|
“Sinh tử thị ba đào”
SINH TỬ ĐẠI SỰ Vĩnh
Hảo
NGHĨ
VỀ SỐNG-CHẾT Cuộc sống như
thế có một vẻ mâu thuẫn một cách buồn cười. Chúng ta
chuẩn bị rất kỹ cho một bất trắc có thể xảy ra bất
cứ lúc nào, xem ra thì giống như nhà đạo ý thức về vô
thường; mà kỳ thực, những chuẩn bị này chỉ là để
tiếp tục vui sống trong ảo tưởng về một cuộc đời
chắc thật, bền vững. Chúng ta chuẩn bị, nhưng chẳng
chuẩn bị gì cả. Hăm hở chạy theo những kéo lôi của
ngoại cảnh và sự thúc giục của dục vọng bản năng. Thành
tựu được tí ti đã mừng rỡ, huênh hoang; mất đi chút xíu
đã buồn rầu, áo não. Kỷ niệm ngày sinh thì tưng bừng
tiệc tùng, quà bánh, rượu chè, chúc tụng không ngớt—làm
như là sự có mặt của mình trong cuộc đời đã thay đổi
được thế giới tốt đẹp hơn, hoặc mang lại lợi ích
cho muôn loài vậy! Ngày chết thì than khóc sầu bi thống
thiết—làm như là sinh ra ở đời để mà bất tử trường
sanh vậy! Sinh thì cười, tử thì khóc. Được thì mừng,
mất thì khổ. Thắng thì vui, thua thì buồn. Sắc thân, cảm
giác, tư tưởng, hành nghiệp và ý thức của chúng ta sao mà
tội nghiệp, cứ bấp bênh bập bềnh như bèo bọt mây nổi!
Vậy mà rồi, sự sinh và sự tử, trong tư tưởng cũng như
trong sinh hoạt hàng ngày của chúng ta, trở thành chuyện
lớn. Mà chuyện lớn ở đây lại không giống như chuyện
lớn của thiền gia. Chúng ta không biết, hoặc giả vờ không
hay biết, rằng ngày sinh chẳng qua là ngày đánh dấu một bước
gần hơn với ngày tử. Ngày ấy, sau một năm dài, hẳn là
thành kiến, tư dục sẽ nhiều hơn năm trước. Những vọng
chấp về bản ngã và những thuộc tính của ngã hẳn là dày
thêm một lớp. Có chi để mừng vui! Thế rồi, chuyện
sinh-tử trong mọi thời đại, mọi xứ sở, luôn là cơ
hội cho những thành tựu của thương nghiệp: thiệp chúc,
quà tặng, bệnh phí, áo quan và những buổi tiệc vui, buồn… Một triết gia
phương tây từng nói, “hãy
sống như thể ngày mai mình sẽ chết.” Sống như thế
nào mới gọi là sống? Hay là ý thức về cái chết của ngày
mai như thế chỉ khiến chúng ta mất ngủ từng đêm vì không
làm được gì xứng đáng ngày hôm nay? Người Tây
Tạng cũng thường chiêm nghiệm trước giấc ngủ, “ngày
mai hay đời sau, chưa biết cái nào sẽ đến trước.”
Thế nhưng, mỗi sớm mai thức dậy, chúng ta tiếp tục một
ngày mới với những hăng say miệt mài tom góp, tích lũy, giành
giật, tranh thắng, mưu lợi, thù ghét, hờn giận… đâu
biết rằng một đêm dài kia có thể là khoảng thời gian bước
vào đời sống sau trong mê mờ mộng tưởng. Đó là nhận
thức về vô thường và cái chết. Nhận thức như vậy không
phải để buông xuôi, thụ động, hoặc vội vàng thụ hưởng
để rồi gieo rắc nhân khổ cho mình và cho người, mà chính
là để hướng về cái chân thường, bất diệt, bất sinh.
Cái gì có sinh tất có diệt, có tụ tất có tán. Không làm
gì có một cái sinh ra mà còn mãi. Cũng không làm gì có
một cái mất đi mà vĩnh viễn tiêu tán. Nếu sinh là vô thường
thì diệt cũng vô thường. Nếu vui là vô thường thì khổ
cũng vô thường. Niềm vui thông thường của chúng ta mà thường
hằng thì khi vui sẽ vui mãi; cũng vậy, nỗi khổ mà thường
hằng thì khi khổ sẽ khổ suốt không bao giờ dứt. Nhờ vô
thường mà có vui có khổ, có sự hết vui và hết khổ. Do
đó, cũng nên cảm ơn vô thường, xem vô thường như người
bạn thiết trong cuộc đời cũng như trong nẻo đạo. Nhưng cũng đừng
dể duôi khi gần gũi với người bạn thiết này, vì y có
thể mang lại niềm vui đồng thời cũng làm cho ta khổ đau
không ít nếu việc sinh-tử không được thấu đạt. Nhà
thiền thường nói “sinh
tử đại sự” – sinh tử là việc lớn. Không phải là
xem trọng cái ngày mình sinh ra hoặc là mừng ngày kỷ niệm
tròn tuổi sinh ra, dù là một tuổi, ba mươi tuổi, năm mươi
tuổi hay trăm tuổi, với tiệc mừng linh đình, hỉ hả. Cũng
không phải lấy làm hệ trọng cái việc tử biệt, bày
biện hình thức lễ nghi, chôn cất, xây mồ xây mả uy nghi
bề thế. Sinh tử sở dĩ là việc lớn đối với người
thế tục là vì nó chi phối hầu hết cuộc sống, bao gồm
niềm vui nỗi khổ, thắng trầm, thành bại… từ lúc sinh
ra cho đến khi chết; còn đối với nhà đạo thì nó không
nằm ở nơi việc sinh hay tử mà chính là “thoát ly sinh
tử.” Đại sự của hành giả tu tập là vượt lên
sống-chết chứ không gì khác. Cho nên, nói “sinh tử đại
sự” là vì từ nơi sống-chết có thể liễu ngộ được
tính chất không thực, huyễn hóa của mọi sự mọi vật; nói
cách khác, từ nơi tính không mà vượt lên sống-chết,
bởi vì bản chất của sống-chết vốn là không. Đức Phật nói
mạng sống nằm trong hơi thở. Nói vậy cho dễ hình dung. Còn
nói một cách triết lý là sát-na sinh diệt—vạn hữu sinh
diệt trong từng sát-na. Người đời đối với việc sống
thì ham, đối với việc chết thì sợ; do đó mà bày tỏ
cảm giác mừng-lo với sinh-tử. Nhà đạo nhìn thấy
sinh-tử trong từng hơi thở, có gì để mừng vui hay lo
lắng! Cho nên, thật là
cảm động là trong xã hội hiện đại, có một bậc thầy,
khi sống thì mấy chục năm đạm bạc nơi tịnh thất, chỉ
chăm lo việc đào tạo tăng tài và phiên dịch kinh điển;
trước khi mất thì di chúc là không cần xây tháp mà dùng
tiền xây tháp để tài trợ cho việc trước tác dịch
thuật và ấn hành kinh sách. Sinh và tử như thế là sự
ra-vào tự tại của một lữ khách trong tam giới. NGHĨ
VỀ NGÀY TAM HỢP Theo truyền
thống Nam tông (Theravada), cuộc đời đức Phật có ba sự
kiện hệ trọng được ghi nhận là xảy ra trong cùng ngày
rằm tháng tư (Vesàkha). Ba sự kiện ấy là đản sinh, thành
đạo và nhập niết-bàn. Mỗi năm, khi truyền thống Bắc tông
tổ chức kỷ niệm lễ Phật Đản vào ngày rằm tháng tư
thì cũng trùng hợp với lễ Tam Hợp của Phật giáo Nam tông.
Phật-lịch cũng được căn cứ theo Lễ Tam Hợp mà tính. Cuối năm 1999, vào
ngày 15 tháng 12, Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết công nhận
Lễ Tam Hợp là ngày lễ quốc tế. Như vậy, về mặt nội
dung, dù Liên Hiệp Quốc có công nhận hay không, Phật giáo
vẫn là Phật giáo, là tôn giáo của từ bi, giác ngộ, khoan
dung và hòa bình từ hơn 2500 năm qua; nhưng về mặt hình
thức, Phật giáo chính thức bước vào cộng đồng quốc
tế vào thế kỷ 21, tức từ năm 2000 trở đi. Đây là một
bước đi khá chậm trễ, nhưng trong một ý nghĩa nào đó,
người ta có thể suy diễn rằng trong chiều hướng khủng
hoảng, xung đột trầm trọng và có nguy cơ cho thế chiến
thứ ba phát sinh từ sự bất khoan dung tôn giáo từ đầu
thế kỷ này, sự góp mặt lên tiếng của Phật giáo là điều
cần kíp, thích ứng, nhằm khai mở con đường của khoan
dung, từ ái thực sự. Nói theo phương
châm “sinh tử đại sự” thì sự việc này cũng chẳng có
gì đáng để mừng vui hay tủi nhục đối với hành giả đang
hạ thủ công phu, quyết tâm giác ngộ. Nhưng trong tâm thức
thông thường của người con Phật khắp nơi, Lễ Tam Hợp
của Liên Hiệp Quốc quả là dấu hiệu tốt đẹp cho sứ
mệnh hòa bình của Phật giáo, và trên hết, cho sự hoằng
truyền của chánh đạo trên cõi đời ô trược vô minh. Sinh được như
đức Phật, thị hiện nơi đời để soi sáng con đường
giải thoát giác ngộ cho sinh linh vạn đại; tử được như
đức Phật, an nhiên dưới cội ta-la với những lời giáo
huấn tối hậu khai mở con đường siêu xuất thênh thang, thì
hãy vui mừng, ca tụng tán thán, vì cái sinh cái tử như
thế, đều là sự tỏa chiếu rạng ngời của tuệ giác siêu
việt mà ngài đã chứng nghiệm dưới cội bồ đề. Lễ Tam Hợp
quốc tế lần đầu tiên được chính thức tổ chức tại
trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Nữu Ước, Hoa Kỳ năm 2004;
ba năm tiếp theo, 2005, 2006 và 2007 đều được tổ chức
tại Bangkok, Thái Lan. Nói một cách
biểu trưng, hình thức, Lễ Tam Hợp của Liên Hiệp Quốc
tổ chức nơi đâu thì ngọn đuốc giác ngộ của Phật giáo
soi chiếu nơi đó. Thái Lan là một nước Phật giáo truyền
thống lâu đời, thắp ngọn đuốc giác ngộ nơi đó cũng là
chuyện bình thường. Cần nhất là thắp lên ở những nơi
u tối, nơi mà ánh sáng giác ngộ chưa hề soi đến, hoặc
đã được thắp sáng nhưng bị bao phủ bởi cuồng tín, vô
minh. Vậy thì, thật
là vui khi nghe tin chính phủ Pakistan chính thức tổ chức
lễ Phật Đản tại quốc gia Hồi giáo này trong tháng 5, năm
2007 vừa qua. Chính phủ này cũng đã tài trợ cho việc
phục hồi các thánh tích quan trọng của Phật giáo trên toàn
xứ sở; ngoài ra, còn sẽ chủ trì cho Hội nghị thường niên
của Phật giáo Quốc tế tổ chức tại Islamabad, thủ đô
của Cộng Hòa Hồi Giáo Pakistan vào tháng 10 năm 2007. Và cũng thật là
vui khi nghe tin chính phủ Việt Nam đã đăng cai tổ chức
Lễ Tam Hợp của Liên Hiệp Quốc lần thứ 5, vào tháng 5 năm
2008 tại Hà Nội, và đã được đại hội chính thức
chuẩn thuận thông qua quyết nghị Bangkok 2007. Người ta có
thể nhăn mặt lên án, chỉ trích, xuyên tạc niềm vui này,
cho rằng nó thuần túy quá, hoặc không sáng suốt vì chưa
được thông qua những lớp vỏ của tính đấu tranh, chiến
lược, quan điểm chính trị, xã hội… và bức tường thành
của nghi kỵ, ngờ vực, hận thù, v.v… Có lẽ vì e ngại
sự lên án này mà thông tin về Lễ Tam Hợp của Liên Hiệp
Quốc lần thứ 5 tại Việt Nam không được đón nhận và
truyền bá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông
tại hải ngoại, dù là của Phật giáo hay không Phật giáo. Riêng tôi, không
thể không ghi lại niềm vui của mình nơi đây, niềm vui
của một người con Phật, nhìn thấy ánh đạo vàng của
bậc đại giác soi tới những nơi cần thiết nhất. Bóng
tối đã phủ lấp hơn nửa thế kỷ trên quê hương thống
khổ. Bạn đã làm gì để phá đi bóng tối ấy? Nếu bạn
không thắp sáng được vì đèn đuốc của mình quá yếu,
tại sao không vui khi người trong bóng tối tự thắp sáng
cho chính họ bằng ánh sáng của đức Thế Tôn? Phản đối
hoặc lên án ngoại đạo và kẻ ác khi họ làm điều lành
chẳng khác gì nhân danh người lành mà làm việc ác; cũng
chẳng khác gì lên tiếng với kẻ vô minh rằng, này quý
vị, đừng sử dụng ánh sáng của Phật, hãy sáng lên hoàn
toàn đi, rồi chúng tôi sẽ mang ánh sáng giác ngộ của ngài
đến cho quý vị. Nếu họ đã sáng rồi thì không cần ánh
sáng của Phật nữa. Chính vì thế gian tăm tối cuồng
vọng mà đức Phật thị hiện đản sanh. Ánh sáng giác
ngộ của Phật không ngại gì bóng tối thế gian mà không
đến. Chẳng có bóng tối nào có thể làm giảm đi năng lượng
và giá trị của ánh sáng. Người con Phật với tâm lượng
từ bi, khoan dung sẵn có, không thể tự cho mình đặc
quyền thủ đắc việc vinh danh những giá trị nhân bản
phổ quát mà Phật giáo đã mang lại cho thế gian đầy bạo
động và thống khổ này. Điều cần làm
là mỗi cá nhân tăng sĩ hay phật-tử Việt Nam trong và ngoài
nước, phát huy nội lực tự thân, tỏa sáng năng lượng
từ bi, kham nhẫn, bình đẳng và giải thoát của mình để
cúng dường đức Phật trong ngày Lễ Tam Hợp sắp tới,
giới thiệu nền văn hóa Phật giáo đặc thù của dân tộc
đến với phật-giáo đồ và nhân loại khắp năm châu. Phật giáo Việt
Nam, tự hào với lịch sử 2000 năm và 80 phần trăm dân số,
phải là ngọn đuốc sáng ngời phẩm tính giác ngộ giải
thoát, trước hết là để chánh pháp xương minh trường
tồn, thứ nữa là góp phần kiến tạo một thế giới hòa
bình, an lạc tại nhân gian. Được vậy sẽ không cô phụ
“đại sự nhân duyên” của đức Phật trong việc thị
hiện đản sanh, thành đạo và niết-bàn từ hơn 2500
năm trước. Một con chim bồ
câu đáp xuống bên bờ hồ, lững thững qua lại chỗ mấy
con vịt và ngỗng đang chăm chú mổ những mẩu bánh nhỏ
của một cụ già ngồi ghế công viên. Bồ câu có vẻ lạc
lõng nơi cuộc sống ao hồ tù đọng. Nhưng chỉ một thoáng
sau, đã thấy có nhiều bồ câu khác đáp xuống. Chúng đến
đây không phải để tìm thức ăn. Có vẻ như là một
cuộc ghé ngang, ngơi nghỉ. Những bộ lông trắng sáng lên
giữa trời nắng hạ. Tôi vẫn suy nghĩ
về sự đục ngầu của nước hồ nơi đây. Tại sao người
ta không làm cho nước lưu thông nhỉ? Nếu được lưu thông,
nước hồ sẽ trong mát hơn, và mùi sình lầy sẽ giảm đi.
Có lẽ những người có trách nhiệm của công viên thành
phố, một lúc nào đó cũng phải tìm ra một phương cách để
làm cho nước sạch hơn. Nơi nhà thủy
tạ phơ phất gió, thỉnh thoảng có thể thoáng ngửi được
hương mộc lan từ xa lan đến. Nhìn xuống hồ nước đục
ở một độ nghiêng, tôi thấy mặt hồ bóng lên như gương;
nơi đó, phản hiện một bầu trời xanh ngát. Fountain
Valley, 15 tháng 6, 2007. |