|
VÌ SAO PHẬT GIÁO SUY TÀN TẠI ẤN
ĐỘ
D.C. Ahir
Trần Ðức Phi Bằng
dịch
Vì có nhiều người thắc mắc việc Ðạo Phật biến
mất trên đất Ấn Ðộ, nơi nó đã ra đời và lớn mạnh đến tuyệt
đỉnh. Do đó, chúng tôi xin dịch bài này của tác giả là một
người Ấn Ðộ, cũng là một người trưởng thành trong xã hôị Ấn
Ðộ Giáo, dưới quan điểm của một học giả hiện đại để cống
hiến qúy vị.
* *
*
Sự biến mất của
Ðạo Phật ở Ấn Ðộ, nơi nó đã được sinh ra, trưởng thành và
đạt đến những thành tựu cao nhất, là một hiện tượng đáng
ngạc nhiên và đau lòng. Thế nào và tại sao Ðạo Phật đã không
tồn tại lâu dài trong những người gần gũi nhất với nó là một
vấn đề khó hiểu với nhiều ý kiến bất đồng. Quan điểm chung
của các nhà học giả Ấn Ðộ là sự xao lãng và sa đọa trong đời
sống Ðạo Ðức và Tâm Linh của giới tu sĩ Phật Giáo, Tăng cũng
như Ni. Tuy nhiên nhìn dưới ánh sáng lịch sử, việc cho rằng
sự xuống dốc về đạo đức của hàng ngũ Tăng Già Phật Giáo
dường như là chuyện hoang đường không có những bằng chứng
xác đáng. Nói như Swami Vivekananda rằng: Phật Giáo phải
chết, một cái chết tự nhiên trên đất Ấn Ðộ vì những đệ tử
của Phật đã từ bỏ đấng Thượng Ðế vĩnh hằng ra khỏi đất nước
cũng không đúng. Nếu đó là lý do thì tại sao Kỳ Na Giáo đã
tồn tại trên đất Ấn khi Mahavira cũng không thừa nhận Thượng
Ðế là đấng Tối Cao. Tín đồ Kỳ Na Giáo, cũng giống như Phật
Giáo, không thừa nhận thẩm quyền của kinh điển Vệ Ðà. Vì vậy,
đó không phải là lý do suy tàn của Phật Giáo trên đất Ấn.
Theo quan điểm của
chúng tôi, Phật Giáo đã chết một cái chết không tự nhiên, và
những nguyên do đưa đến sự biến mất của nó là những nguyên
do bên ngoài hơn là bên trong. Không chỉ thế, một chiến dịch
có hệ thống và tính toán đã được tiến hành vì quyền lợi ích
kỷ của người Bà La Môn Giáo đã đẩy Phật Giáo ra khỏi nơi
chôn nhau cắt rốn của nó. Lý do là vì Ðức Phật đã lên án chế
độ giai cấp và nhấn mạnh vào sự bình đẳng của mọi người.
Trong khi đó tín đồ của Bà La Môn bằng mọi cách bảo vệ hệ
thống giai cấp để bám lấy những ưu đãi của họ trong sự phân
chia giai cấp đó, nhưng tín đồ Phật Giáo, không giống như
tín đồ Kỳ Na Giáo, không chịu thỏa hiệp trên vấn đề nầy.
Ðiều nầy đã đưa đến mâu thuẩn. Người Bà La Môn một mặt phát
động chiến dịch chống Phật Giáo, ngược đãi tín đồ Phật Giáo,
một mặt đem những điểm tốt của Phật Giáo vào hệ thống của họ
để thuyết phục quần chúng. Những yếu tố ngoại tại, cộng với
một vài sai lầm nội bộ đã nhanh chóng làm Phật Giáo suy tàn
tại Ấn Ðộ.
XUNG ÐỘT GIỮA BÀ
LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO
Trước khi có Phật
Giáo, Ấn Ðộ chưa từng biết đến những đạo lý về bình đẳng và
tình huynh đệ. Theo Nguyên Nhân Ca(Purusha Suka) của kinh Lê
Câu Phệ Ðà(Rig Veda), chủng tộc Bà La Môn sinh ra từ miệng,
chủng tộc Sát Ðế Lợi (Kshatriya) sinh ra từ tay, chủng tộc
Phệ Xá(Vaishya) sinh ra từ đùi, và chủng tộc Thủ Ðà La(Sudra)
sinh ra từ bàn chân của Brahma là Thần Sáng Tạo. Xã hội này
đặt nền tảng trên nguồn gốc thần thoại Chaturvarna và được
quy định bằng nguyên lý phân biệt giai cấp; giai cấp Bà La
Môn được xếp hàng đầu, tiếp đến là giai cấp Sát Ðế Lợi, Phệ
Xà, và Thủ Ðà La là thấp nhất. Quy luật về sự phân biệt giai
cấp cũng quy định những quyền lợi và ưu thế của họ. Ngay cả
những hình phạt về sự phạm tội cũng được đặt trên nền tảng
khác biệt giai cấp. Người Bà La Môn sẽ bị hình phạt nhẹ nhất
và người thuộc giai cấp Thủ Ðà La sẽ bị hình phạt nặng nhất.
Như vậy, toàn bộ cơ cấu xã hội được đặt trên nguyên tắc bất
bình đẳng.
Ðức Phật đã làm
một cuộc cách mạng chống lại những luật lệ xã hội áp bức đó
và lên án hệ thống giai cấp. Ngài không thừa nhận nguồn gốc
linh thiêng của giai cấp, và chứng minh sự dối trá của giai
cấp Bà La Môn khi tuyên bố rằng họ sinh ra từ miệng của
Brahma. Ngài bác bỏ lời tuyên bố của người Bà La Môn, họ cho
rằng chỉ có họ mới có thể đạt đến những đức hạnh tâm linh,
và khẳng định rằng người trong bất kỳ giai cấp, màu da hay
tín ngưỡng nào đều có thể phát triển trong tâm họ những đức
hạnh đó. Ngài còn đi xa hơn nữa:
- Hãy làm cho
không còn ai, nam hay nữ, bất kỳ thuộc nền tảng kinh tế xã
hội nào, bị cản trở trên con đường đạt đến sự toàn thiện. Ðó
là quyền của mỗi người, khả năng bên trong của mỗi người, và
sự toàn thiện đó có thể đạt đến do sự cố gắng không ngừng
của riêng mỗi người, không do sự giúp đỡ của một tha nhân,
thần thánh hay siêu nhiên nào.
Ðức Phật còn dạy
rằng: Tất cả mọi người đều giống nhau, nếu phân chia họ ra
một cách nhân tạo là hành động điên rồ. Trong kinh Vesttha,
Ngài nói rằng: Trong đời sống của loài thú có những sự khác
biệt dựa trên những đặc tính nền tảng khác nhau. Trong đời
sống của các loài cây cỏ cũng vậy. Nhưng không có những sự
khác biệt như thế trong sự phân loại loài người thành những
ngăn kín, vì nhân loại là một và có cùng những đặc tính như
nhau. Vì vậy, Ðức Phật khẳng định một cách dứt khoát: Giá
trị là đặt nền tảng trên những hành động, chứ không phải
trên sự sinh ra, một sự việc vô tình, không phải là thước đo
con người. Ngài cũng bước những bước cụ thể trong việc nhổ
tận gốc sự tệ hại của giai cấp. Những bước đó là: Phơi trần
huyền thoại về nguồn gốc thượng đẳng do người Bà La Môn
tuyên bố về họ; khuyến khích giai cấp thấp bằng cách thọ
trai tại nhà họ; và chấp nhận những người thuộc giai cấp
thấp xuất gia và được coi ngang hàng với những người khác
trong hàng ngũ Tăng Già. Hô hào các Tỳ Kheo quên giòng giống
giai cấp của họ, một lần Ðức Phật nói: Này các thầy, giống
như những giòng sông, sông Hằng, sông Yamuna, sông Aciravati,
sông Sarasvati, và sông Mahi khi chúng đều chảy về biển lớn.
Cũng như vậy, này các thầy, bốn giai cấp: Bà La Môn, Sát Ðế
Lỵ, Phệ Xá, và Thủ Ðà La khi họ đi theo giáo pháp và giới
luật của Như Lai, họ từ bỏ những khác biệt của giai cấp và
sắp hạng, và trở thành những phần tử của một khối duy nhất
và đồng nhau.
Ở Ấn Ðộ vào thế kỷ
thứ sáu trước Tây lịch, người Bà La Môn giáo tìm sự cứu rổi
và giải thoát bằng những tế lễ hy sinh, người theo đạo Kỳ Na
và Ajivaka tế lễ bằng sự tự hành hạ thân xác. Ðức Phật trái
lại dạy đệ tử của Ngài vượt qua biển khổ luân hồi bằng cách
đem sự tốt đẹp cho chúng sanh khác, thay vì làm hại họ hay
hại chính bản thân mình. Ngài dạy con đường đi đến Niết Bàn
bằng những phương tiện:
1- Tự điều khiển,
tự tiết chế, và giảm thiểu những đam mê;
2- Mở lòng thương
yêu tất cả mọi loài, người, chim muông, thú vật; và
3- Giúp đỡ người
nghèo yếu.
Ngài cũng nhấn
mạnh:
a- Cơ hội bình
đẳng cho mọi người;
b- Thân thế bình
đẳng cho mọi người;
c- Tự do tư tưởng;
và
d- Tình huynh đệ
toàn khắp.
Khi Ðức Phật giảng
Giáo Pháp của Ngài, nó lôi cuốn quần chúng ở khắp mọi giới;
giàu và nghèo, cao sang và thánh thiện, thấp thỏi và hạ tiện.
Những người thuộc giai cấp Bà La Môn cũng không bị bỏ rơi.
Thật vậy, phần lớn các đệ tử thân cận của Ðức Phật là những
người thuộc giai cấp Bà La Môn. Ngay cả về sau, một số những
ngọn đuốc dẫn đầu trong Ðạo Phật là những vị từ Bà La Môn
quay về. Trong những thế kỷ tiếp sau, giáo lý xã hội của Ðức
Phật đã tạo một sức đẩy làm xã hội Ấn Ðộ tiến lên, và những
giai cấp thấp xác định quyền bình đẳng của họ, vì vậy mà tín
đồ Bà La Môn đã quay lại chống đối Phật Giáo.
Thật sự, người Bà
La Môn không chống đối Phật Giáo trên những giáo lý thuộc
triết lý hay đạo đức, nhưng điều mà họ không thích là tư
tưởng về sự bình đẳng trong Ðạo Phật. Như Tiến sĩ Ambedkar
nói:
- Bất bình đẳng là
giáo lý chính thức của đạo Bà La Môn. Ðức Phật chống lại gốc
rể và cành lá của nó. Ngài là một đối thủ mạnh mẽ nhất của
chế độ đẳng cấp và là cột trụ vững chãi nhất của tinh thần
bình đẳng. Không có một lý lẽ nào về vấn đề giai cấp mà ngài
không bác bỏ.
Chúng ta không
nghi ngờ rằng, được khuyến khích với tinh thần bình đẳng do
Ðức Phật dạy, những người giai cấp thấp trong xã hội xác
định quyền tự do của họ và chống lại sự ưu thế của người Bà
la môn. Ðiều nầy làm suy yếu nền tảng của hệ thống giai cấp
và đã hạ tầng giai cấp Bà La Môn xuống tận đất.
Khi Ðạo Phật yếu
đi chút đỉnh, người Bà La Môn giáo dùng mọi cách để lấy lại
quyền lực và danh vọng đã mất. Họ không những cố gắng phục
hồi lại hệ thống giai cấp mà còn tìm cách hủy diệt những
giáo pháp của Ðức Phật khỏi đất nước Ấn Ðộ. Xin trích lời
của Har Dayal:
- Những thầy tế
triệt tiêu ngôn ngữ Pali trên đất Ấn. Họ không những ghét
tiếng Pali về phương diện giáo lý, triết học hay những giới
luật của Ðức Phật. Họ biết Ðức Phật là một vị Thầy lớn lao
và tôn sùng Ngài. Nhưng họ muốn rằng những lời dạy tuyệt vời
của Ðức Phật không được nghe thấy trên đất Ấn, vì những lời
dạy nầy có năng lực phá hủy thành lũy giai cấp. Họ nói: Dù
tiếng Pali tiêu diệt; dù nước Ấn Ðộ tiêu diệt; nhưng giai
cấp của chúng ta phải nắm quyền lãnh đạo.
Ðể tranh đấu với
Ðạo Phật, người Bà La Môn phải làm nhiều việc sửa đổi trong
những giáo lý của họ. Họ bỏ sự hy sinh súc vật để cúng tế.
Họ cũng bải bỏ giáo lý cho rằng các kinh điển Phệ Ðà không
thể sai lầm. Tuy nhiên, về quan điểm phân chia giai cấp (Chaturvarna),
họ không chịu đầu hàng. Họ phải thừa nhận tác dụng của những
lý lẽ của Ðức Phật chống lại Chaturvana. Và họ phát động một
sự điều chỉnh triết học cho Chaturvana được tìm thấy trong
sách Bạt Già Phạm Ca (Bhagavad-Gita), một tác phẩm có trước
Phật. Nói như P.L. Narasu trong cuốn Cốt Tủy Ðạo Phật:
- Mục đích chính
của Gita là lén lút ủng hộ sự lãnh đạo và danh vọng của giai
cấp Bà la môn, ra đời để đáp ứng những nhu cầu mà Ðạo Phật
đã làm thỏa mãn. Bất cứ điều gì cao thượng và tuyệt vời
trong Gita là điều mà Bà La Môn giáo đã vay mượn từ đối thủ
của nó và xử dụng cho mục đích riêng tư của mình. Ðặc biệt
là để ngăn chặn những người Thủ Ðà La không từ bỏ niềm tin
cố cựu của họ. Phần còn lại là một khối những lặp đi lặp lại,
những mâu thuẩn, những sự vô lý, kết quả của một cố gắng
không thành công trong việc làm dung hòa mọi phương diện
trong quan điểm truyền thống.
Mục đích chính của
Bạt Già Phạm Ca là bảo vệ, làm mạnh hệ thống giai cấp được
thấy rõ trong cách giải thích chữ Dharma (Pháp). Nghĩa chữ
Dharma trong Phệ Ðà là những nghi lễ hay những nghi thức.
Trong Gita cũng như trong Manu-Smriti, chữ Dharma được dùng
có nghĩa là: Những bổn phận của bốn giai cấp trong thế gian.
Trong Gita, Krishna bảo Arjuna chiến đấu, vì đó là Dharma (bổn
phận giai cấp) của ông ta. Ông ta còn nói:
- Thà chết mà làm
tròn bổn phận của giai cấp; làm theo những bổn phận dành
riêng cho giai cấp khác là việc làm nguy hiểm.
Tín đồ Phật Giáo
trái lại không chịu từ bỏ sự chống đối của họ đối với tư
tưởng Chaturvarna. Ðó là lý do đầu tiên của sự chống đối
giữa Phật Giáo và Bà La Môn giáo.
Tiến sĩ Amberka
tìm dấu vết nguồn gốc mâu thuẩn giữa Phật Giáo và Bà La Môn
giáo từ một nguồn khác. Ông nói:
- Khi đọc qua toàn
bộ Văn Học Phật Giáo, tôi thấy rằng 90% tín đồ Phật Giáo
trước kia là những người Bà la môn. Những người Bà La Môn
thường đến gặp Ðức Phật để thảo luận và tranh cải, và khi
thua, thường đặt tin tưởng vào Ðức Phật và cuối cùng chấp
nhận Phật Giáo. Văn Học Phật Giáo chứa đầy những sự việc như
vậy. Vì vậy, Phật Giáo là một tôn giáo đã nẩy nở giữa đại đa
số những người Bà La Môn, làm thế nào về sau lại bị chính
những người Ba la môn tiêu diệt?
Theo quan điểm của
chúng tôi, lý do chính của sự việc nầy là sự thờ cúng thần
linh gia đình. Ở Ấn Ðộ, giống như thần làng và thần nước, có
những vị thần gia đình cũng được những người Bà La Môn thờ
cúng. Những thầy tế thường thờ cúng những vị thần nầy bắt
đầu gây ảnh hưởng vào quốc sự qua những bà hoàng. Vua A Dục
(Ashoka) sau khi quy y theo Phật Giáo đã từ bỏ việc thờ cúng
đó và dời tượng của những thần dùng trong việc thờ cúng nầy.
Vua A Dục nói:
- Khi ta tôn kính
Ðức Phật, đấng Giác Ngộ, thì không cần thờ cúng vị thần linh
nào khác.
Hành động nầy của
vua A Dục làm cho những người Bà La Môn lo lắng không ít vì
nó chấm dứt những phương tiện sinh sống và bóc lột bất công
của họ. Họ nguyện sẽ phục thù cho sự mất mát đó.
Những người Bà La
Môn có quan niệm rằng:
- Sau khi chết
những ông vua sẽ bị đọa vào địa ngục vì những sai lầm và
thiếu sót của họ. Vì vậy, họ không đồng ý làm những người
lãnh đạo, nhưng muốn làm những Cố Vấn Tối Cao của các vị Vua.
Ðể trả thù sự mất mát vì việc chấm dứt sự thờ cúng những
thần gia đình (Kulapuja), những người Bà La Môn từ bỏ phương
châm chỉ làm những người cố vấn, họ cố gắng nắm lấy quyền
lực. Với sự giúp đở của những người Sát Ðế lỵ, họ thiết lập
trục Bà La Môn-Sát Ðế lỵ để chống lại Phật Giáo. Ưu thế của
Bà La Môn giáo trở lại ở Ấn Ðộ là một trong những nguyên do
suy sụp của Phật Giáo.
Sự nổi bật của
Phật Giáo từ sự hạ thấp giai cấp Bà La Môn, cũng đưa đến sự
dãy chết của những quyền lợi thiêng liêng của những Vua chúa
thuộc giai cấp Sát Ðế lỵ. Vì vậy, không nghi ngờ gì những
người thuộc giai cấp Sát Ðế Lỵ, trong những giai đoạn đầu là
những người ủng hộ Phật Giáo, về sau trở nên đối lập với
Phật Giáo. Như một nhà văn viết:
- Những người Sát
Ðế Lỵ sợ Phật Giáo vì nó đe dọa nền tảng và sự hiện hữu giai
cấp của họ, vì những người bị áp bức được khuyến khích bởi
những giáo lý bình đẳng tìm cách vùng dậy.
Như vậy, để bảo
đảm sự an toàn cho những quyền lợi của họ, những người Sát
Ðế Lỵ tham vọng âm mưu với những người Bà La Môn và bước
từng bước củng cố hệ thống giai cấp. Bằng sự sắp xếp chung,
giai cấp Sát Ðế Lỵ được đồng ý làm Vua và những người Bà La
Môn là những đại thần. Sự thỏa hiệp nầy bảo đảm quyền lực và
danh vọng cho cả hai giai cấp nầy và sự thấp kém vĩnh viễn
của những giai cấp khác, mà Phật Giáo sẽ không bao giờ tha
thứ. Vì vậy, để giữ quyền lực chính trị trong tay họ, hai
giai cấp nầy tạo một mặt trận thống nhất chống lại và phá
rối sự phát triển của Phật Giáo.
SỰ GÂY THÙ HẬN
Tôn giáo của Ðức
Phật là một cái gai trong mắt những người Bà La Môn phản
động, vì nó đã lật đổ giai cấp thầy tế khỏi ngôi vị cao của
nó, mà bao nhiêu thế kỷ đã bảo đảm cho họ mọi thứ ưu đãi và
tiện nghi vật chất. Vì vậy khi ảnh hưởng của Phật Giáo suy
yếu, họ trả đũa và tấn công Phật Giáo bằng nhiều cách để trả
thù sự mất mát của họ. Họ dùng những ngôn ngữ tồi tàn nhất
và những mánh khóe tồi tàn nhất để nhục mạ và hạ thấp Phật
Giáo dưới mắt quần chúng. Ngay cả họ còn bẻ cong ý nghĩa từ
và thành ngữ riêng của Phật Giáo. Chúng tôi hy vọng rằng sự
phân tích phê bình trong những đoạn sau đây sẽ có thể làm
cho độc giả nhận thức được tầm quan trọng trong thảo luận
của chúng ta:
1) Vua A Dục, một
vị vua Phật Giáo vĩ đại nhất, trong những cáo thị ông tự gán
cho mình là Người được chư Thần thương yêu (Devanam Priya),
nhưng những nhà văn phạm Bà La Môn dịch chữ nầy là những sự
điên rồ yêu thương. R.K. Mookerjee nói về sự đồi bại nầy như
sau:
- Về thành ngữ
Deva-nampriya Priyadarsi, V.A. Smith dịch là Ðấng Thiêng
Liêng và Nhân Từ đối với tôi là chuẩn nhất. Deve nampriya
thay vì Deva-Priya có thể là tên gọi có ý coi khinh giới
luật của Panini, nhưng được đề cập trong những sự kiện ngoại
trừ luật do Katyana (vào khoảng 359 trước Tây lịch theo R.G.
Bhadarkar) được Patanjali (150 trước Tây lịch) và cả Kasika
(650 sau Tây lịch) ủng hộ. Tuy nhiên sự ngoại trừ không cho
phép nhà văn phạm về sau là Bhattoji Dikshita, người đã nhấn
mạnh vào việc coi từ Devanampriya là một từ khinh miệt, ngụ
ý chỉ một người điên (murkha) không có sự hiểu biết về
Brahma... Như vậy một danh hiệu được ca tụng trong những
thời đại Nada, Maurya, và Sunga, phải chịu sự sa đọa về ý
nghĩa dưới thành kiến của người Ba La Môn chống lại vị vua
Phật Giáo lỗi lạc.
2) Ðức Phật nhập
diệt ở Câu Thi La (Kushinagar) vùng Deoria nước Uttar
Pradesh, Câu Thi La cách Gorakhpur 12 dặm về hướng Ðông và
cách Deoria 21 dặm. Nó nằm trên bờ phía Tây của sông
Hiranyavati và vị trí của nó tương ứng với khu vực rộng lớn
Ram-bar-ka-Tila nằm ở bờ phía Tây hồ Rambhar. Gồm hai chữ
Hiranyavati và Rambar có thể tạo thành tên Harambar cho khu
vực nầy. Câu Thi La (Kushinagar) là nơi Ðại Niết Bàn của Ðức
Phật trở thành một nơi hành hương quan trọng và thiêng liêng
nhất của tín đồ Phật Giáo. Dĩ nhiên, tín đồ Phật Giáo từ
khắp nơi trên đất Ấn quy tụ về nơi đây mỗi năm với một số
đông lớn lao để tỏ lòng tôn kính đối với Vị Thầy. Dường như
người Bà La Môn hoang mang bởi dân chúng ở Câu Thi La. Họ
đưa khuynh hướng tôn giáo vào biện pháp xảo quyệt của họ và
dạy những người tại gia ngu dốt rằng: Người chết ở Harambar,
vùng chung quanh Câu Thi La, đọa vào địa ngục hay tái sanh
làm con lừa cái, nhưng người chết ở Kasi (Varanasi) được lên
trời.
Ðể bảo vệ quan
điểm của chúng tôi, chúng tôi có bằng chứng hùng hồn và có
tính cách lịch sử từ cuộc đời của Mahatma Kabir, một người
hô hào cải cách tôn giáo và xã hội vào thế kỷ thứ mười lăm.
Trong thời đại ông, sự tuyên truyền có tác hại, như được đề
cập ở trên, rất thịnh hành. Kabir kịch liệt chống lại quan
điểm vô nghĩa nầy. Ông tuyên bố rằng nếu hành động của một
người tốt đẹp, người ấy chắc chắn sẽ được cứu rỗi dù cho có
chết ở Kasi hay Harambar. Và để chứng minh hùng hồn niềm tin
về Harambar là sai lầm và vô nghĩa, Kabir, khi tuổi đã gìa,
cố ý đi đến vùng đất cấm đó và chết vào năm 1518 sau Tây
lịch trong một thị trấn nhỏ Maghar ở vùng Gorakhpur không xa
Câu Thi La. Kabir, trong những lời để lại, hai lần đề cập
đến sự việc nầy và giải thích đầy đủ mục đích hành hương đến
Maghar của ông mặc dù những ngăn cản mạnh mẽ từ bạn bè và
những người hâm mộ ông. Theo sự việc trên, Wescott viết
trong tác phẩm đáng tin của ông về Kabir như sau:
- Chính là nguyện
vọng của những môn đệ mà Kabir đã không chấm dứt cuộc đời
của ông tại Kasi nơi mà rất nhiều công trình tôn giáo được
hoàn tất. Họ chủ trương rằng tất cả mọi người chết ở Kasi sẽ
lập tức sinh vào thế giới của thần Ram, và những người chết
ở Maghar sẽ trở lại thế giới nầy và sinh làm con lừa cái.
Kabir khiển trách về niềm tin của họ. Phải chăng quyền năng
của Ram quá giới hạn không thể cứu rỗi người phụng sự ông vì
người nầy muốn chết ở ngoài Kasi, thành phố của thần Shiva?
Cảm giác lo âu và
sợ hải trong giới Ấn Ðộ Giáo quá mạnh đến nỗi sau khi Kabir
chết ở Maghar họ cũng không thể từ bỏ được sự mê tín. Vì vậy,
họ đã không xây dựng một đền tưởng niệm Kabir ở đó, họ dựng
đền tưởng niệm ở Kasi. Người Hồi Giáo đã xây dựng một nơi
tưởng niệm Kabir ở Maghar, nơi cư ngụ cuối cùng của ông. Ðền
thờ chính ở Maghar vì vậy đã luôn luôn do người Hồi Giáo
trông coi và về sau vẫn còn dưới sự trông coi của họ, mặc dù
một ngôi đền cho người Ấn Ðộ Giáo đã được xây dựng ở đây.
3) Những người
cuồng tín Bà La Môn không dừng lại ở đó. Họ tiếp tục thẳng
tay gây sự hận thù và ghét bỏ đối với tín đồ Phật Giáo trải
qua nhiều thế kỷ và giữ mãi tinh thần nầy cả trong văn học.
Xin trích dẫn ra một số sau đây:
a- Nikant trong
tác phẩm Prayaschit Mayukha trích một bài thơ từ Manu (bộ
luật tập cấp): - Nếu người nào chạm phải một tín đồ Phật
Giáo hay một tín đồ của Panchupat, Lokayataka, Nastika hay
Mahapataki, người ấy phải tắm để tẩy uế.
b- Cùng một giáo
lý được Apraka dạy trong Smiriti. Vradha Harit đi xa hơn và
tuyên bố rằng bước vào chùa Phật Giáo là một tội lỗi cần
phải tắm để thanh trừ tội lỗi đó.
c- Sự việc gây ấn
tượng nhất về thái độ nầy đối với tín đồ Phật Giáo được tìm
thấy trong vở kịch Mricchakatika. Trong màn Vii của vở kịch,
người anh hùng Charudatta và bạn là Maitriya đang chờ
Vasantasena ở quảng trường bên ngoài thành Ujjain. Cô nàng
không đến và Charudatta quyết định rời quảng trường. Khi họ
rời nơi đây, họ thấy vị sư Phật Giáo tên là Samvakaha. Thấy
ông ta, Charudatta nói:
- Nầy bạn Maitriya,
tôi đang nóng lòng muốm gặp Vasantasena. Nầy, hãy cùng đi. (Sau
khi bước vài bước) A, đây là một cảnh tượng không may, một
ông tăng Phật Giáo đang đi về hướng chúng ta. (Sau khi suy
tư một chút) tốt, hãy để cho ông ta đi đướng nầy, chúng ta
sẽ đi con đường khác. (Rời sân khấu).
Trong màn viii, vị
tăng ở trong vườn lớn của Sakara, người anh rể của Vua. Nhìn
thấy áo của ông ta trong một cái hồ, Sakara, theo sau là
Vita, bật dậy và hăm dọa giết vị tăng. Sau đây là cuộc đối
thoại giữa họ:
Sakara:
- Hãy dừng lại,
ông thầy tu tồi bại.
Tăng sĩ:
- A! Ðây là người
anh rễ của Vua. Bởi vì có một số tăng sĩ xúc phạm đến nhà
vua, nên nhà vua đánh đập bất cứ tăng sĩ nào ông gặp.
Sakara:
- Hãy dừng lại, ta
sẽ bẻ chiếc đầu của ông như người ta bẻ một cộng rau dền
trong tiệm ăn (Ðánh ông ta).
Vita:
- Nầy bạn, đánh
một tu sĩ khoác trên mình chiếc áo choàng, đã từ bỏ thế gian,
là một việc không chính đáng.
Tăng sĩ vui mừng:
- Xin hãy vui
lòng, cư sĩ.
Sakara:
- Nầy bạn, coi đó.
Hắn xỉ nhục tôi.
Vita:
- Ông ta
nói gì?
Sakara:
- Hắn
gọi tôi là cư sĩ. Tôi là tên thợ cạo hay sao?
Vita:
- Ồ! ông
ta thật sự tán tụng anh như là một người sùng tín Ðức Phật.
Sakara:
- Tại
sao ông lại đến chỗ nầy?
Tăng
sĩ:
- Ðể
giặt những y phục nầy.
Sakara:
- A! ông
là ông thầy đồi bại. Ngay cả tôi cũng không tắm trong ao
nầy; ta sẽ giết ông bằng một trận đòn.
Sau khi
bị đánh thật nhiều, vị tăng được cho đi. Ðó là một tu sĩ
Phật Giáo trong đám đông Ấn Ðộ Giáo. Ông ta bị xa lánh và
tránh né. Cảm tưởng chán ghét đối với ông thật là lớn lao,
đến nỗi người ta tránh né cả con đường mà ông ta đã đi qua.
Cảm tưởng ghê tởm đậm đặc đến nỗi sự đi vào của một tín đồ
Phật Giáo khiến cho người Ấn Ðộ Giáo phải đi ra. Người Bà La
Môn được miễn tội tử hình, ngay cả còn được miễn hình phạt
về thể xác. Nhưng tu sĩ Phật Giáo bị đánh đập và hành hạ
không thương xót, không hối tiếc, như là không có gì sai lầm
khi làm việc đó.
d-
Chanalya (Kautilya), một đại thần Bà La Môn nổi danh dưới
thời vua Chiên Ðà La Quật Ða (Chandragupa) của vương triều
Khổng Tước (Maurya), cũng là một phần tử nằm trong chiến
dịch gây hận thù đối với Phật Giáo. Ông nói:
- Khi
một người hưởng dụng bửa ăn cúng cho chư thần và tổ tiên,
những người thuộc giòng Thích Ca (tín đồ Phật Giáo),
Ajivaka, Thủ đà la, và những tù nhân đi đày, phải chịu một
hình phạt một trăm Panas.
e- Những
tác giả của những Puranas(Thánh Thư) cũng tuyên truyền chống
Phật Giáo không ít. Họ coi Ðức Phật như là một Avtara(hóa
thân) của Vishnu nhưng đối xử với Ngài với sự khinh miệt.
- Thánh
thư Brhannardiya coi một người Bà La Môn bước vào nhà của
một tín đồ Phật Giáo là một tội lỗi lớn dù cho có gặp sự
nguy hiểm lớn.
- Thánh
thư Agni tuyên bố rằng con của vua Tịnh Phạn dụ dỗ những
người Daitya trở thành tín đồ Phật Giáo.
- Thánh
thư Vayu nói một cách khinh khi về Phật Giáo: Với hàm răng
trắng, cặp mắt nhìn thẳng, đầu cạo trọc, và áo đỏ, những
người Thủ Ðà La sẽ thực hiện những hành vi tôn giáo.
- Thánh
thư Vishnu gán cho Ðức Phật tên: Người dụ dỗ vĩ đại. Họ coi
Ngài là một Maha Moha, người hiện ra trong thế gian để lọc
lừa những ma quỉ. Nó còn cảnh cáo thêm về tội lỗi chuyện trò
với tín đồ Phật Giáo, nói rằng những người nói chuyện với
những nhà khổ tu trọc đầu sẽ bị đọa vào địa ngục.
4) Một
phần trong chiến lược hủy nhục của họ, người Ấn Ðộ Giáo còn
dùng một phương pháp khác làm mất uy tín những tín đồ Phật
Giáo và chùa chiền của họ. Họ gán cho những tên gọi xấu xa
và bẩn thỉu cho những chùa, tu viện Phật Giáo. Ví dụ, tàn
tích của ngôi tháp ở Ghantasila vùng Andhra Pradesh được họ
gọi là Langa Dibba có nghĩa là gò đĩ điếm. Sự gán những tên
bẩn thỉu cho những địa danh cổ của Phật Giáo được các nhà
học giả ngu dốt trích ra, lấy làm lý lẽ để nói rằng Phật
Giáo biến mất ở Ấn Ðộ, vì những ngôi chùa của nó đã trở
thành những nơi đồi bại, và các Tỳ Kheo đã không sống đời
sống đáng kính. Họ lý luận rằng:
- Những
nơi lễ bái của Phật Giáo đã đi đến chỗ đồi bại cùng cực về
luân lý, nên dân chúng khinh thường và xa lánh.
Chúng
tôi đồng ý rằng khi các ngôi chùa bắt đầu trở nên sung túc,
tu sĩ Phật Giáo, một cách nào đó trở nên hướng về bản thân
và từ bỏ bổn phận của họ đối với nhu cầu tâm linh và xã hội
quần chúng. Và họ bắt đầu sống một cách thoải mái trong
những tu viện và không tham gia vào lý tưởng phụng sự xã
hội. Ðiều nầy cuối cùng đã ảnh hưởng một mức độ nào đó vào
việc truyền bá và duy trì Giáo Pháp. Nhưng nói rằng Phật
Giáo suy tàn vì sự sụp đổ của những tiêu chuẩn đạo đức trong
hàng ngũ Tăng Già là điều không có gì bảo đảm. Không có một
bằng chứng nào để củng cố lập luận nầy, ngoại trừ những danh
hiệu đáng nghi ngờ gắn liền với một số địa điểm. Theo quan
điểm của chúng tôi, những tên gọi bôi bác kia đã được tạo ra
do những người Ấn Ðộ Giáo quá khích, với chủ ý hạ nhục những
chùa chiền Phật Giáo. Nhưng đối với trò tuyên truyền nham
hiểm đó, không có một lý lẽ chứng minh cho những nhãn hiệu
vô nghĩa gán cho những ngôi chùa Phật Giáo thiêng liêng.
V.R. Narla nói:
- Quả
thật là chưng hửng và buồn không ít, vì rằng không những ở
Ghantasila, nhưng ở Gudivada, Bhattiprola, China Ganjam,
Pedda Ganjam, và một số nơi khác, những di tích của những
ngôi chùa Phật Giáo thiêng liêng bị gán cho những tên nhơ
bẩn như Langa Dibba và Bojamadani Dibba. Một ngoại lệ mà tôi
biết là tháp Amaravati. Tên địa phương của nó là Dipala
Dinne, có nghĩa là gò đèn. Nhưng ngay cả về những ngọn đèn,
cũng có thể không phải chỉ cho sự tán tụng, vì trong thực tế
tất cả những nơi có gò thuộc di tích Phật Giáo, có truyền
thống địa phương là những gái ăn sương cư ngụ trên gò dùng
đèn để làm hiệu. Có thể những tên xấu xa được gán cho những
gò di tích Phật Giáo là nói lên sự việc Phật Giáo đã bị sự
đàn áp của những người Ấn Ðộ Giáo cuồng tín về sau, hoặc có
thể nó đánh dấu mức độ xuống thấp của Phật Giáo, trong thời
gian cuối cùng khi nó mang hình thái của Kim Cang Thừa
(Vajrayana) hay Sahajayana, những hình thái không khác với
mật giáo phóng dật. Hai lý do trên, chúng tôi tin tưởng vào
lý do thứ nhất nhiều hơn.
Ðể chứng
minh sự điên rồ của những lý lẽ sau, chúng tôi xin độc giả
ghi nhớ những sự hành trì đồi bại hơn nhiều trong những đền
Ấn Ðộ Giáo. Chúng tôi không có ý liệt kê ra đây một danh
sách dài về những tội ác của những thầy tế Bà La Môn trong
những năm tháng đó. Ðoạn trích sau đây từ một bài viết của
ishwar Singh Bais cũng đủ để phản ảnh đời sống trong các đền
Ấn Ðộ Giáo ngày xưa. Ông viết:
- Những
vũ nữ của mỗi đền được sắp hàng thứ nhì. Họ là những
devdasis hay nô lệ của chư thần, nhưng họ được gọi bằng cái
tên thô lậu của những gái điếm. Và trong thực tế, họ gắn bó
với nghề nghiệp của họ để ban ân huệ cho người nào yêu cầu
và được trả lại bằng tiền. Dường như ban đầu họ được dành
riêng cho những thầy Bà La Môn mua vui. Và những người đàn
bà nầy, được công chúng biết đến về sắc đẹp của họ, được
hiến dâng một cách đặc biệt trong việc phụng sự các thần
linh của Ấn Ðộ Giáo. Nhiệm vụ chính của họ gồm có múa và hát
trong đền hai lần mỗi ngày, sáng và tối trong những cuộc lễ
công cộng. Tất cả thời gian còn lại giữa những cuộc lễ, thì
dùng vào những việc xấu hổ hơn, và một việc không phải là ít
xảy ra, là ngay cả những đền thờ thiêng liêng cũng bị biến
thành những nhà chứa. Xa hơn nữa, Có ít đền thờ mà vị thần ở
đó không đòi quyền chữa trị bịnh không sinh đẻ của đàn bà.
Thường thường những thầy tế khuyên họ ở lại qua đêm tại đền,
nơi đây, họ nói thần linh cảm động với lòng thành của họ, có
thể viếng họ trong tinh thần và sẽ giao hợp với họ. Với mánh
khóe nầy, những thầy tế thỏa mãn dục vọng của họ.
Ngoài
những hành động trong những đền thờ Ấn Ðộ Giáo đã được đề
cập, tầm quan trọng về những quan hệ dục tình trong Ấn Ðộ
Giáo cũng được thấy rõ ràng trong những cảnh dâm đãng trên
những bức tường của những đền thờ ở Konark, Khajuraho, v.v.
Về những công trình điêu khắc ở Konark, A.L. Basham nói
trong tác phẩm Kỳ Quan Ấn Ðộ:
- Tính
cách dâm đãng lộ liễu một cách hiếm có của nhiều công trình
điêu khắc ở Kornark đã đem lại cho Chùa Ðen một tiếng tăm
nhơ nhớp. Những hình Maithuna, với những cặp ôm sát nhau hay
đang trong tư thế giao hợp, được phổ biến là những nét trang
trí đặc trưng của nhiều ngôi đền Ấn Ðộ, nhưng những hình ở
Konark đặc biệt sống động. Những hình điêu khắc ở Khajuraho
cũng tương tự.
Như vậy
chúng ta có thể không do dự nói rằng: Nếu ở đâu những tiêu
chuẩn luân lý bị sa đọa, đó là những nơi cư ngụ của các thần
và nữ thần Ấn Ðộ Giáo. Thật vậy, như ishwar Singh Bais nói:
- Trong
nhiều đền thờ, và từ thế kỷ thứ tám sau Tây lịch về sau,
trong hầu hết các đền thờ Ấn Ðộ Giáo, sự sa đọa bắt đầu và
với đời sống trong đền biến nó thành địa ngục. Các thầy tế
đã hy sinh sự cao thượng và đạo đức, chỉ giữ lại tham lam và
dục vọng. Nếu Ấn Ðộ Giáo có thể nẩy nở dưới bầu không khí
đồi bại đó, thì việc biến mất của Phật Giáo không rõ ràng,
dù cho có một số sa đọa trong tiêu chuẩn luân lý của những
người mộ đạo; vì vậy chúng tôi không chấp nhận điều nầy. Từ
đó, chúng tôi quả quyết luận điệu gán cho sự thối nát trong
các chùa chiền không phải là không có căn cứ mà còn có tác
hại, và những lý do của sự suy tàn của Phật Giáo phải được
tìm thấy ở chổ khác.
SỰ NGƯỢC
ĐÃI
Một
trong những nguyên nhân chính làm cho Phật Giáo suy tàn và
sụp đỗ nhanh chóng ở Ấn Ðộ là sự đàn áp của những nhà cầm
quyền cũng như những người cuồng tín.
Bố Sa
Mật Ða La (Pushyamitra), một tướng lãnh Bà La Môn dưới triều
Brihadratha, vua cuối cùng của vương triều Khổng Tước
(Maurya), là người đầu tiên ngược đãi Phật Giáo. Ông ám sát
nhà vua vào năm 185 trước Tây lịch; soán lấy ngôi vua nước
Ma Kiệt Ðà (Magadha), cai trị bằng sự khủng bố. Một ông vua
Ấn Ðộ Giáo khác đàn áp Phật Giáo là Sasanka, vua nước Gauda
(Bengal), hành động phản bội đầu tiên của ông là giết
Rajyavardhana vào năm 605 sau Tây lịch, anh của Harsha, vị
hoàng đế Phật Giáo cuối cùng. Sasanka là một người thuộc
giai cấp Bà La Môn và tín ngưỡng thần Shiva. Ông cuồng tín
đến nổi trong cơn giận dữ ông đã phá hủy cây Bồ Ðề. Ngài
Huyền Trang ghé Bồ Ðề Ðạo Tràng vào năm 637 sau Tây lịch,
vào khoảng ba thế hệ sau biến cố trên, ghi lại như sau:
- Trong
thời gian sau Sasanka-raja, một tín đồ dị giáo, phỉ báng Ðạo
Phật, và vì ganh ghét đã phá hủy những tu viện và chặt cây
Bồ Ðề, đào đến tận mạch nước dưới đất, nhưng ông không thể
đào đến chổ rể tận cùng của nó. Sau đó ông dùng lửa đốt và
tưới nước mía lên, với ý muốn tiêu diệt nó hoàn toàn, và
không để lại một vết tích nào về sau. Ông cũng đã dời tượng
Phật từ ngôi chùa gần cây Bồ Ðề và thay vào bằng thần Shiva.
Ông cũng đã liệng vào sông Hằng tảng đá thiêng liêng có dấu
bàn chân của Ðức Phật ở thành Hoa Thị (Pataliputra). Và để
làm tròn những kế hoạch tội lỗi của ông, Sasanka được cho
biết là đã tiêu diệt tăng sĩ trong khu vực Câu Thi La
(Kushinagar).
Một
trong những người đàn áp Phật Giáo lớn lao nhất là thủ lãnh
Hung Nô, Mihirakula, đã làm thiệt hại lớn lao cho những chùa
Phật Giáo ở Gandhara, Punjab, và Kashmir. Mihirakula là một
người thờ Shiva và là một nhà bảo hộ lớn cho Bà La Môn giáo.
Trong cơn điên rồ của ông, ông đã san bằng 1,600 tu viện,
tháp, và chùa, và giết hại hằng trăm tín đồ Phật Giáo tại
gia. Toramana, một ông vua cũng của vương triều tàn bạo đó,
được cho biết là đã tiêu hủy chùa Ghostarama ở Kiều Thưởng
Di (Kausambi).
Về việc
đàn áp Phật Giáo ở Kashmir, F.M. Hussnain viết:
- Chính
Nara, người đã khởi sự tiến hành việc tiêu diệt Phật Giáo ở
Kashmir. Ông cho thiêu hủy những tu viện Phật Giáo ở Kashmir
và trừ diệt quần chúng Phật tử bằng cách tịch thu đất đai
của họ để ban cho những người Bà La Môn. Những gì xảy ra ở
Kashmir là một phần trong cùng tiến trình tiêu diệt Phật
Giáo trong nước. Trong cuộc đấu tranh giữa Phật Giáo và Bà
La Môn Giáo, Bà La Môn giáo đã chiến thắng, trong những hoàn
cảnh đó, sự tiêu diệt của Phật Giáo ở Kashmir chỉ là vấn đề
thời gian.
Hussnain
nói thêm:
-
Pravarasena nắm quyền vào khoảng cuối thế kỷ thứ sáu. Ông ta
phải đánh lui những cuộc tấn công của Mummuni, một thủ lãnh
Hồi Giáo đến từ Trung Á. Ông xây dựng thành phố
Pravarasenanagar với những ngôi đền năm vị Nữ Thần. Chú ông
là Jayendra xây một tu viện nổi tiếng là Jayendravihara, thờ
một tượng Phật lớn nhất. Ngài Huyền Trang đã viếng tu viện
nầy trong thời gian ở tại Kashmir. Tu viện nầy đã bị
Ksemagupta thiêu hủy, ông nấu chảy bức tượng khổng lồ để
dùng cho đền thờ thần Shiva của ông.
Một
người khác được coi như đối thủ của Phật Giáo, người đã
tuyên bố: Giáo lý của Phật là thứ vô dụng giống như chất mủ
chảy ra từ da chó là Kumarila Bhatt, một người Bà La Môn.
Ông sống vào thế kỷ thứ bảy sau Tây lịch. Theo đề nghị của
ông, Suddhanvan, vua nước Ujjain, được nói là đã tiêu diệt
những tín đồ Phật Giáo. Sự đàn áp tàn nhẫn tín đồ Phật Giáo
của Suddhanvan, dưới sự xúi dục của Kumarila Bhatt, được ghi
lại trong hai tài liệu về tiểu sử của Sankaracarya, đó là
tác phẩm Sankaravijaya do Anandagiri, đệ tử trực tiếp của
Sankaracarya viết, và tác phẩm Sankara-digvijayam do Madhava
(thế kỷ mười bốn) viết. Thực vậy, Madhava Acharya xác nhận
rằng, với sự xúi dục của Kumarila Bhatt, Suddhanvan ra lệnh
giết chết tất cả tín đồ Phật Giáo từ Ramesvaram đến vùng Hy
mã lạp sơn. Ông còn ra lệnh nếu ai không giết tín đồ Phật
Giáo sẽ bị xử tử.
Sankaracarya, một vị thầy Vedanta, cũng chịu trách nhiệm
trong việc đàn áp Phật Giáo. Thật vậy, ông đã gieo sự khũng
bố trong tâm tín đồ Phật Giáo. Theo truyền thống Tây Tạng,
khi ông đến, tín đồ Phật Giáo trong các chùa bắt đầu phân
tán tứ tung. Chính ông đã có lần viết trong Bhashya của kinh
Phạm Thiên rằng: Phật Ðà là một kẻ thù của quần chúng và đã
dạy những điều mâu thuẫn và lộn xộn.
Cách
thức người Ấn Ðộ Giáo xử dụng để đẩy Phật Giáo ra khỏi nơi
sinh sản ra nó được soi sáng trong câu chuyện thần thoại
Gaya Asura ghi trong Gaya Mahatmya, một phần trong Thánh thư
Vaya. Theo huyền thoại nầy, Gaya Asura (con quỉ) đạt được
quả vị thần thánh đến mức độ bất cứ ai thấy hay chạm được nó
là sanh về cỏi trời. Yama, vua Diêm Vương, nổi lòng đố kỵ,
cầu chư thần giảm bớt năng lực của Gaya Asura. Các vị thần
đợi Gaya và xin nó bố thí sự trong sạch và thân thể thánh
thiện của nó để tế lễ. Ðáp ứng lại điều đó, Gaya đến và nằm
xuống, cái đầu đặt tại vị trí xưa là Gaya. Các thần đặt một
tảng đá trên đầu nó. Nhưng điều đó chưa đủ chứng minh nó có
thể nằm yên. cuối cùng Gaya Asura trở nên bất động khi thần
Vishnu ngồi trên tảng đá để giữ không cho nó cử động, và hứa
rằng tảng đá trên đầu nó sẽ được tuyên dương, là nơi linh
thiêng nhất trên trái đất; chư thiên sẽ nghỉ trên tảng đá
đó; chỗ đó sẽ được đặt tên là Gaya-Kashetra; và rằng ai cúng
dường bánh trong tang lễ và thực hành tang lễ ở đó thì chính
mình được phước và làm cho tổ tiên được sinh lên trời, nơi
của Phạm Thiên.
Câu
chuyện về Gaya Asura xưa đến độ nào chúng ta khó biết. Dù
luận điệu của những người Ấn Ðộ Giáo chính thống về sự cổ
xưa của Gaya như thế nào, chúng ta thấy rõ rằng thành phố
Gaya đã được nâng lên địa vị như ngày nay trong thế giới Ấn
Ðộ Giáo chỉ sau khi Phật Giáo suy sụp ở Ấn Ðộ.
Theo
quan điểm của tiến sĩ Rajindralah Mitra, một học giả với tầm
nhìn về lịch sử có một không hai, câu chuyện thần thoại khó
tin trong Thánh thư Vayu hàm chứa một biểu tượng về sự chiến
thắng cuối cùng của Bà La Môn giáo đối với Phật Giáo, tôn
giáo đã từng nẩy nở mạnh mẽ trong và quanh Gaya suốt nhiều
thế kỷ. Xin trích một đoạn của ông:
- Những
người Ấn Ðộ Giáo tin rằng câu chuyện nầy là có thật theo
nghĩa đen, nhưng tiến sĩ Buchanan gọi đó là một chuyện thần
thoại quái đản và có thể là vậy. Thoạt nhìn qua không có gì
có thể hồ đồ và ngu xuẩn hơn câu chuyện nầy; nó vi phạm mọi
ý nghĩa khuôn phép, và ngay cả giá trị về tính chân thật
trong sự kể chuyện của nó cũng không có. Ðồi Brahmayoni,
cũng là núi Kalahala, dài ba dặm, và tưởng tượng đặt trên đó
một người 125 yojan (do tuần) hay 576 dặm bề cao, và 268 dặm
chu vi không thể nào làm được, cho dù là người có đầu óc
nghèo nàn nhất cũng nhận được. Một chiếc đầu một dặm chu vi
trên một cơ thể 576 dặm cao, cũng giống như cây kim nằm trên
cơ thể của một người bình thường. Sự vô dụng của các thần để
giữ một con ma đang nằm và những cố gắng vô ích của họ để
giữ con ma không cựa quậy, quả thật trẻ con. Và trong trường
hợp nầy, một vấn đề được đặt ra: Làm thế nào tác giả của
thánh thư Vayu trong đó Gaya Mahatmya là một bộ phận, tạo ra
một câu chuyện quá trẻ con để bảo đảm sự tôn kính và sùng
bái của số đông quần chúng đối với địa danh nầy? Ông không
thiếu sự thông minh, vì ông đã thảo luận những vấn đề triết
học khó hiểu với tài xử trí và khéo léo đáng lưu ý. Cũng vô
lý và không thật khi nói rằng ông không thể phân biệt sự hợp
lý với tính trẻ con và hàm hồ. Vì vậy, coi câu chuyện nầy
như là một thứ hồ đồ, theo ý tôi, là một kết luận vội vàng,
và là dấu hiệu của sự thiếu kiên nhẫn. Chúng tôi cần đứng
trên quan điểm của một sử gia triết học để giả thiết rằng có
một cái gì đó bí mật dấu sau lớp vỏ bên ngoài của câu
chuyện; với một ý nghĩa bí mật. Tôi tin tưởng, điều nầy dễ
nhận thấy, câu chuyện nầy là một phúng dụ về sự thành công
của Bà la môn giáo đối với Phật Giáo:
- Gaya
được gọi là một Asura, thông thường có nghĩa là người khổng
lồ, một ma quỷ, một con ma dụ dỗ, một người chửi rủa các
thần và tôn giáo; nhưng nó không được vẽ ra như vậy. Nó
không ham mê trong tội lỗi, không làm thương tổn ai, và
không chống lại các thần cũng như tôn giáo bằng lời nói hay
hành động. Ngược lại, nó được diễn tả là một người sùng kính
Vishnu, hiến mình cho sự sám hối nghiêm nhặt, và những cuộc
thiền định kéo dài, và cho những yêu cầu làm trong sạch tột
cùng thể xác và tâm hồn; một người mà chỉ chạm đến là có thể
rửa sạch những tội lỗi lớn nhất của con người và được sinh
vào cõi trời. Sự buộc tội nghiêm trọng nhất đối với y là đã
làm sự cứu rỗi quá đơn giãn và ngắn gọn. Trong trường hợp
của y, vì vậy, sự việc chỉ có nghĩa là y đã không theo tín
ngưỡng của người Bà la môn, cũng không theo đường hướng của
họ, tóm lại y là một người dị giáo. Tính chất nầy đã luôn
luôn được gán cho những người lãnh đạo trong khối Phật Giáo.
Họ sùng tín, họ biết sống khổ hạnh, họ hết lòng dấn thân vào
sự sám hối và thiền định; nhưng họ tránh xa sự tế tự và
những cuộc lễ của người Bà La Môn, và vì vậy Gaya có thể
được coi như sự nhân cách hóa Phật Giáo. Thân thể của nó đo
được 576 x 268 dặm, và khu vực từ Kalinga đến Hy mã lạp sơn,
và từ Trung Ấn đến Bengal, khu vực mà Phật Giáo đã lan tràn
trong thời gian câu chuyện được viết ra bao trùm khắp không
gian đó, và còn hơn nữa. Tổng hành dinh của Phật Giáo là
Gaya; và thị trấn Gaya, ngay cả ngày nay, có bề rộng vừa một
dặm. Cố gắng của các thần để đặt xuống chiếc đầu của con ma
là một điển hình cho cố gắng của người Ấn Ðộ Giáo tấn công
Phật Giáo ở trung tâm gây cảm hứng cho nó, trung tâm đầu
não, và đòn gậy của Vishnu chỉ cho phương sách đã dùng để
tấn công khi sự thuyết dụ không đạt được kết quả cuối cùng.
Tảng đá tôn giáo được đặt lên đầu của kẻ không theo đạo, sức
mạnh của các thần giữ nó cố định và không thể lay chuyển.
Cũng chính là phúc lành của chư thần đã thánh hóa cái nôi
của Phật Giáo trở thành một nơi tôn nghiêm của tín ngưỡng Ấn
Ðộ Giáo. Chúng ta biết quá rõ về những phương tiện được dùng
đến ở Puri, Bhuvnesvana, và những nơi khác để biểu hiện
những biểu tượng Phật Giáo. Những nơi thiêng liêng của Phật
Giáo, và ngay cả những tượng Phật Giáo có ích cho sự lễ bái
của Ấn Ðộ Giáo, và không vô lý một chút nào khi giả thuyết
cùng một tiến trình đã được xử dụng tại Gaya.
Ngoài sự
đàn áp của vua chúa và tôn giáo, Phật Giáo còn là đối tượng
đàn áp và tẩy chay của xã hội. Chúng ta thấy rõ rằng khi
Phật Giáo bắt đầu suy tàn, người Ấn Ðộ Giáo đã lợi dụng sự
nghèo khó của tín đồ Phật Giáo, cho phép họ vào lại cộng
đồng Ấn Ðộ Giáo nhưng lên án họ là những người Không Thể
Chạm Ðến, ghép vào giai tầng thấp nhất, ở ngoài bốn giai cấp
của Ấn Ðộ Giáo. Họ hoàn toàn bị rút phép thông công với xã
hội, và bị gán cho danh hiệu là Pariah, Pamchama, Avarna,
Ati-Shudra là những người mà chỉ chạm vào hay chạm vào bóng
là có thể làm ô uế giai cấp Ấn Ðộ Giáo. Họ bị buộc phải sống
ở bên ngoài làng và đã là mục tiêu cho nhiều chứng bịnh xã
hội. Họ bị từ chối khả năng học hành, và chỉ có thể làm
những nghề nghiệp thấp thỏi hèn hạ. Không những họ bị cấm
không được xử dụng nước giếng, hồ chứa nước, và những nơi
công cộng, họ còn không có quyền có sở hữu. Tóm lại, họ bị
coi là những người nô lệ, họ không có chọn lựa nào khác hơn
là phục dịch cho những cái gọi là giai cấp cao hơn mà không
có một phần thưởng nào. Chúng ta không nghi ngờ, khi bị đè
dưới gánh nặng của nghèo nàn, cộng với sự đàn áp và bốc lột
của xã hội, những đệ tử của Ðức Phật đã quên di sản huy
hoàng của họ và cam chịu số phận đau thương. Sự đối xử lỗ
mãng đối với người Không Thể Chạm Ðến, ngày nay là những
giai cấp phụ bởi giai cấp Ấn Ðộ Giáo chỉ có thể được giải
thích, đó là kết quả của thành kiến và thù ghét của họ đối
với Phật Giáo. Bằng không, tại sao một khối người lớn lao
lại bị tước đoạt phương tiện và bị nguyền rủa là Không Thể
Ðến Gần, Không Thể Nói Chuyện, và Không Thể Va Chạm.
Việc
những Người Không Thể Chạm Ðến, hay là những Giai Cấp Phụ ở
Ấn Ðộ ngày nay là những tín đồ Phật Giáo ngày xưa có thể
được chứng minh:
- Ðầu
tiên, hầu hết những phong tục và tính chất của họ nền tảng
là Phật Giáo.
- Thứ
hai, họ không quan tâm nhiều đến những thần linh Ấn Ðộ Giáo.
Giống như tín đồ Phật Giáo, họ thờ phụng Ðức Phật, vị Thầy
vĩ đại nhất của họ và họ tôn thờ những vị Thầy như Ravidas,
Chokhamela, Kabir, v.v. Như vậy, giống như tín đồ Phật Giáo,
họ là những người Gu-bhaju, những người tôn thờ Thầy, chứ
không phải là những Dev-bhaju, những người thờ phụng thần
linh như trong trường hợp những người Ấn Ðộ Giáo.
- Thứ
ba, một vài giai cấp phụ ở Punjab, Himachal Pradesh, Delhi,
và Rajasthan tự xưng là Ad-Dharmi hay Adi-Dharmi. Chữ Ad có
nghĩa là cổ, xưa hay nguyên thủy và người Ad-Dharmi tin
tưởng rằng họ là tín đồ của một tín ngưỡng cổ xưa. Không
nghi ngờ rằng những từ như Ad-Dharmi hay Adi-Dharmi có mầm
giống Phật Giáo vì chúng tương tự những thành ngữ Phật Giáo
như Adi-Buddha và Adi-Dharma mà theo truyền thống Ðại thừa,
chúng biểu thị cho trí tuệ hay Tâm và Vật. Hơn nữa, những
tín đồ Phật Giáo từ lâu đời đã gọi tôn giáo của họ là Dharma
hay Saddharma, và những tín đồ Phật Giáo ở Orissa gọi họ là
Mahima Dharmi (những tín đồ của Giáo Pháp đáng tán dương).
Thật vậy
những người nầy đã là những tín đồ Phật Giáo trong quá khứ.
Ðiều xảy ra sau nầy dường như là do sự đàn áp và không được
học hành, họ đã quên tên Phật Ðà hay có thể họ từ bỏ tên của
Ðấng Pháp Vương để không còn chịu gian khổ như Achyutananda
một thi sĩ ở Orissa vào thế kỷ thứ mười sáu, an ủi họ bằng
cách nói rằng: vì sự đáng ao ước trong Kaliyuga mà những tín
đồ Phật Giáo phải cải trang.
Sự xâm
nhập của người Hồi Giáo đẩy mạnh sự điêu tàn của Phật Giáo
trên đất Ấn. Khi người Hồi Giáo đến, họ có hai đối tượng
trước mắt:
- Thứ
nhất là nắm quyền chính trị,
- Thứ
hai là truyền bá Hồi Giáo.
Ðể đạt
được mục đích thứ hai, họ có kế hoạch khử trừ những đền chùa
Phật Giáo và Ấn Ðộ Giáo, các tăng sĩ và thầy tế của Bà La
Môn, vì chúng là những kho tàng tư tưởng tôn giáo. Họ có
khuynh hướng chống những tu sĩ Phật Giáo, những người đã
truyền bá thông điệp bình đẳng do đức Như Lai dạy. Khuynh
hướng nầy được trù hoạch vì người Hồi Giáo, thấy rằng họ gặp
khó khăn trong việc truyền dạy thông điệp tiên tri của họ về
bình đẳng dưới quan điểm của những giáo lý tương tự như của
Ðức Phật. Do đó, những người Hồi Giáo cuồng tín san bằng các
tu viện, và thủ tiêu hầu hết các tăng sĩ trong tu viện đó.
Thiểu số may mắn thoát khỏi lưỡi gươm của Hồi Giáo, họ phải
chạy trốn để giữ mạng và tìm nơi ẩn náu ở những nước láng
giềng. Hai ông vua Hồi Giáo đáng chú ý đã tàn phá những nơi
thiêng liêng của Phật Giáo là Mahmud Gazinavi và
Bakhtiaruddin Khilji. Ông vua trước đã cướp bóc những chùa
chiền ở Kot Kangra (Mimachal Pradesh) vào thế kỷ thứ mười,
và ông vua sau đã phá hũy những tu viện Nalanda, Vikramasla,
và Odentapuri là những trụ sở sống động cho đến thế kỷ thứ
mười hai. Nói về sự xâm lăng của Hồi Giáo, tiến sĩ Ambedkar
nói:
- Những
người xâm lăng Hồi Giáo cướp phá những Ðại Học kể ra một số
ít là Nalanda, Vikramasila, Jagaddala, Odantapuri. Họ nhổ
tận nền những tu viện Phật Giáo rãi khắp nơi trong nước.
Tăng sĩ hàng ngàn người chạy trốn qua nước Nepal, Tây Tạng,
và những xứ ngoài Ấn Ðộ. Một số rất lớn bị giết bởi những
người lính Hồi giáo. Tu sĩ Phật Giáo bị tàn hại dưới lưỡi
gươm của những người xâm lăng Hồi giáo như thế nào đã được
các sử gia Hồi Giáo ghi lại. Tóm tắt tài liệu liên quan đến
sự tàn sát tu sĩ Phật Giáo của tướng Hồi Giáo gây ra ở Bihar
khi ông đem quân xâm lăng vào năm 1197 sau Tây lịch, Ông
Vincent Smith viết:
- Tướng
Hồi Giáo đã làm cho mọi người biết tên ông trong lúc khủng
bố bằng những cuộc viễn chinh cướp bóc nhiều lần ở Bihar,
chiếm đoạt kinh đô bằng những trận đánh táo bạo. Sử gia
đương thời, gặp một trong những người sống sót trong toán
tấn công vào năm 1243 sau Tây lịch, và được cho biết là pháo
đài của Bihar bị chiếm lấy do một nhóm quân chỉ gồm hai trăm
kỵ binh, họ lao vào cửa Ðông một cách dũng cảm và chiếm lấy
vị trí. Một số lượng lớn đồ cướp bóc được thu thập và sự tàn
sát những ỔNgười Bà La Môn Ðầu TrọcỖ, chỉ những tu sĩ Phật
Giáo, hoàn toàn hoàn tất, và khi người chiến thắng tìm một
người có thể giãi thích được những sách trong thư viện các
chùa, thì không còn tìm được một người nào còn sống để có
thể đọc những sách đó. Chúng tôi được cho biết rằng: ỔNgười
ta khám phá ra rằng toàn bộ pháo đài ở thành phố đó là một
trường cao đẳng, và theo cách nói của người Ấn Ðộ Giáo thì
họ gọi là trường Bihar.
Sự tàn
sát giới tu sĩ Phật Giáo do những người Hồi giáo xâm lăng
gây ra là như vậy. Vì muốn tiêu diệt Phật Giáo, nên Hồi Giáo
giết giới tu sĩ Phật Giáo. Ðó là cuộc khủng bố lớn lao nhất
làm cho tôn giáo của Phật Ðà suy tàn ở Ấn Ðộ. Tôn giáo cũng
giống như ý thức hệ khác, có thể được duy trì chỉ bằng sự
truyền bá. Nếu sự truyền bá thất bại, tôn giáo phải biến
mất. Lưỡi gươm của Hồi Giáo gieo mạnh xuống giới tu sĩ. Họ
bị tiêu diệt hay trốn thoát ra nước ngoài. Không còn ai ở
lại để thắp sáng ngọn lửa Phật Giáo.
Một số
hành giả Ấn Ðộ Giáo lợi dụng tình trạng người Hồi Giáo gây
ra trong việc xâm chiếm những nơi thờ phụng của Phật Giáo ở
Bihar được Dharmasvamim, một người hành hương Tây Tạng viếng
Bihar khoảng ba thế hệ sau cuộc tai biến, diễn tả một cách
sống động. Theo ông Ratnabodhi, thư viện lớn nhất ở Nalanda,
thoát khỏi sự tàn phá dưới bàn tay người Hồi Giáo, đã bị
những khất sĩ Ấn Ðộ Giáo đốt cháy. Ông nói:
- Họ
(những người Ấn Ðộ giáo) thực hiện một Yana, lễ tế lửa, và
liệng những than hồng và tro lấy từ hầm tế vào những ngôi
chùa Phật Giáo, v.v. Ðiều nầy gây nên một đám cháy lớn thiêu
rụi Ratnabodhi, thư viện chín tầng của Ðại Học Nalanda.
Việc
những kẻ đối lập Phật Giáo trong hàng ngũ Ấn Ðộ Giáo đã
không lùi bước trong việc tàn phá những nơi thiêng liêng của
Phật Giáo, ở những nơi khác cũng được thấy rõ từ những đống
tro tàn, những hình ảnh bị đốt cháy, và xương của những tăng
sĩ được các nhà khảo cổ tìm thấy ở Sarnath và vùng phụ cận.
Rõ ràng, các chùa bị thiêu hủy do những người cuồng tín và
việc nầy dường như đã xãy ra nhiều lần, như thiếu tá Kittoe,
người tiến hành công việc khai quật ở Sarnath vào năm 1851
đã nói:
- Tất cả
mọi thứ đều bị cướp phá và thiêu hủy, tu sĩ, chùa, tượng,
tất cả cùng với nhau, vì ở một số nơi, xương, sắt, gỗ, và đá
được tìm thấy từng khối lớn, và việc nầy xảy ra nhiều lần.
Sự suy
tàn của những trung tâm Phật Giáo thổi đến một ngọn gió định
mệnh cho tín đồ Phật Giáo, họ không thể phục hồi trở lại nền
tảng đã mất. Vì vậy, trải qua những thế kỷ kế tiếp, Phật
Giáo một mặt bị chính những người hâm mộ nó thờ ơ, và mặt
khác, hàng ngàn chùa chiền của nó bị những kẻ đối lập hủy
diệt, cướp bóc hay chiếm đoạt. Những công trình Phật Giáo
tiếp tục bị tiêu hủy, cướp bóc trong nhiều thế kỷ chỉ vì vật
chất, sẽ được cho thấy rõ ràng với một vài trích dẫn sau
đây:
1) Ngôi
tháp tráng lệ Bharut ở Madhya Pradesh, từ đó nó được gọi tên
và nổi tiếng khắp thế giối về những mẫu tinh vi nhất của
Nghệ Thuật và Ðiêu Khắc Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ hai sau Tây
lịch, đã bị những người địa phương ngu dốt kéo sập chỉ để
lấy gạch làm nhà riêng của họ. Cunningham, người đã khám phá
và khai quật ngôi tháp nầy vào năm 1873-74, nói rằng làng
ngày nay là Bharhut gồm đến hai trăm ngôi nhà đều hoàn toàn
được xây bằng gạch lấy từ ngôi tháp này. Việc làm của dân
làng Bharhut làm cho những làng lân cận bắt chước. Họ tháo
dở một số lớn những cột trụ và chấn song mang về dựng nhà
của họ. Cunningham đã khám phá ra sáu cây trụ ở làng kế bên
là Batanmara và tám trụ ở Pathora. Ông cũng khám phá ra một
số những tảng đá điêu khắc từng các chấn song của tháp trong
hầu hết các làng rộng lớn xung quanh Bharhut, đặc biệt là ở
Uchahara, Batamara, Pathora, và Madhogarh (hay Patharhat).
2) Tháp
Dharmarajika ở Sarnath bị Jagat Singh tháo dỡ vào năm 1794
chỉ để lấy gạch xây chợ ở Varanasi. Chợ nầy ngày nay được
biết đến với tên là Jagatganj. Trụ của vua A-Dục cũng bị đập
vỡ.
3) Về
ngôi tháp danh tiếng Amaravati ở Andhra Pradesh, V.R. Narla,
một người có thẩm quyền về nghệ thuật Phật Giáo ở Andhra,
nói:
- Hầu
hết những tàn tích ngày nay đều rủi ro không còn. Ngay cả
vào thời Ðại tá Colin Mackenzie người đã thấy tháp Amaravati
vào cuối thế kỷ thứ mười tám, nhiều tảng đá hoa điêu khắc đã
bị tiêu hủy. Chúng bị đào lên và đốt thành vôi do người cầm
đầu ở nơi đây, người nầy vào năm 1797 đã dời tổng hành dinh
về Amaravati, đám tro tàn của nó mang nhiều tính chất lịch
sử và được truyền thống thánh hóa, và làm một sự cố gắng yếu
ớt để dựng một thành phố mới gần chùa Amaresvara. Và ngay cả
những tác phẩm điêu khắc thoát khỏi sự phá hoại văn hóa nầy,
ngày nay cũng bị phân rải nhiều nơi.
4- Vào
năm 1840, ngôi tháp Phật Giáo ở Gudivada trong xứ Andhra
Pradesh bị phá hủy để lấy vật liệu sửa sang con đường giữa
Bezwada và Bandar. Ðề cập đến sự phá hoại văn hoá nầy, ông
Rea nói:
- Thật
là hối tiếc, tất cả những công trình nầy đã phải chịu hủy
hoại bởi những bàn tay của những người cầm vật liệu để xây
dựng đường và những công việc tương tự. Mặc dù những công
trình kiến trúc cổ xưa nhất còn tồn tại một nền văn minh cổ,
tính chất thái cổ của chúng không có sự bảo vệ cho chúng
khỏi những bàn tay tước đoạt.
PHẬT
GIÁO BỊ ÐỒNG HÓA
Ðể đối
đầu tương xứng với Phật Giáo, Ấn Ðộ Giáo đã sớm tiến hành
việc sửa đổi và tự biến dạng. Về việc nầy họ đã vũ trang hệ
thống của họ bằng những tính chất tốt đẹp của Phật Giáo cả
trong lý thuyết và thực hành. Trong tiến trình cải cách nầy,
người Ấn Ðộ Giáo tiếp nhận lý tưởng Bất Sát (Ahimsa) và từ
bỏ việc tế súc vật; và cũng bắt đầu tổ chức theo cách thức
trong các tu viện Phật Giáo. Xa hơn, để chấm dứt việc đấu
khẩu lâu dài và khó khăn để giành phần thắng của những tín
đồ của hai tôn giáo, Ðức Thích Tôn được họ đặt vào trong các
thần Ấn Ðộ Giáo, như là một Hóa Thân (Avatara) của thần
Vishnu. Và điều nầy được công bố trong quảng đại quần chúng
do các tác giả Purana. Bên cạnh thánh thư Varaha, nói rằng
nhờ tuân theo lời nguyện của Buddhavadasi, vua Tịnh Phạn
(Suddhodana) đã được thần Vishnu xuống làm con dưới hình
tướng Phật Ðà. Ðức Phật đã bị coi là một Avatara của Vishnu
trong Matsya, Bhagavata, Garuda, và Linga Purana. Không chỉ
vậy, những người thờ thần Shiva tiếp thâu những yếu tố tu
viện và chiêm nghiệm của Phật Giáo, và những người thờ thần
Vishnu tiếp thâu những yếu tố sùng bái và nhân đạo của Phật
Giáo để bảo đảm tính phổ biến trong quần chúng. Những người
thờ thần Vishnu còn sửa đổi thái độ của họ về vấn đề hệ
thống giai cấp. Họ chấp nhận nó như là một thể chế xã hội,
không chuyên chở một sự theo đuổi tôn giáo hay tâm linh nào.
Như tiến sĩ Radhakrishnan nói:
- Một
tiến trình thâm nhập và sửa đổi từ từ đã phát triển, như
việc ủng hộ thuyết cho rằng Ðại Thừa Giáo chỉ là một giai
đoạn phân phái trong trào lưu lớn những người thờ thần
Vishnu, Tiểu Thừa Giáo, với tính chất khổ hạnh nhiều hơn,
được coi như một phái của người thờ thần Shiva. Khi tín
ngưỡng Bà La Môn khắc sâu tình thương mọi loài và sùng bái
thần linh và tuyên bố rằng Ðức Phật là hóa thân của Vishnu,
hồi chuông báo tử của Phật Giáo ở Ấn Ðộ đã vang lên.
NHỮNG
NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG
Bên cạnh
những nguyên nhân bên ngoài, chắc chắn là những nguyên nhân
chính cho sự thoái hoá và biến mất của Phật Giáo, còn có một
số ít những hạn chế và lầm lỗi bên trong cũng đã làm cho sự
biến mất cuối cùng của Phật Giáo trên quê hương nó xảy ra
một cách nhanh chóng.
Chúng ta
phải thừa nhận rằng chính những tín đồ Phật Giáo lãnh phần
trách nhiệm lớn cho số phận đáng buồn của tôn giáo của họ.
Ðức Phật đã vạch ra con đường cho các vị Tỳ kheo không những
là người đi tìm sự giác ngộ bằng thực hành những giới luật
đạo đức và tâm linh, nhưng cũng là người phụng sự xã hội hay
là người bạn, triết gia và người hướng đạo cho quần chúng.
Ðức Phật là một vị thầy tôn giáo đầu tiên ở Ấn Ðộ, hay nói
đúng hơn là toàn thế giới, cổ vũ những đệ tử của mình đi và
đi khắp nơi vì hạnh phúc và lợi ích của nhiều người. Thêm
nữa, Ngài là người đầu tiên đưa ra lý tưởng hy sinh, quên
mình và phục vụ cho kẻ khác. Ngài nói rằng một Tỳ kheo phải
xin ăn, phải sống bằng vật bố thí, phải hạn chế chỉ ăn ngày
một bửa. Theo những lời dạy của Thầy những vị Tỳ Kheo đầu
tiên đã đạt đến những tiêu chuẩn cao nhất của lòng kính tín,
hy sinh và phụng sự. Ðiều nầy đã thành tựu rực rỡ và làm cho
Phật Pháp trở thành một tôn giáo phổ biến và được tôn kính
nhất ở Ấn Ðộ. Nhưng bất hạnh thay, các tăng sĩ về sau đã
không giữ những tiêu chuẩn dành cho họ. Khi các tu viện trở
nên giàu có, thì hoạt động chính của họ được coi là đào sâu
việc nghiên cứu từ chương thay vì truyền bá Giáo Pháp, tăng
sĩ đánh mất sự giao hảo gần gũi với quần chúng, và tương
quan giữa tăng sĩ và cư sĩ bị thụt lùi. Các vị Tỳ Kheo trở
nên xao lãng và thụ động đối với những mục đích thực tiễn.
Ðiều nầy làm cho Phật Giáo suy yếu. Tình trạng Tăng Già
trong những năm chấm dứt thời kỳ vinh quang của Phật Giáo
tại Ấn Ðộ có thể được đánh giá từ những điều mà Cunningham,
một nhà khảo cổ, thám hiểm, và học giả vĩ đại nhất nói vấn
đề nầy. Ông nói:
- Phật
Giáo đã thật sự trở nên một tín ngưỡng già nua và kiệt lực,
những vị khất sĩ không còn đi khất thực, nhưng từ lâu đã
được hổ trợ bằng đất đai dành riêng cho các tu viện. Các vị
Sa Môn và Tỳ Kheo không giống như những người của thời xưa,
những người uyên bác và trí tuệ, sự tiết độ về thân xác và
sự nhứt tâm thiền quán cộng với những chủ trương thực tiễn
và gương mẫu trong sạch, đã kích thích lòng sùng kính của
quần chúng. Những tín đồ Phật Giáo hiện đại rơi vào tình
trạng mục nát, họ bằng lòng sống một đời sống thụ động trong
những công việc tẻ nhạt hằng ngày của đời sống tu viện, nơi
đó còn một vài dấu hiệu tôn giáo bề ngoài; nhưng không còn
sự tha thiết nồng nhiệt trong sinh hoạt thiếu sinh khí của
những công việc tẻ nhạt hằng ngày đó, và lòng hăng say đã
có thời đốt cháy trong tim của mỗi người tu sĩ Phật Giáo
trong việc truyền bá tôn giáo của họ đã dập tắt từ lâu.
Trong
những ngày xa xưa, tăng sĩ và tu viện là huyết mạch của Phật
Giáo. Nó nẩy nở, bao giờ những tu viện còn, các tăng sĩ còn
cẩn trọng. Một khi các tăng sĩ trở nên thờ ơ và đánh mất cái
tầm nhìn vào sứ mệnh của họ, Phật Giáo suy tàn. Và khi các
tu viện làm mồi cho sự phá hoại văn hoá, Phật Giáo đi đến
chỗ sụp đổ hoàn toàn. Rất nhiều sách vở Phật Giáo, hầu hết
được cất giữ trong các tu viện, cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn
Ðộ do sự phá hủy các tu viện. Lý do là những tín đồ Phật
Giáo không có tổ chức cư sĩ để giảng dạy, truyền bá, và bảo
vệ tôn giáo của họ. Với sự thiếu vắng những tổ chức như vậy,
họ chỉ đứng nhìn mà không giúp được gì khi các tu viện bị
cướp phá, xúc phạm và các tăng sĩ bị trục xuất hay giết
hại.
Sự thiếu
vắng những tập quán và nghi thức cho những cuộc lễ lộc trong
xã hội như đám cưới, v.v. của Phật Giáo cũng là một trong
những yếu tố làm cho Phật Giáo suy tàn ở Ấn Ðộ. Ðức Phật
chống lại chủ nghĩa nghi thức, cũng như độc quyền của những
người Bà La Môn là giai cấp thầy tế, không cho phép những
tăng sĩ hành động như những thầy tế trong những cuộc lễ có
tính cách xã hội. Cũng không có những cuộc lễ đặc biệt về
sinh nhật, cưới hỏi, v.v. được đề ra. Như vậy giới cư sĩ
tiếp tục thực hành theo những phong tục và lễ lộc đang lưu
hành, phần lớn do những người Bà La Môn đề ra. Thái độ không
xen vào của Phật Giáo, như tiến sĩ Joshi nói:
- Mặc dù
giúp cho sự truyền bá tôn giáo được trôi chảy, đã đem đến
kết quả trên chặng đường dài làm suy giãm ảnh hưởng của nó
trong xã hội.
Một
nguyên nhân bên trong khác, lót đường cho sự suy tàn của
Phật Giáo, là sự chiều chuộng quá đáng của những tín đồ đại
thừa nhiệt tình đối với những sự mê tín của Ấn Ðộ giáo. Ðể
truyền bá rộng tín ngưỡng của họ, không những họ đã nhân lên
và thần thánh hóa Ðức Phật, lại còn đưa một số thần và nữ
thần Ấn Ðộ Giáo vào làm các vị thần Phật Giáo, dưới dạng
những Bồ Tát để nhân cách hóa những năng lực của Phật Ðà.
Việc nầy làm cho Phật Giáo không còn khác biệt, ngọai trừ
tên gọi, với các thần thánh Ấn Ðộ Giáo, sự khác biệt giữa
hai tôn giáo bị xóa bỏ. Và khi Ấn Ðộ Giáo đưa Ðức Phật vào
danh sách các thần của họ để chứng minh rằng Phật Giáo là
một phái của họ.
Phật Giáo đánh mất tính riêng biệt.
KẾT LUẬN
Mất sự bảo trợ của
giới vua chúa có thể được coi là một nguyên nhân khác làm sự
suy tàn của Phật Giáo mau chóng. Ví dụ, phải trên hai trăm
năm để Phật Giáo mọc những chiếc rễ vững chãi và có được
hình thái của một trào lưu giãi phóng xã hội lớn trên quê
hương của nó. Việc nầy xảy ra với sự ra đời của vua A Dục (Ashoka)
vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch. Tuy nhiên trong vòng năm
mươi năm vua A Dục qua đời vào năm 232 trước Tây lịch, Ðế
quốc Khổng Tước (Maurya) sụp đỗ và Phật Giáo mất sự bảo trợ
của giới vua chúa chỉ trở lại 300 năm sau với sự ra đời của
Ca Nhị Sắc Ca (Kanishka) vào năm 78 sau Tây lịch. Với sự sụp
đỗ của vương triều Quý Sương (Kushana) vào thế kỷ thứ hai
sau Tây lịch, Phật Giáo lại mất sự bảo trợ của giới vương
giả. Giai đoạn sau Quý Sương là một giai đoạn rối ren chính
trị, cuối cùng đã đưa đến sự nổi lên của vương triều Cấp Ða
(Gupta) ở nước Ma Kiệt Ðà (Magadha).
Những vị vua của vương triều Cấp Ða là những người theo Bà
La Môn giáo và triều đại của họ được đánh dấu là đã làm phục
hồi Bà La Môn giáo. Người bảo trợ có quyền hành cuối cùng
cho Phật Giáo là vua Giới Nhật (Harsha) nắm quyền vào năm
606 sau Tây lịch, có nghĩa là năm trăm năm sau vua Ca Nhị
Sắc Ca. Sau khi vua Giới Nhật mất vào năm 647, Phật Giáo lại
mất sự bảo trợ của giới vương giả, và không bao giờ có lại
được sự bảo trợ trên một phạm vi rộng lớn. Một khi sự bảo
trợ của giới vua chúa không còn, và bị thay thế bằng sự đàn
áp của giới vua chúa và tôn giáo, thành lũy cuối cùng của
Phật Giáo sụp đổ nhanh chóng hơn có thể tưởng. Những gì còn
lại chưa bị những người phản động Ấn Ðộ Giáo phá hủy hết lại
bị dẹp sạch bởi những người cuồng tín Hồi Giáo. Như một nhà
văn đã viết:
- Màn cuối cùng
trong vở kịch Phật Giáo trên sân khấu đất mẹ của nó, bắt đầu
bị khủng bố, và chấm dứt trong câm lặng, một sự câm lặng
lãng quên. Những nơi thiêng liêng đổ nát, bị rừng rậm che
khuất, chùa chiền của nó chuyển sang tôn giáo khác. Ðức Phật
biến mất trong đám đông các thần Ấn Ðộ Giáo và ra khỏi ký ức
của con người.
Dù lý do nào đưa
đến sự suy tàn và biến mất của Phật Giáo khỏi đất nước Ấn Ðộ
đi nữa, một việc chắc chắn đó là điều bất hạnh nhất khi tôn
giáo của Ðức Phật, một tôn giáo hoàn cầu đầu tiên, đánh mất
ảnh hưởng trên đất tổ của nó. Sự việc nầy xảy ra, Ấn Ðộ đã
phải trả một giá rất đắt, đó là sự thật lịch sử. Nước Ấn Ðộ
sung mãn cho đến khi Phật Giáo vẫn còn là một tôn giáo sống
động, và khi Phật Giáo suy tàn, Ấn Ðộ đã mất đi tinh thần tự
do, danh tiếng giảm sút, và sự tiến bộ bị ngăn trở.
(www.quangduc.com)
----o0o---
|