|
Vị tăng già dưới bóng
chùa Viên Minh
[01.06.2008 07:12]
Gần 100 năm tu hành nơi thôn dã, lấy việc cày cấy làm vui,
coi chuyện kinh sách làm nghiệp, buông tay cày cầm tay bút,
sáng kinh tối kệ, một lòng trung trinh hướng Phật. Đó là mấy
nét phác thảo về bức chân dung Đức Pháp chủ Đại lão Hoà
thượng Thích Phổ Tuệ tụ trì chùa Viên Minh, tục gọi là chùa
Ráng (xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây).
Đặt chân vào chùa chợt nghe thấy tiếng bầy chó sủa lao xao
báo có người khách lạ, tôi như người chợt tỉnh giữa cơn mê
khi nhận ra mình đang đứng trong sân một ngôi chùa nhỏ đơn
sơ ở giữa miền thôn quê thảo dã. Đưa mắt nhìn quanh không
thấy cảnh chuông vàng tượng ngọc, chỉ có mấy nếp nhà nhỏ lợp
ngói đỏ đơn sơ, vườn rau ao cá, bến nước cầu ao… đúng với
cảnh của một ngôi chùa làng xứ Bắc. Nhìn cảnh chùa đơn sơ
thực lòng tôi không dám nghĩ đó lại là nơi ở của một vị tăng
già đức cao đạo trọng như Hoà thượng Thích Phổ Tuệ.
Trong lúc lòng đang nghĩ vẩn vơ, tôi chợt thấy Hoà thượng
bước ra trong bóng áo cà sa rực vàng như nắng sớm. Ngài nhẹ
nhàng ngồi xuống trước mặt tôi, thân xác gầy khô như tượng
mộc nhưng thần khí vẫn tinh anh, miệng niệm Bồ Tát, tay lần
tràng hạt với dáng điệu thảnh thơi siêu thoát.
Hoà thượng vốn là người ở làng Phùng Thiện, xã Khánh Tiên,
huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Ngài sinh năm Đinh Tỵ
(1917), lên 5 tuổi vì có duyên với Phật nên đã sớm xuống tóc
quy y, sau lớn lên bôn ba tìm thầy học đạo khắp các chốn Tổ
đình ở miền Bắc, mãi đến năm 1936 mới về chùa Viên Minh nhận
sư tổ Thích Quảng Tốn - trụ trì đời thứ hai của chùa Viên
Minh - làm sư phụ. Năm 1961, sư tổ Quảng Tốn viên tịch, Hoà
thượng kế nghiệp thầy trở thành trụ trì đời thứ ba và tu
hành ở đấy suốt hơn 70 năm qua cho đến tận bây giờ.
Hầu chuyện Hoà thượng một hồi lâu tôi ngỏ ý muốn được cùng
Ngài dạo bước thăm cảnh vườn chùa, nơi có bóng tre xanh và
những cây nhãn cổ thụ tròn xoe bóng mát. Ngài mỉm cười gật
đầu rồi bước vào trong thay chiếc áo cà sa bằng bộ nâu sồng
giản dị. Lúc này trông Ngài chẳng khác mấy một lão nông luôn
quen việc cấy cày.
Tìm hiểu tôi mới biết Ngài cũng là người thạo việc đồng áng.
Dân trong vùng cho biết trước đây khi sức khoẻ còn tốt,
ngoài việc sớm hôm đèn hương kinh sách hầu Phật, ngài còn tự
chăm lo cày cấy nuôi thân. Đến năm 80 tuổi mới chịu thôi cày
ruộng, nhưng vẫn liên tục làm vườn cho đến tận ngày nay.
Chính vì vậy Ngài vẫn thường tự trào mình là một lão “nông
tăng”. Và có lẽ vì thế mà Ngài thường dạy đệ tử rằng: “Sống
ở đời phải biết lao động, nếu chúng sinh tất thảy đều lười
biếng thì biết lấy gì để nuôi nhau. Và khi không có ăn thì
đời tất sinh biến, mọi lỗi lầm u chướng rồi cũng từ đó mà ra”.
Không chỉ giỏi việc nhà nông, Ngài còn là người thâm sâu,
uyên bác, Phật pháp tinh thông. Cả cuộc đời Ngài đã cống
hiến hết mình cho Phật sự và chúng sinh. Bên cạnh đó, Hoà
thượng còn tham gia trước tác, dịch thuật và hiệu đính nhiều
công trình Phật học có quy mô, cũng như làm giảng sư cho
nhiều trường Phật học lớn trong cả nước. Nói đến chuyện học
của giới tăng ni, Ngài bảo thời nay ai nấy đều có cơ hội
được học hành tốt hơn trước. Tuy nhiên, cuộc sống bây giờ có
quá nhiều điều cám dỗ cho nên nhiều lúc nó cũng dễ làm cho
con người ta sai lạc đường tu, vì vậy hơn ai hết chúng tăng
ni sinh phải biết phấn đấu phát huy tinh thần tu học để bồi
bổ tâm hồn và trí tuệ.
Khi được hỏi về chuyện Phật sự thời nay Ngài cho biết, Phật
giáo đời nào cũng vậy, thịnh suy tuỳ thời. Ngày nay Phật
giáo được chấn hưng vì nhờ có quốc gia hưng thịnh. Lòng
người Phật tử hân hoan tự do tu hành, lấy phương châm “đạo
pháp – dân tộc và chủ nghĩa xã hội” để cùng nhau đoàn kết
phụng đạo giúp đời. Âu đó cũng là cái hồng phúc của Giáo hội
thời nay vậy.
Trong câu chuyện với Hoà thượng, tôi thường thấy Ngài nhắc
nhiều tới hai chữ “tứ đức”, tức bốn điều ân nghĩa lớn ở đời
là “ơn cha mẹ, ơn thầy cô, ơn Tổ quốc, ơn xã hội”. Bởi theo
Ngài, thân thể của con người ta không thể tự sinh ra, lớn
lên và trưởng thành, cho nên ta phải biết ơn những người đã
vì ta mà cống hiến. Lấy ví dụ như chuyện ăn bát cơm phải nhớ
người cày ruộng, có được cuộc sống ấm êm trong cảnh hoà bình
phải biết đến công lao của tổ quốc… Thế mới biết cái tâm của
Ngài dung dị mà cao cả đến nhường nào.
Càng đi với Ngài, tôi lại càng phát hiện ra nhiều điều thú
vị. Ngắm bóng Ngài liêu xiêu in trên nền gạch đỏ, nhìn tấm
áo nâu sồng đơn sơ giản dị mà Ngài đang khoác trên mình tôi
chợt nghĩ không biết 2500 năm trước Đức Phật Thích Ca ăn mặc
như thế nào, và trên thế giới này không biết ở đâu có vị
Pháp chủ nào giản dị mà uyên bác đến thế hay không.
92 tuổi đời, 87 năm gửi mình nơi cửa Phật, sáng kinh tối kệ,
ngày đôi bữa rau dưa, tu đạo nhưng không quên đời, gần đời
mà không để tầm thường đạo. Bây giờ dẫu đã ở trên ngôi cao
nhưng Ngài vẫn giữ một lòng thanh bạch, rạng ngời. Ấy là cái
đức sáng của một bậc chân tu, cái phúc lớn cho Giáo hội.
|