Tên gọi của
Đức Phật là « Thích-ca Mâu-ni » có nghĩa là « Bậc
Tịch tĩnh trong họ Thích-ca »,
« Trí
giả trầm lặng trong họ Thích-ca »,
chữ Phạn mauni
có nghĩa là
yên
lặng.
Phật còn có tên là « Mahamuni » :
Maha
là lớn, « Mahamuni »
là « Bậc yên lặng
Lớn lao »
hay vị « Đại Thánh
nhân của Yên lặng ».
Thật vậy, Phật là một vị Tịch Tĩnh, một Trí giả trầm
lặng và những lời Phật dạy đều nhắm vào mục đích dẫn
dắt chúng sinh đến cõi an vui và êm ả, an bình và
phẳng lặng. Tất cả mọi ngôn từ đều già nua và tan
biến, đều sinh và tử, chỉ có yên lặng là trường tồn
và sinh động : cái yên lặng của Phật từ hơn hai ngàn
năm trăm trước vẫn còn nguyên trong lòng chúng ta
hôm nay, nếu chúng ta biết nhìn thấy nó và lắng nghe
được dư âm của nó trong ta.
Sự yên
lặng đó được chứng minh qua cách sinh sống của Phật,
hiển lộ trong từng hành vi của Phật, bàng bạc trong
những lời giảng huấn của Phật. Sự yên lặng ấy mênh
mông như không gian và vô tận như thời gian. Ta hãy
thử cố gắng tìm hiểu một phần nào ý nghĩa của sự yên
lặng lớn lao đó qua Đạo Pháp của Phật, vì biết đâu
sự yên lặng vô biên ấy chính là sự giải thoát.
Yên lặng trước những
câu hỏi
Có một số
câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài
không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô
ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện
luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết
quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa
đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau,
đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng
thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước
Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong
lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che
chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy
ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận
hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14
câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp :
1- Vũ trụ có
trường tồn bất diệt hay không ?
2- Vũ trụ không
trường tồn bất diệt ?
3- Vũ trụ đồng
thời vừa trường tồn bất diệt, vừa
không-trường-tồn-bất-diệt ?
4- Vũ trụ đồng
thời vừa không-trường-tồn-bất-diệt cũng không phải
là không-trường- tồn-bất-diệt ?
5- Vũ trụ có biên
giới hay không ?
6- Vũ trũ có vô
biên hay không ?
7- Vũ trụ đồng
thời vừa có giới hạn lại vừa vô biên ?
8- Vũ trụ đồng
thời không phải là có giới hạn, nhưng cũng không
phải là không có giới hạn ?
9- Sự sống và
thân xác là một thứ như nhau ?
10- Sự sống và thân
xác có phải là hai thứ khác nhau ?
11- Một sinh linh
được giải thoát có hiện hữu sau khi chết hay không
?
12- Một sinh linh
được giải thoát không còn hiện hữu sau khi chết ?
13- Một sinh linh
được giải thoát hiện hữu nhưng đồng thời cũng không
hiện hữu sau khi chết ?
14- Một sinh linh
được giải thoát, đồng thời không hiện hữu cũng
không phải là không-hiện-hữu sau khi chết ?
Trên đây là
những gì Kinh
Cula-Malunkya-sutta
đã ghi chép lại, bộ kinh này trình bày «
Những câu hỏi vô ích
» do một đệ tử của Phật tên là Malunkyaputta nêu lên
để hỏi Đức Phật. Ngài không trả lời trực tiếp những
câu hỏi ấy, nhưng hướng những thắc mắc của
Malunkyaputta vào những gì thiết thực hơn : những
khổ đau đang diễn ra trước mặt và những gì đang làm
cho Malunkyaputta phải bấn loạn trong tâm thức :
«Này
Malunkyaputta, mặc dù có một quan điểm theo đó vũ
trụ vô tận và có một quan điểm
[khác]
theo đó vũ trụ không vô tận, nhưng trước nhất phải
hiểu rằng có sinh, có già, có chết, có khổ, có than
khóc, có đớn đau, xót xa và tuyệt vọng.
[Đối với] Ta, Ta
[chỉ]
giảng
[cho con] về sự
chấm dứt những thứ ấy trong thế giới này, trong
chính sự sống này. Vì thế, này Malunkuyaputta, hãy
giữ lấy trong tâm những gì Ta giảng, đúng như Ta đã
giảng, và những gì Ta không giảng, đúng như Ta không
giảng…»
(trích kinh
Cula-Malunkya-sutta,
bản dịch tiếng Pháp của Mohan Wijayaratna)
http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6707-su-yen-lang-cua-phat.html
Sự yên lặng của một
nhà sư Tây tạng
Trong một
quyển sách mới nhất của học giả người Pháp Alain
Grosrey, dầy hơn 900 trang, tựa là
Quyển sách lớn về Phật giáo
(Le Grand livre du Bouddhisme, nhà xuất bản Albin
Michel), phát hành vào cuối năm 2007, có thuật lại
một cuộc tranh biện giữa một thiền sư Hàn quốc và
một đại sư Tây tạng như sau :
Cuộc gặp
gỡ được tổ chức vào thập niên 1970 tại Hoa kỳ giữa
thiền sư Hàn quốc Seung Shan và nhà sư Tây tạng
Kalou Rinpoché. Các chuyên gia về Phật giáo và các
Phật tử Hoa kỳ tham dự rất chú tâm và chờ đợi sự
diễn biến của cuộc tranh luận giữa hai vị thầy uyên
thâm về Phật giáo trên đây. Mỗi vị thầy đều được một
số đông đệ tử của phe mình tháp tùng, hai bên trang
phục đúng theo học phái của họ. Buổi họp bắt đầu rất
trang nghiêm và trịnh trọng.
Thiền sư
Hàn quốc khời sự trước, có lẽ ông muốn dùng kỹ thuật
hỏi đáp của thiền học đê thử sức nhà sư Tây tạng.
Ông móc một quả cam cất sẳn trong tay áo rồi đưa lên
hỏi nhà sư Kalou Rinpoché : « Cái
này là cái gì ? ».
Cử tọa nhìn vào quả cam rồi nhìn chầm chầm vào nhà
sư Tây tạng để chờ câu trả lời, nhưng nhà sư Kalou
Rinpoché vẫn ngồi thật im trong tư thế thiền định,
không nói một lời nào và cũng không tỏ lộ một dấu
hiệu gì cả. Nhà sư Hàn quốc đứng lên dí quả cam vào
mặt nhà sư Tây tạng và nói thật to : « Cái
này là cái gì ? ».
Nhà sư Tây tạng vẫn yên lặng và một lúc sau mới từ
tốn ghé vào tai người thông dịch ngồi bên cạnh, hai
người to nhỏ vài lời. Nhà sư Tây tạng lại tiếp tục
ngồi im. Người thông dịch cất lời với cử tọa : « Ông
Rinpoché nói rằng : thế
thì vấn đề ở
đâu ?
Trên đất Tây tạng
không có cam ».
Buổi gặp
gỡ chấm dứt một cách đột ngột và bất ngờ như thế.
Tác giả Alain Grosrey thuật lại câu chuyện trên đây
để kết thúc một phân đoạn trình bày về các công án
của Thiền tông. Đúng vậy, câu chuyện xứng đáng là
một công án thật thâm thúy. Tuy nhiên ta có thể mở
rộng sự tìm hiểu trên vài khía cạnh khác của câu
chuyện :
- Cuộc
tranh biện tuy ngắn ngủi nhưng thật thâm sâu và
phong phú.
- Thiền
tông và Phật giáo Tan-tra là hai học phái hoàn toàn
khác nhau, phát triển ở hai vị trí địa lý khác nhau,
nhưng đều gặp nhau trên mức độ tối hậu của Đạo Pháp.
- Câu
chuyện phản ảnh một phần nào sự tích « Niêm
hoa vi tiếu »,
nhưng ồn ào hơn nhiều. Khi thiền sư Seung Shan đưa
quả cam lên để hỏi. Tất cả mọi người đều hiểu là quả
cam, vì đó là một sự hiểu biết quy ước sẳn có, tuy
chờ câu trả lời nhưng câu trả lời họ cũng đã biết (quả
cam), họ chờ đợi một cái gì lý thú hơn nữa đang kích
động họ. Nhưng nhà sư Kalou Rinpoché lại không trả
lời, nếu như ông trả lời là « quả cam » thì sự tranh
biện sẽ tiếp tục, nếu ông trả lời là « quả chanh »,
thì sự tranh cải sẽ nổi lên, không biết bao giờ mới
chấm dứt. Kalou Rinpoché trả lời là trên đất Tây
tạng không có cam, ý muốn nói là « quả cam » chỉ là
một sự hiểu biết quy ước, không phải là tuyệt đối,
không có giá trị gì cả, không đáng trả lời, một
người Tây tạng sống trên Hy-mã-lạp sơn không hề biết
quả cam là gì, vậy chân lý ở đâu ? Dụng ý thứ hai là
cách trả lời bên cạnh câu hỏi, không liên quan trực
tiếp đến câu hỏi, chính là cách cắt đứt sự suy diễn
duy lý, chận đứng sự diễn đạt của
ý căn.
Ông đã dùng phương pháp của thiền để trả lời cho câu
hỏi của một thiền sư.
Xin tiếp theo vào
link:
http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6707-su-yen-lang-cua-phat.html