Sự yên lặng của Phật

 

 

 

Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Tổng Quát

Viết bởi Hoang Phong   

 

            Tên gọi của Đức Phật là « Thích-ca Mâu-ni » có nghĩa là « Bậc Tịch tĩnh trong họ Thích-ca », « Trí giả trầm lặng trong họ Thích-ca », chữ Phạn mauni có nghĩa là yên lặng. Phật còn có tên là « Mahamuni » : Maha là lớn, « Mahamuni » là « Bậc yên lặng Lớn lao » hay vị « Đại Thánh nhân của Yên lặng ». Thật vậy, Phật là một vị Tịch Tĩnh, một Trí giả trầm lặng và những lời Phật dạy đều nhắm vào mục đích dẫn dắt chúng sinh đến cõi an vui và êm ả, an bình và phẳng lặng. Tất cả mọi ngôn từ đều già nua và tan biến, đều sinh và tử, chỉ có yên lặng là trường tồn và sinh động : cái yên lặng của Phật từ hơn hai ngàn năm trăm  trước vẫn còn nguyên trong lòng chúng ta hôm nay, nếu chúng ta biết nhìn thấy nó và lắng nghe được dư âm của nó trong ta.

            Sự yên lặng đó được chứng minh qua cách sinh sống của Phật, hiển lộ trong từng hành vi của Phật, bàng bạc trong những lời giảng huấn của Phật. Sự yên lặng ấy mênh mông như không gian và vô tận như thời gian. Ta hãy thử cố gắng tìm hiểu một phần nào ý nghĩa của sự yên lặng lớn lao đó qua Đạo Pháp của Phật, vì biết đâu sự yên lặng vô biên ấy chính là sự giải thoát.         

 

Yên lặng trước những câu hỏi

             Có một số câu hỏi đã được nêu lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại loại như sau mà Phật không giải đáp :

1-     Vũ trụ có trường tồn bất diệt hay không ?

2-     Vũ trụ không trường tồn bất diệt ?

3-     Vũ trụ đồng thời vừa trường tồn bất diệt, vừa không-trường-tồn-bất-diệt ?

4-     Vũ trụ đồng thời vừa không-trường-tồn-bất-diệt cũng không phải là không-trường- tồn-bất-diệt ?

5-     Vũ trụ có biên giới hay không ?

6-     Vũ trũ có vô biên hay không ?

7-     Vũ trụ đồng thời vừa có giới hạn lại vừa vô biên ?

8-     Vũ trụ đồng thời không phải là có giới hạn, nhưng cũng không phải là không có giới hạn ?

9-     Sự sống và thân xác là một thứ như nhau ?

10- Sự sống và thân xác có phải là hai thứ khác nhau ?

11- Một sinh linh được giải thoát có hiện hữu sau khi chết hay không ?

12- Một sinh linh được giải thoát không còn hiện hữu sau khi chết ?

13- Một sinh linh được giải thoát hiện hữu nhưng đồng thời cũng không hiện hữu sau khi chết ?

14- Một sinh linh được giải thoát, đồng thời không hiện hữu cũng không phải là không-hiện-hữu sau khi chết ? 

            Trên đây là những gì Kinh Cula-Malunkya-sutta đã ghi chép lại, bộ kinh này trình bày « Những câu hỏi vô ích » do một đệ tử của Phật tên là Malunkyaputta nêu lên để hỏi Đức Phật. Ngài không trả lời trực tiếp những câu hỏi ấy, nhưng hướng những thắc mắc của Malunkyaputta vào những gì thiết thực hơn : những khổ đau đang diễn ra trước mặt và những gì đang làm cho Malunkyaputta phải bấn loạn trong tâm thức :

«Này Malunkyaputta, mặc dù có một quan điểm theo đó vũ trụ vô tận và có một quan điểm [khác] theo đó vũ trụ không vô tận, nhưng trước nhất phải hiểu rằng có sinh, có già, có chết, có khổ, có than khóc, có đớn đau, xót xa và tuyệt vọng.  [Đối với] Ta, Ta [chỉ] giảng [cho con] về sự chấm dứt những thứ ấy trong thế giới này, trong chính sự sống này. Vì thế, này Malunkuyaputta, hãy giữ lấy trong tâm những gì Ta giảng, đúng như Ta đã giảng, và những gì Ta không giảng, đúng như Ta không giảng…»

(trích kinh Cula-Malunkya-sutta, bản dịch tiếng Pháp của Mohan Wijayaratna) 

http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6707-su-yen-lang-cua-phat.html

 

Sự yên lặng của một nhà sư Tây tạng 

            Trong một quyển sách mới nhất của học giả người Pháp Alain Grosrey, dầy hơn 900 trang, tựa là Quyển sách lớn về Phật giáo (Le Grand livre du Bouddhisme, nhà xuất bản Albin Michel), phát hành vào cuối năm 2007, có thuật lại một cuộc tranh biện giữa một thiền sư Hàn quốc và một đại sư Tây tạng như sau :

            Cuộc gặp gỡ được tổ chức vào thập niên 1970 tại Hoa kỳ giữa thiền sư Hàn quốc Seung Shan và nhà sư Tây tạng Kalou Rinpoché. Các chuyên gia về Phật giáo và các Phật tử Hoa kỳ tham dự rất chú tâm và chờ đợi sự diễn biến của cuộc tranh luận giữa hai vị thầy uyên thâm về Phật giáo trên đây. Mỗi vị thầy đều được một số đông đệ tử của phe mình tháp tùng, hai bên trang phục đúng theo học phái của họ. Buổi họp bắt đầu rất trang nghiêm và trịnh trọng.

            Thiền sư Hàn quốc khời sự trước, có lẽ ông muốn dùng kỹ thuật hỏi đáp của thiền học đê thử sức nhà sư Tây tạng. Ông móc một quả cam cất sẳn trong tay áo rồi đưa lên hỏi nhà sư Kalou Rinpoché : « Cái này là cái gì ? ». Cử tọa nhìn vào quả cam rồi nhìn chầm chầm vào nhà sư Tây tạng để chờ câu trả lời, nhưng nhà sư Kalou Rinpoché vẫn ngồi thật im trong tư thế thiền định, không nói một lời nào và cũng không tỏ lộ một dấu hiệu gì cả. Nhà sư Hàn quốc đứng lên dí quả cam vào mặt nhà sư Tây tạng và nói thật to : « Cái này là cái gì ? ». Nhà sư Tây tạng vẫn yên lặng và một lúc sau mới từ tốn ghé vào tai người thông dịch ngồi bên cạnh, hai người to nhỏ vài lời. Nhà sư Tây tạng lại tiếp tục ngồi im. Người thông dịch cất lời với cử tọa : « Ông Rinpoché nói rằng : thế thì vấn đề ở đâu ? Trên đất Tây tạng không có cam ».

            Buổi gặp gỡ chấm dứt một cách đột ngột và bất ngờ như thế. Tác giả Alain Grosrey thuật lại câu chuyện trên đây để kết thúc một phân đoạn trình bày về các công án của Thiền tông. Đúng vậy, câu chuyện xứng đáng là một công án thật thâm thúy. Tuy nhiên ta có thể mở rộng sự tìm hiểu trên vài khía cạnh khác của câu chuyện :

            - Cuộc tranh biện tuy ngắn ngủi nhưng thật thâm sâu và phong phú.

            - Thiền tông và Phật giáo Tan-tra là hai học phái hoàn toàn khác nhau, phát triển ở hai vị trí địa lý khác nhau, nhưng đều gặp nhau trên mức độ tối hậu của Đạo Pháp.

            - Câu chuyện phản ảnh một phần nào sự tích « Niêm hoa vi tiếu », nhưng ồn ào hơn nhiều. Khi thiền sư Seung Shan đưa quả cam lên để hỏi. Tất cả mọi người đều hiểu là quả cam, vì đó là một sự hiểu biết quy ước sẳn có, tuy chờ câu trả lời nhưng câu trả lời họ cũng đã biết (quả cam), họ chờ đợi một cái gì lý thú hơn nữa đang kích động họ. Nhưng nhà sư Kalou Rinpoché lại không trả lời, nếu như ông trả lời là « quả cam » thì sự tranh biện sẽ tiếp tục, nếu ông trả lời là « quả chanh », thì sự tranh cải sẽ nổi lên, không biết bao giờ mới chấm dứt. Kalou Rinpoché trả lời là trên đất Tây tạng không có cam, ý muốn nói là « quả cam » chỉ là một sự hiểu biết quy ước, không phải là tuyệt đối, không có giá trị gì cả, không đáng trả lời, một người Tây tạng sống trên Hy-mã-lạp sơn không hề biết quả cam là gì, vậy chân lý ở đâu ? Dụng ý thứ hai là cách trả lời bên cạnh câu hỏi, không liên quan trực tiếp đến câu hỏi, chính là cách cắt đứt sự suy diễn duy lý, chận đứng sự diễn đạt của ý căn. Ông đã dùng phương pháp của thiền để trả lời cho câu hỏi của một thiền sư.

 Xin tiếp theo vào link: 

http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-tong-quat/6707-su-yen-lang-cua-phat.html