng giới tính.
Thật ra thì "đè nén" phụ nữ hầu như là
một đặc tính chung của văn hóa nhân loại. Cũng đúng thật rằng
phong trào nữ quyền là một hiện tượng mới và bắt nguồn ở Tây
phương. Ðiều này chứng tỏ rằng những hạt giống bình đẳng
giới tính cũng có hiện diện trong văn hóa tôn giáo và trong tâm
thức của người phụ nữ. Nhưng các điều kiện thuận tiện cho
tranh đấu nữ quyền phát triển ở Tây phương nhờ ở các thay đổi
về mặt trí thức, kinh tế, chính trị, xã hội. Những ai theo
rõi vấn đề này đều nhận thấy rằng tranh đấu nữ quyền hiện nay
không còn là một hiện tượng thuần túy Tây phương nữa. Những
người phụ nữ tự giác (self-conscious) ở khắp các nền văn hóa
đã bắt đầu đóng góp đáng kể cho việc xác nhận quyền lợi, phẩm
tính, và vai trò tích cực/lãnh đạo của người phụ nữ trong đủ
mọi phương diện của đời sống.
Bài viết ngắn này nhắm trình bày một
cách tổng quan những thái độ căn bản của truyền thống Phật Giáo
có liên quan đến các vấn đề then chốt về bình đẳng giới tính
và nữ quyền như đã nêu ra ở trên. Phật Giáo có một lịch sử
lâu dài hơn hai ngàn năm trăm năm và trải rộng ra trong nhiều
nền văn hóa khác nhau. Cho nên lập trường của Phật Giáo về bất
cứ một vấn đề gì cũng hết sức là đa dạng. Nói cách khác,
quan điểm và thái độ của người Phật tử còn chịu cả ảnh hưởng
của các nền văn hóa/tôn giáo trong các quốc gia mà Phật Giáo
có mặt như Ấn Giáo, Nho Giáo, Thiên Chúa Giáo, vân vân.
Ðức Phật thuyết giảng suốt gần nửa thế
kỷ. Giáo lý của ngài bao gồm các vấn đề từ triết lý, vũ trụ
quan, tâm lý học, nhận thức luận, chính trị, xã hội, kinh tế,
đạo đức, bình đẳng giới tính---vô cùng sâu rộng, vượt qua trí
tưởng tượng của một Phật tử Việt Nam bình thường. Ðể có
thể đóng góp một cách thiết thực cho nhân loại, để biến cộng
đồng Phật Giáo thành một cộng đồng khả kính, người Phật tử phải
có nhiệm vụ tìm hiểu, suy niệm về các khía cạnh phong phú của
Phật Pháp cũng như tạo điều kiện và phương tiện để thực hiện
những lời dạy của Ðức Phật trong đời sống. Phật Giáo không phải
chỉ là cúng kiếng cầu phước lễ bái. Thái độ ù lì, thụ
động, và giáo điều là những gì hoàn toàn tương phản với Phật
Giáo.
Xin trở lại với vấn đề phụ nữ.
Sự hiện diện và đóng góp của giới phụ nữ trong cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam là điều rất hiển nhiên. Trong các sinh hoạt tôn
giáo chúng ta thường thấy sự hiện diện của phụ nữ đông đảo
hơn là nam giới. Rủi thay, đây lại là một lý do để một
số người hạ thấp Phật Giáo. Rất nhiều người nói rằng "đến
chùa chán lắm, toàn là đàn bà." Ðây là một câu nói sặc
mùi kỳ thị giới tính (sexist) cũng như hoàn toàn vô nghĩa lý.
Thứ nhất, không bao giờ nghe ai nói "đến chùa chán lắm toàn là
đàn ông." Thứ nhì, cái phẩm chất của một tôn giáo tùy
thuộc khả năng và đức độ của giới lãnh đạo cùng với trình độ
hiểu biết và cách hành xử của các tín đồ của tôn giáo ấy.
Phẩm chất của một tôn giáo tuyệt nhiên không phải chỉ được qui
định bởi sự tham gia của giới tính. Cũng tựa như giá trị của
một trường đại học là ở nơi tài nguyên, thư viện, trường sở,
khả năng của ban giảng huấn, và trình độ của sinh viên.
Không có bằng cớ khách quan nào chứng minh rằng một trường đại
học có nhiều nữ sinh hơn nam sinh là một trường có phẩm chất
kém và ngược lại.
Nói chung, hiện nay sự hiện diện của phụ
nữ trong các cộng đồng Phật Giáo khắp thế giới rất là hiển
nhiên. Những phụ nữ này không chỉ tham gia với tư cách là
những tín đồ hay thí chủ mà còn là các tu sĩ và thầy dạy.
Nhưng kinh điển và truyền thống Phật Giáo mô tả người phụ nữ
ra sao? Trong lúc mà hầu hết các tôn giáo bị xem là có tính
cách phụ hệ (patriarchal), lập trường của Phật Giáo như thế nào?
Giáo lý Phật Giáo có thể đóng góp những gì cho sự bình đẳng
giới tính, cho nữ quyền?
Phụ nữ trong Ấn Giáo cổ thời:
Phật Giáo khởi thủy trong bối cảnh văn
hóa Ấn Giáo. Trên mặt tư tưởng Phật Giáo chia sẻ với Ấn
Giáo một số khái niệm nền tảng tuy rằng Ðức Phật đưa ra những
lối giải thích khác. Ðiểm dị biệt chính là ở chỗ Ðức Phật
không chấp nhận những cơ chế nghi lễ căn bản của Ấn Giáo đặt
trên nền tảng của hệ thống giai cấp. Ðiều này cũng đóng
góp cho quan điểm của Ðức Phật về nhân phẩm và vị trí của người
phụ nữ. Do đó, muốn hiểu thái độ của Ðức Phật về vai trò
của người phụ nữ, chúng ta cần có một khái niệm căn bản về
vai trò của người phụ nữ trong Ấn Giáo.
Ấn Giáo cổ thời dựa trên kinh Veda (khoảng
2000 -1500 trước công nguyên) là một thế giới quan nhấn mạnh về
nghi lễ tế tự. Theo tư liệu có được chúng ta biết rằng trong
các thần linh được thờ phượng có một số nữ thần; và trong số
các tác giả của những thánh thi có một số là phụ nữ.
Phụ nữ tương đối được kính trọng và được quyền tham dự vào đời
sống tâm linh. Nhưng bởi vì Ấn Giáo cổ thời nhấn mạnh vào
nghi lễ và tín niệm rẳng nghi lễ là bí quyết kiểm soát vũ trụ,
cho nên dần dà (vào khoảng từ 1000 - 700 trước công nguyên) xuất
hiện những kinh văn với những chỉ dẫn phức tạp về việc thực
hành nghi lễ.
Sự đào luyện các chuyên viên về nghi
lễ càng trở nên cần thiết. Chương trình đào luyện này đòi
hỏi nhiều thời gian và ở những trung tâm xa nhà với các chuyên
gia. Cho nên chỉ các đàn ông trong giai cấp tu sĩ mới được
hưởng đặc quyền này. Một trong các nghi lễ quan trọng nhất
của Ấn Giáo là tang lễ. Con trai được xem là thiết yếu trong
việc thi hành tang lễ để giúp vong linh người cha đạt được cõi
trời. Chính vì thế mà nẩy sinh ra các nghi lễ để ngăn chặn
việc sinh con gái, bởi vì con gái bị xem như gánh nặng cho gia đình
cho đến khi đi lấy chồng---nhiệm vụ chính yếu của người phụ nữ.
Vai trò của người phụ nữ là làm vợ và sinh đẻ (làm mẹ).
Người vợ phải hoàn toàn phục tùng chồng và cha mẹ chồng.
Mặc dù trong các kinh Upanisads (khoảng 700 - 200 trước công nguyên),
các kinh thư nhấn mạnh kinh nghiệm huyền bí (mystical) và khổ hạnh,
chúng ta thấy có đề cập đến một vài phụ nữ khổ tu, thế nhưng
khổ tu vẫn được xem là đặc quyền của nam giới. Một tâm
lý thường tình là các nhà khổ hạnh (hầu như của tất cả mọi
tôn giáo) đều xem phụ nữ là những "cám dỗ" cần tránh xa.
Ðến khi Phật Giáo và Kỳ-na Giáo (Jainism)
xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ năm trước công nguyên, như một
thành phần của nỗ lực củng cố cơ chế Ấn Giáo, các tu sĩ Ấn
Giáo bắt đầu soạn thảo ra các kinh thư (được gọi chung là dharma-sastras,
đại khái là các sách về qui luật tôn giáo) qui định đời sống
xã hội dựa trên các phép tắc mà họ soạn ra. Do đó, địa
vị của phụ nữ càng bị thấp đi. Theo những kinh thư kia, nhất
là các bộ có ảnh hưởng nhất xuất hiện vào khoảng 100 năm trước
công nguyên, phụ nữ không được phép đọc kinh Veda, không được
thi hành nghi lễ hay tế tự ngoại trừ với tư cách phụ trợ cho
đàn ông.
Nếu bảo rằng những kinh thư này (hay là
Ấn Giáo nói chung) chỉ toàn đưa ra những quan điểm tiêu cực có
tính cách kỳ thị phụ nữ thì cũng không công bình lắm. (Bởi
vì suốt lịch sử Ấn Giáo, cho đến hiện nay, lúc nào cũng có sự
hiện diện của các nữ thần và các thầy dạy đạo (guru) phái nữ
được tôn sùng bởi các tín đồ thuộc cả nam lẫn nữ giới).
Một cách hết sức vắn tắt, các kinh thư này hàm chứa những quan
điểm đa dạng về phụ nữ. Chẳng hạn, cũng có nhiều đoạn
nhấn mạnh về tầm quan trọng của người phụ nữ trong gia đình, khuyến
khích chồng phải kính trọng vợ, các nghi lễ không thể được thi
hành hoàn hảo nếu không có sự trợ giúp của người vợ, vân vân.
Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng theo quan điểm chung của
các kinh thư này thì địa vị của người phụ nữ vẫn hoàn toàn dưới
nam giới. Ðại khái là người phụ nữ luôn luôn cần được
"bảo vệ" bởi cha, chồng, hay con trưởng. Không bao giờ nên
để cho người phụ nữ được độc lập. (Ở đây chúng ta không
khỏi liên tưởng đến quan niệm "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng
phu, phu tử tòng tử" của nhà Nho). Nói tóm, các nhiệm vụ
của người phụ nữ chỉ là phục dịch chồng và chăm sóc nhà cửa.
Người phụ nữ phải luôn luôn vâng lời và kính trọng chồng dù
là người chồng bê tha hoang đàng. Người đàn ông có quyền
ly dị vợ, người phụ nữ lại không hề được phép ly dị chồng.
(Ðức Phật, trái lại, luôn luôn nhấn mạnh sự hỗ tương. Người
vợ có bổn phận đối với chồng. Người chồng cũng có những
bổn phận tương đương đối với vợ).
Thái độ của Phật Giáo:
Lúc Phật Giáo xuất hiện thì khái niệm
nghiệp (karma) đã mang những tầng lớp ý nghĩa đa dạng và sâu đậm
hơn là ý nghĩa "hành động nghi lễ" trong Ấn Giáo cổ thời.
Một trong ý nghĩa của khái niệm "nghiệp" mà Phật Giáo nhấn mạnh
là trách nhiệm cá nhân của con người về hành động của mình.
Nói tóm, theo quan điểm của Phật Giáo thì định mệnh của một người
sau khi chết (hay trong kiếp sau) là do nơi "nghiệp" (có nghĩa là
các hành động có ý chí và các hậu quả của các hành động này,
tức là nghiệp riêng) của người ấy cùng với sự trợ lực của
các "nghiệp" có tương quan với những người khác (tức là nghiệp
chung), chứ không giản dị được qui định bởi sự thực hành tang lễ
đặc biệt dựa trên vai trò của con trai trưởng như trong Ấn Giáo
cổ thời. Có lẽ phần nào vì quan điểm này (biểu lộ đa dạng
trong các nền văn hóa khác nhau) cùng với các dữ kiện kinh tế,
xã hội, cho nên đến tận ngày hôm nay đa số người ta vẫn vui mừng
khi sinh con trai hơn là con gái, hay là cảm thấy chưa trọn vẹn
nếu chưa có con trai.
Từ quan điểm của Phật Giáo cái nhu cầu
phải có con trai ít ra không còn là một thiết yếu nghi lễ nữa.
(Do đó, chúng ta nên lưu ý rằng trong các quốc gia mà phần đông
dân số theo Phật Giáo, chẳng hạn như Việt Nam, cái tinh thần trọng
con trai hơn con gái có thể được giải thích như sau: một là
vì nhu yếu chung của các xã hội nông nghiệp, cần con trai để có
nhiều bắp thịt cầy bừa. Hai là ảnh hưởng của Nho Giáo, một
thế giới quan chúa trọng nam khinh nữ. Người đàn bà vì lý
do gì không biết không sinh được con trai bị xem là một món hàng
khiếm khuyết, cũng là cái cớ để ông chồng mừng rỡ đi lấy vợ
khác "kiếm đứa con trai". Cái thái độ "phải có con trai"
này tuyệt nhiên không quan hệ gì với thế giới quan Phật Giáo
cả). Một ví dụ cụ thể trong kinh Phật là khi vua Pasenadi
buồn vì vợ ông là hoàng hậu Mallika---người sau này dẫn dắt chồng
vào Phật Giáo---sinh con gái, Ðức Phật đã trách nhà vua rằng
buồn phiền vì vợ sinh con gái là một thái độ hết sức sai lầm,
bởi vì một người con gái có trí tuệ và đức hạnh không những
không kém mà còn ưu việt hơn con trai.
Nói tóm lại, với sự xuất hiện của Phật
Giáo, người phụ nữ được nhiều kính trọng hơn và được xem là những
cá nhân (chứ không phải chỉ là những món đồ sở thuộc đàn ông).
Họ được nhiều độc lập hơn tự do hơn để tự theo đuổi nếp sống
mà họ lựa chọn. Phật Giáo Nguyên Thủy không xem người phụ
nữ giản dị như một công cụ sinh đẻ, và mục tiêu duy nhất của
người phụ nữ không phải chỉ là hôn nhân. Người phụ nữ
có quyền chọn không lập gia đình (mà người khác không nên dè
bỉu) và được quyền trở thành tu sĩ, nghĩa là theo đuổi đời sống
tâm linh. Một tập tục của Ấn Giáo là sati, hiện vẫn còn
lưu hành trong một số cộng đồng tín đồ, theo đó thì cách hành
sử cao thượng nhất của người vợ khi chồng chết là chịu chết theo
chồng trên giàn hỏa. Góa phụ không được phép tái giá và
bị xem là "điềm gở." Phật Giáo trái lại cho phép góa phụ
được tái giá.
Có một số tôn giáo xem hôn nhân như một
nhiệm vụ tôn giáo, một thánh lễ (sacrament). Hôn nhân có
nghĩa là người đàn ông và người đàn bà được Thượng Ðế kết hợp,
cho nên chết sống gì cũng cứ phải ở với nhau. Ly dị là một
tội lỗi. Thái độ của Ấn Giáo cũng thế, hôn nhân là một
nhiệm vụ tôn giáo, không phải là cơ hội để "lãng mạn."
(Ví dụ như đi quân dịch là một nghĩa vụ trong một quốc gia có chiến
tranh. Những người đi quân dịch đâu cần thiết phải thật sự
yêu nghề lính. Người ta không có quyền viện cớ là không
yêu nghề lính để không làm nghĩa vụ này hay là giải ngũ sớm
hơn hạn định!) Chính vì thế mà trong xã hội Ấn Ðộ có cái
tập tục hôn nhân được dàn xếp bởi gia đình chứ không phải do
hai người liên hệ tự quyết định. (Nếu xem hôn nhân là một
nhiệm vụ tôn giáo thì tập tục này chưa hẳn đã là chậm
tiến!)
Phật Giáo xem hôn nhân như một khế ước
(contract) giữa người đàn ông và người đàn bà. (Vì thế mà
hôn lễ không phải là một nghi lễ tôn giáo trong truyền thống
Phật Giáo. Gần đây có một số Phật tử làm hôn lễ trong
chùa. Ðiều này cũng không có gì là sai quấy, nhưng chúng
ta phải hiểu rõ lý lẽ đằng sau). Do đó, Phật Giáo tuy không
khuyến khích (bởi vì Phật Giáo nhấn mạnh từ bi, tôn trọng sự
hài hòa xã hội, hiểu rằng ly dị không phải là một biến cố vui
mừng) nhưng cho phép ly dị . Hơn nữa, Phật Giáo còn cho quyền
đàn bà ly dị đàn ông.
I. B. Horner, một trong hai vị phụ nữ tiên
phong trong việc truyền Phật Giáo qua Tây phương, một người có
công lớn với Phật Giáo, tóm lược những điểm chính của quan điểm
bình đẳng giới tính trong các kinh điển của Phật Giáo nguyên thủy
như sau:
Ðức Phật đạt giác ngộ là vì sự hữu ích
cho các tăng, ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ; ngài đã dạy Pháp cho
tất cả bốn nhóm này---trong thuật ngữ Phật Giáo gọi là "tứ
chúng". (Ðó là nhìn từ khuôn khổ nội tại của lịch sử Phật
Giáo. Từ một viễn cảnh rộng hơn, chúng ta có thể nói rằng
Ðức Phật đạt giác ngộ vì lợi ích cho chúng sinh thuộc tất cả
mọi giới tính, cho cả người xuất gia lẫn người tại gia).
Ðức hạnh hay thói xấu của "tứ chúng"
có ảnh hưởng tương tự đối với sự tồn tại hay diệt vong của trí
tuệ và tu tập Phật Giáo. Nói cách khác, một vị tăng, ni,
nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ, có trí tuệ, giới luật, tự tin, thực hành
Pháp đều có thể làm rạng rỡ cho cộng đồng Phật Giáo.
Phụ nữ có cùng những giới hạn và khả
năng tâm linh giống như đàn ông.
Ni có thể phát triển tâm linh giống như tăng.
Ðức Phật nói rằng mục tiêu của ngài
là làm sao cho tăng, ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ hiểu thấu, phân tích,
và giải thích Pháp một cách rành mạch.
Ðức Phật luôn luôn dạy những giáo lý
tương tự cho cả đàn ông lẫn đàn bà, đôi khi ngài còn nỗ lực
một cách đặc biệt để dạy giới phụ nữ.
Ðức Phật công nhận rằng phụ nữ có thể
đạt được các thành quả tâm linh cao. Bằng chứng là trong
nhóm các tín đồ của Ðức Phật có hàng trăm phụ nữ đạt được
những thành quả tâm linh khác nhau.
Ðức Phật nói rằng đời sống tâm linh thiết
lập bởi ngài sẽ không hoàn hảo nếu không có phụ nữ tu tập
giáo pháp.
Phụ nữ và việc xuất gia:
Phật Giáo là một trong những tôn giáo
đầu tiên có giáo đoàn cho ni giới (đại khái là nữ tu sĩ).
Giáo đoàn này được thành lập năm năm sau khi Ðức Phật thành
đạo. Hầu như người Phật tử nào cũng biết nguồn gốc của
giáo đoàn ni giới này là từ bà Maha-prajapati Gotami, dì và cũng
là kế mẫu của Ðức Phật. Sau khi Ðức Phật thành đạo, bà
Gotami trở thành một trong những đệ tử đầu tiên của ngài.
Bà đi theo Ðức Phật khắp mọi nơi cần mẫn tu học nổi tiếng là
người có trí tuệ và đức hạnh rất cao. Có rất đông phụ
nữ luôn luôn theo bên cạnh Gotami để học đạo.
Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì
bà Gotami đến gặp Ðức Phật để xin được chấp nhận cho phụ nữ
xuất gia. Bà xin ba lần, ba lần đều bị từ chối. Thế
rồi Gotami và nhóm phụ nữ theo bà cạo đầu, đắp y vàng để tỏ
ý thành khẩn và quyết tâm đến xin Ðức Phật. Lần này họ
gặp cả Ananda, thị giả của Ðức Phật. Ananda nói hộ cho Gotami
ba lần, lại cũng đều bị từ chối. Ananda thay đổi "chiến thuật"
và hỏi Ðức Phật rằng nếu phụ nữ xuất gia tu tập những lời của
chính Ðức Phật dạy họ có khả năng thành tựu tâm linh hay không.
Ðức Phật trả lời có và cho phép Gotami và nhóm phụ nữ theo bà
được xuất gia trở thành tu sĩ. Ðối thoại giữa Ananda và Ðức
Phật khẳng định một điểm quan trọng là Ðức Phật luôn luôn công
nhận rằng phụ nữ cũng có khả năng tâm linh chẳng khác gì nam
giới.
Việc Ðức Phật thoạt đầu ngần ngại không
chấp thuận lời yêu cầu của Gotami không thể được giải thích là
ngài có thái độ kỳ thị giới tính. Những lý do mà Ðức Phật
từ chối lúc đầu hết sức là phức tạp. Chỉ xin đưa ra một
lý do: Ðó là 2500 năm trước đây, thuở sơ khởi Ðức Phật
và các đệ tử của ngài sống như những nhà tu khổ hạnh "không
nhà". Lang thang trong rừng đêm đến ngủ dưới gốc cây.
Rừng rú lại đầy dã thú và đạo tặc, không thuận lợi lắm cho
giới phụ nữ. Kinh điển Phật Giáo còn ghi lại một số trường
hợp các vị ni bị đạo tặc hãm hiếp. Một số kinh điển cũng
ghi rằng sau khi chấp thuận cho Gotami xuất gia, Ðức Phật đặt thêm
tám giới luật đặc biệt cho ni giới. Những giới luật này
đại khái đặt địa vị của họ dưới tăng giới. Cũng có kinh
ghi lại lời "tiên tri" rằng vì có phụ nữ gia nhập giáo đoàn mà
Phật Pháp sẽ bị "giảm thọ" mất 500 năm. Trong khuôn khổ
của bài viết ngắn này, không tiện đi sâu vào chi tiết, tôi chỉ
xin vạch ra rằng đó là những thêm thắt sau này của các tác gia
Phật Giáo có đầu óc kỳ thị giới tính.
Tuy rằng Ðức Phật không hẳn là nhà sáng
lập tôn giáo duy nhất và đầu tiên chấp nhận cho phụ nữ xuất
gia, nhưng đó là một hành động rất cách mạng vào thời đó.
I. B. Horner nhận định rằng những gì mà Ðức Phật làm cho giới phụ
nữ "rạng rỡ như một ngọn đèn sáng trong lịch sử của tự do."
Ðiều mỉa mai là I. B. Horner và giới phụ nữ có đầu óc tiến bộ
hôm nay có thể cảm kích hành động của Ðức Phật, nhưng truyền
thống Ấn Giáo lại chỉ trích ngài là phá hoại trật tự xã hội.
Bởi vì theo quan điểm này vai trò cao cả nhất của phụ nữ là làm
vợ và làm mẹ. Cho phép phụ nữ độc lập theo đuổi đời sống
tâm linh thì còn ai để phục dịch đàn ông, rửa chén, nấu bếp,
sinh đẻ?
Trong kinh điển Phật Giáo nguyên thủy có
bộ Therigatha, ghi lại một số bài thơ, kệ tụng về kinh nghiệm
tâm linh của những người phụ nữ Phật Giáo ưu tú đầu tiên.
Những bài kệ tụng này vẫn được tụng đọc, nghiên cứu như những
gương sáng cho các thế hệ Phật tử đời sau. Những người phụ
nữ Phật Giáo đầu tiên này thuộc đủ tầng lớp: Từ những
người quí tộc có học, cho đến các nhà tu khổ hạnh, góa phụ,
nội trợ, những người bị chồng hất hủi, cho đến cả các kỹ nữ.
Mỗi người một kinh nghiệm riêng, mỗi người một hoàn cảnh riêng,
một tâm tư riêng, nhưng họ đều chia sẻ một điểm chung: tin
nơi Phật Pháp và khả năng tâm linh của chính mình như là người
phụ nữ.
Vị trí của phụ nữ trong truyền thống Phật
Giáo:
Những thái độ tích cực căn bản của Phật
Giáo về phụ nữ trên thực tế cũng được phản ánh trong các quốc
gia Phật Giáo. Trong tất cả các quốc gia Phật Giáo không
có sự cách biệt (segregation) giới tính. Trong nhiều tôn giáo
lớn hiện nay phụ nữ vẫn không được phép gia nhập tăng lữ giới
(priesthood). Trong một số xã hội, phụ nũ thậm chí còn bị
cấm không cho vào các nơi thờ phượng. Trong các quốc gia
Phật Giáo người phụ nữ có quyền công khai đi lại và tham gia
vào mọi sinh hoạt tôn giáo và xã hội chứ không bị kiểm soát
gò bó chẳng hạn như trong các quốc gia Hồi Giáo. Theo một
số bộ luật truyền thống của Tích Lan (một quốc gia Phật Giáo)
đàn bà được phép ly dị và lấy chồng sau khi ly dị. Góa phụ
cũng được phép tái giá và không có sự kỳ thị đối với góa
phụ.
Tuy thế chúng ta cũng không thể chối bỏ
được sự hiện diện của các thành tố phụ hệ và thái độ kỳ thị
giới tính trong các xã hội Phật Giáo ngày nay. Ðiều này
là bởi vì đặc tính phụ hệ của các xã hội mà Phật Giáo du nhập
(không có nghĩa là các xã hội mà Phật Giáo không du nhập thì
không như thế). Ðức Phật nói rằng đàn ông và đàn bà bình
đẳng. Thế nhưng đa số các xã hội Ðông phương vốn phụ hệ
cho nên các cộng đồng Phật Giáo của những xứ này cũng bị rập
theo khuôn mẫu đó. Do đó, quan điểm triết lý chung của Phật
Giáo là phụ nữ và nam giới là bình đẳng và họ đều có khả năng
tâm linh như nhau, trên thực tế vẫn có những kỳ thị giới
tính.
Ðiều này cho chung ta thấy rằng lý tưởng
và thực tại không phải bao giờ cũng đi đôi với nhau. Ðức
Phật công nhận phụ nữ bình đẳng với nam giới. Thế nhưng
trên thực tế, xã hội có cho người phụ nữ quyền bình đẳng hay
có đủ điều kiện và phương tiện để người phụ nữ thực hiện lý
tưởng này hay không lại là một chuyện khác. Quyền bình đẳng
của phụ nữ không phải chỉ giản dị được thực hiện bằng một lập
trường triết lý hay tâm linh mà còn tùy thuộc vào những điều
kiện xã hội, chính trị, văn hóa, tập tục, và tâm lý con người
nữa, và nhất là nỗ lực tích cực hữu thức của người Phật tử.
Nói tóm lại, những lý tưởng Phật Giáo không phải tự nhiên được
thành tựu (do quyền năng của chư Phật, Bồ-tát) mà phải do chính
các Phật tử thực hiện những lý tưởng ấy. Ðể có thể làm
được như thế, người Phật tử phải nỗ lực tạo ra những điều kiện
và phương tiện thuận lợi. Cũng tựa như những phát minh khoa
học, nếu như không hội đủ hoàn cảnh thuận tiện, thiếu những
hỗ trợ tài chính, những phát minh ấy cũng chỉ mai một đi trong
ngăn tủ của nhà khoa học mà thôi.
Do đó, tuy rằng Ðức Phật cho phụ nữ thụ
giới xuất gia hoàn toàn (nghĩa là trở thành tu sĩ). Giáo
đoàn ni giới được truyền từ Ấn Ðộ sang Tích Lan vào thế kỷ thứ
ba trước công nguyên. Truyền thống này kéo dài khoảng một
ngàn năm và trong thời gian này truyền qua Trung Quốc. Nhưng
vào khoảng thế kỷ thứ mười hay mười một sau công nguyên, giáo
đoàn ni giới Tích Lan, vì chiến tranh và các rối loạn chính trị,
không còn khả năng truyền giới nữa vì không có đủ số ni để
làm việc này. Thế rồi cũng không có nỗ lực để tái thiết
lập truyền thống này nữa.
Ngày nay truyền thống truyền giới toàn
phần cho phụ nữ chỉ còn ở các xứ theo Phật Giáo Ðại Thừa như
Ðài Loan, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa, và Việt Nam chứ không
còn ở các quốc gia theo truyền thống Nguyên Thủy (hay Theravada
mà các Phật tử Việt Nam thường gọi một cách không chính xác
là "Tiểu Thừa"). Ở các quốc gia này phụ nữ chỉ được thụ
giới "bán phần" thôi. Ngay cả ở Tây Tạng, phụ nữ không
thể vượt qua được giai đoạn "tập sự" (thuật ngữ Phật Giáo gọi
là sa-di ni).
Một số phụ nữ ở các quốc gia này thường
lý luận rằng họ chỉ muốn trở thành Phật tử chứ không cần phải
là phụ nữ Phật tử. Vấn đề bình đẳng hay giới tính hoàn
toàn không liên hệ gì đến sự thành tựu tâm linh. Họ chỉ
quan tâm đến tâm linh chứ không tranh giành "bình đẳng" hay địa
vị gì cả. Lý luận này thoạt nghe có vẻ như bày tỏ một thái
độ không chấp trước. Phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy nó không
không vững vì những lý do như sau:
Một là trên thực tế vẫn có rất nhiều
phụ nữ muốn được thụ giới xuất gia làm ni. Lối suy nghĩ
của những phụ nữ này hết sức là chính xác, bởi vì một giáo
đoàn Phật Giáo mà thiếu sự hiện diện của phụ nữ là một giáo
đoàn không thể hiện được một xã hội bao gồm cả "tứ chúng" như
lý tưởng mà Ðức Phật đề ra. Hai là lý luận trên biểu lộ
một thứ thái độ chịu đựng tiêu cực kết quả của một tâm thức
bị đè nén. Phụ nữ trong một số cộng đồng Phật Giáo kể
cả cộng đồng Phật Giáo Việt Nam thường được khuyến khích nuôi
dưỡng những hình ảnh tiêu cực về chính mình. Ðại khái như
sinh ra là đàn bà là kết quả của những nghiệp xấu. Lối
tu tập duy nhất dành cho đàn bà là tụng niệm, cầu xin, chịu đựng,
phục dịch, để hi vọng kiếp sau được sinh làm đàn ông.
Nhưng như chúng ta đã thấy, người phụ nữ
bị đè nén, kỳ thị, và luôn luôn phải chịu đựng những thiệt thòi
là hậu quả của những khía cạnh chậm tiến bất công của một số
xã hội Ðông phương. Chúng ta không thể dùng triết lý Phật
Giáo ra để biện bạch hay chấp nhận tệ trạng này. Ðiều may
mắn là đa số các phụ nữ hiện thời, nhất là các phụ nữ Tây
phương theo Phật Giáo (đa số có giáo dục cao), hiển nhiên không
chấp nhận nuôi dưỡng những hình ảnh tiêu cực về người phụ nữ.
Trái lại, họ tiếp tục tìm hiểu, giải thích quan điểm Phật Giáo
về phụ nữ và tạo điều kiện để thực hiện quan điểm này trong
đời sống. Ðiều này chứng tỏ như Ðức Phật đã nói những
người Phật tử có trí tuệ, giới luật, tự tin làm rạng rỡ cho
Phật Giáo. Chúng ta có thể nói thêm rằng, ngược lại những
người Phật tử thụ động, thủ cựu, bạc nhược chỉ làm cho Phật
Giáo chậm tiến thôi.
Những nghiên cứu về Phật Giáo hiện đại
cho thấy rằng trên toàn thế giới, giới phụ nữ trong Phật Giáo
(cả tu sĩ lẫn cư sĩ) không còn cam tâm chấp nhận những bất công
nữa. Họ tham gia tích cực vào nhiều phạm vi sinh hoạt.
Sự đóng góp của họ nằm trên mọi lãnh vực từ học thuật, tu
tập cho đến các họat động xã hội. Họ không ngừng khai phá
lại xác định lại vai trò của người phụ nữ trong Phật Giáo.
Họ không hài lòng chỉ làm những người đi theo mà còn đảm nhận
cả vai trò lãnh đạo. Họ đã đem lại những thay đổi cho nhiều
thái độ và lối suy nghĩ.
Kết Luận:
Nếu như chúng ta có thể dùng một loại
suy, như đã sử dụng ở trên, một cộng đồng tôn giáo cũng như
một đại học. Người Phật tử Việt Nam thử đặt câu hỏi là
chúng ta có thư viện phong phú không? ban giảng huấn có khả năng
không? trình độ sinh viên có cao không? Quan sát những thực
tại Phật Giáo Việt Nam khó lòng cho phép chúng ta trả lời là
có.
Không thể nói là trong giới phụ nữ Phật
Giáo Việt Nam không có người có học cao. Nhưng mà khi quay
về Phật Giáo thì, cũng y như nam giới, đa số không có ý chí tìm
hiểu để vượt qua một vài khái niệm lỗi thời giam nhốt Phật
Giáo vào trong một mớ nghi lễ mòn mỏi. Tệ hại nhất là
ngay cả những phụ nữ có học và độc lập cũng chấp nhận những
những hình ảnh rất tiêu cực về phụ nữ. Nhiều người thậm
chí còn xem việc khinh thường vị trí và thân xác đàn bà là một
đức hạnh.
Những thái độ trên chỉ là hậu quả của
sự hiểu biết hạn hẹp, thiếu sót về Phật Giáo của chính những
Phật tử. (Ðề tài này sẽ được phân tích trong những bài
viết khác). Cộng đồng Phật Giáo Việt Nam cần tạo điều kiện
để huấn luyện cho người phụ nữ hiểu thêm về Phật Giáo cũng
như vai trò và tiềm năng của họ như những người phụ nữ Phật
Giáo.
Trong số những phụ nữ đang đóng góp rất
tích cực trong các cộng đồng Phật Giáo thế giới hiện nay bao gồm
các phụ nữ thuộc rất nhiều quốc gia từ Ðông sang Tây. Có
điều đáng tiếc là hình như chưa thấy có người nào thuộc cộng
đồng phụ nữ Phật tử Việt Nam cả.
QUAN ÐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ PHỤ NỮ
|