|
TIẾNG CHUÔNG
CHÙA
Sư Pundariko
Chẳng hay Hương Tích chùa đâu,
Đi đôi ba dặm, lên đầu non
cao.
Cây um, đường tắt vắng teo,
Núi sâu chuông vẳng nơi nào
tiếng đưa.
(1)
Tiếng chuông theo làn gió thoảng
đến với nhà thơ Vương Duy như mời gọi khách hồng trần viếng
chốn am mây. Tiếng chuông đôi khi gợi buồn, đôi khi đem lại
niềm vui, tùy theo tâm trạng. Nhìn xa hơn, từ nơi tiếng
chuông ngân nga trong không gian người tầm đạo phải đọc được
ý nghĩa trọng đại trong đó. Nghe và hiểu được tiếng chuông
là thời điểm khai mở tâm trí của người đã bước vào chánh đạo.
Do vậy phải nghe như thế nào để tiếng chuông luôn luôn cuốn
hút và tạo ra sự mầu nhiệm ngay trong cuộc đời ?
Từ khi còn nhỏ nghe tiếng chuông, trong
lòng tôi như có sự đánh thức một kinh nghiệm tu tập nào đó
trong tiền kiếp xa xưa. Nhất là những buổi chiều tắt nắng,
trên cánh đồng bát ngát hương quê, tiếng chuông ngân vang
trong không gian càng thôi thúc thêm nơi tôi ý chí xuất gia.
Năm 14 tuổi tôi từ bỏ thế tục để bước vào cửa Phật, lòng rộn
rã tươi vui khi mẹ tôi tiễn đến tận chùa vào lúc hoàng hôn,
nhưng người ở lại cứ mỗi lần nghe tiếng chuông chùa thì lại
khóc vì nhớ con, đó là trường hợp của mẹ tôi, chỉ một thời
gian dài người mới nguôi ngoai và quen dần với nổi niềm xa
cách. Do đó :
Trong tâm trạng vui vẻ thì tiếng chuông
càng làm tăng thêm niềm hân hoan với cuộc sống :
“Phía tây, sau dẫy đồi cỏ biếc, sắc
trời đỏ ửng lấp loáng qua các khe đám lá xanh đen. Mái chùa
rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh
khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ
mờ in hình trong cái cảnh nhuộm đồng một màu tím thẫm. Trong
làn không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân
nga như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên
…”.(2)
Môt tâm trạng buồn bã, ưu tư thì tiếng
chuông càng gợi thêm mối sầu ly biệt :
“Tiếng chuông chùa vang vọng từ gác
chuông bên kia triền dốc rót vào tai mọi người một âm thanh
hiền dịu. Tiếng chuông ngân nga và rồi từ đấy, giã từ đồi
thông để vọng về bên kia thung lũng. Vẫn cứ thế, tiếng
chuông chiều tiếp tục ngân dài và vang vọng ra xa như gợi
buồn người cô lữ. Cả một cảnh rừng núi bao la hùng vĩ của
buổi chiều cuối năm gần như đứng lại để thoát hồn và say sưa
trong tiếng kinh chiều đang trầm buồn rơi nhẹ. Tôi lẩm bẩm
một mình “chuông chùa nghe buồn lạ”. (3)
Hoàng hôn
phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.
(4)
Tâm trạng của người mộ đạo,
hoặc của bậc xuất gia đạo hạnh thì tiếng chuông đem lại cảm
giác thanh thoát :
“ Vào những buổi hoàng hôn mưa lạnh,
không gì ấm cúng nhiệm mầu hơn là tụng niệm trên chánh điện,
trong lúc những giọt mưa rơi đều từ mái chùa, tạo thành
tiếng nhạc hòa với hồi chuông cổ kính ngân dài làm an tịnh
những tâm hồn bị đau khổ dày xéo … “ (5)
Chùa Hương Tích biết nơi nao
Đường lên mấy dặm đã vào gió mây
Không người cây cổ đó đây
Núi xa chuông vọng chẳng hay xứ nào
Suối tuôn ghềnh đá ào ào
Sắc trời lạnh lẽo tùng màu xanh xanh
Đầm chiều lượn khúc vắng tanh
Chốn thiền cuộc sống an nhàn triền miên. (6)
Người thức đêm trằn
trọc được giải tỏa ý thơ khi nghe tiếng chuông chùa.:
Nguyệt lạc ô
đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trăng tà,
tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc
hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa
Hàn San. (7)
Chẳng riêng gì nhà thơ, tiếng chuông
cũng cảnh tỉnh và khai thông cho nhiều tâm trạng thâu đêm
day dứt vì quá khứ lỗi lầm. Bên cạnh đó cũng có vô số tâm
hồn không những thức nhiều đêm dài trong đời người mà còn
thức vô số đêm trong luân hồi. Đây không phải là cái thức
theo nghĩa biết và thấy mà chỉ là cái thức trong giấc mộng
thế gian. Đức Phật có lời dạy rằng :
Đêm dài cho kẻ
thức,
Đường dài cho kẻ mệt,
Luân hồi dài kẻ ngu,
Không biết chơn diệu pháp.
(8)
Kẻ ngu vì không
như thực biết Diệu pháp nên kéo dài kiếp sống sinh tử triền
miên. Đời sống của kẻ ngu chỉ chuộng hình thức và lấy đó làm
điểm mấu chốt của cuộc sống. Bài kệ trên đây cũng nói đến
tiếng chuông mà kẻ ngu không bao giờ nghe được, bởi vì đó là
tiếng chuông không có âm thanh, đúng như :
Cuồng phong
bão tố ngất trời
Khúc vô thanh vẫn ngàn đời vô
thanh. (9)
Vô thanh nhưng hữu thanh là sự diệu
huyền. Đức Phật đã giác ngộ tiếng chuông này và Ngài gọi
bằng danh từ chuyên môn là ‘Diệu pháp” Từ nơi vô thanh Đức
phật phát ra âm thanh là lời dạy. Như vậy tiếng chuông, hoặc
tiếng nói chỉ là phương tiện để chuyển nghĩa trạng thái vô
thanh là Diệu pháp. Ai chấp vào phương tiện thì không bao
giờ nghe được chân nghĩa của tiếng chuông vốn dĩ quyết định
sự tồn tại lâu dài của giáo pháp.
Người mộ đạo dành cho tiếng chuông chùa
sự trang trọng đặc biệt, nhưng không phải lúc nào vẻ trang
trọng kia cũng bền chặt. Một khi ngôi chùa không giữ được
nếp sống thanh tịnh của thiền môn thì tiếng chuông mầu nhiệm
ngày nào sẽ trở thành vô duyện, lạc lõng, không còn ai muốn
nghe nữa, có chăng chỉ những kẻ phương xa ngờ nghệch. Cho
nên phải duy trì tiếng chuông theo nghĩa bóng là Diệu pháp ở
nơi mỗi người. Khi Diệu pháp tăng trưởng thì tiếng chuông
bên ngoài sẽ có sức hấp dẫn kỳ diệu, gần xa nô nức tìm đến
để tự thân lắng nghe âm thanh như thực phát ra từ nơi những
bậc thấy Pháp. Do vậy, đầu năm mỗi người hãy điểm ba tiếng
chuông vô thanh để tiếng vọng trở thành hồi chuông báo hiệu
mùa xuân bất tử đã đến.
----
(1) Trích Quá Hượng Tích tự, Tản Đà dịch.
(2) Hồn Bướm Mơ Tiên, Khái
Hưng.
(3) Khi chuông đầu năm vừa
điểm, Hoàng Huyền Trang.
(4) Trích thơ Xuân Tâm.
(5) Tìm Đạo, HT. Thích
Thiện Châu.
(6) Quá Hương Tích tự, Vương Duy, Mạnh Trương dịch
Bài dịch của Tản Đà:
Chẳng hay Hương Tích chùa
đâu
,Đi đôi ba dặm, lên đầu non cao.
Cây um, đường tắt vắng teo,
Núi sâu chuông vẳng nơi nào tiếng đưa.
Suối kêu nghẽn đá ria bờ,
Lạnh lung bóng nắng chui lùa thông xanh.
Trời hôm, tấc dạ thanh minh,
Quy y đạo Phật sửa mình là hơn.
(7)
Phong Kiều dạ bạc, Trương Kế, Tản Đà dịch.
Bài dịch của Mạnh Trương :
Quạ kêu trăng rụng trời
sương
Lửa chài cây bến như đương
mơ màng
Ngoài Cô Tô, chùa Hàn San
Nửa đêm chuông vọng vọng vang vào thuyền.
(8)
Kinh pháp cú, 60, HT. Thích Minh Châu dịch.
(9) Thơ Viên Minh.
·
Diễn đàn
|
Đến Tô Châu nghe chuông chùa Hàn Sơn |
|
|
|
|
Thứ ba,
29 Tháng 9 2009 10:00 |
|
Tôi
đến Tô Châu lần này là lần thứ hai, vậy mà, tràn ngập
trong tôi vẫn là một niềm háo hức khó tả, như sắp được gặp
lại một người quen rất thú vị mà ta chưa khám phá hết.
Tô
Châu hiện ra xinh đẹp và quyến rũ với những phố cổ mái nâu,
tường trắng, những cây cầu duyên dáng, những tháp chuông
chùa thấp thoáng sau rặng ngân hạnh lấp lánh như dát bạc.
Thành phố này giàu đẹp ngay từ cái tên: chữ Tô trong tên
thành phố nghĩa là “cá” và “gạo”. Nằm ở Đông Nam tỉnh
Giang Tô, thuộc vùng đất màu mỡ nhất châu thổ sông Dương
Tử (tây giáp Thái Hồ, đông sát Thượng Hải, nằm kề Chiết
Giang), Tô Châu từ xưa đã lừng danh là “thiên đường hạ
giới”.
Ngoài cảnh sắc tươi đẹp với những khu vườn cảnh được công
nhận là Di sản văn hoá thế giới, những di tích lịch sử từ
thời Xuân Thu cách đây 2500 năm, Tô Châu còn đặc biệt lôi
cuốn, hấp dẫn khách phương xa nhờ ngôi chùa Hàn Sơn (Hàn
Sơn Tự) nổi tiếng đã đi vào lịch sử văn hoá phương Đông
với bao giai thoại đẹp như mơ.
Đến Tô Châu mà không thăm Hàn Sơn Tự thì chẳng khác nào
tới Paris mà không vào bảo tàng Louvre hay leo tháp Eiffel
vậy. Thậm chí, trong đoàn chúng tôi có 2 cụ bà tuổi ngoài
80 còn coi mục đích “tối thượng” của chuyến “hành Trung
Hoa” này chỉ là để nghe tận tai tiếng “chuông chùa Hàn Sơn”
và nhìn tận mắt “bến Phong Kiều”.
Lần
trước, rời Tô Châu với niềm nuối tiếc chưa được sờ tận tay
quả chuông huyền thoại chùa Hàn Sơn, lần này tôi quyết sửa
lỗi. Từ ga xe lửa chúng tôi đáp ô tô thẳng tới Hàn Sơn Tự
nằm ngay bên dòng kênh Kinh - Hàng (con kênh đào cổ xưa và
dài nhất thế giới), rợp bóng cây ngô đồng.
Hàn
Sơn Tự là một trong 10 ngôi chùa danh tiếng nhất Trung Hoa.
Được xây dựng từ thế kỷ thứ 6, thời Nam Triều (nhà Lương),
nhưng đến đời Đường nó mới có tên là Hàn Sơn. Chẳng phải
có nghĩa là “núi lạnh” (như cách dịch sang tiếng Anh), mà
đơn giản là theo tên một vị sư nổi tiếng trụ trì ở đó.
Có
cả một câu chuyện cảm động liên quan tới cái tên này.
Chuyện rằng, tại một miền quê nhỏ có 2 chàng trai Hàn Sơn
và Thập Đắc thân thiết với nhau như hai anh em. Tới một
ngày cha mẹ hỏi vợ cho Hàn Sơn, thì cô dâu lại chính là
người yêu của Thập Đắc. Không muốn làm đau lòng bạn, Hàn
Sơn lẳng lặng từ hôn, bỏ quê ra đi.
Phiêu dạt đến Cô Tô, anh đã dừng chân tại ngôi chùa này.
Trong khi đó, nghĩ rằng vì mình mà Hàn Sơn phải tha hương,
Thập Đắc cũng bỏ quê đi tìm anh. Cuối cùng hai người gặp
nhau và cùng tu tại chùa này.
Nhưng chùa này được nổi danh khắp Trung Hoa và ở cả nước
ngoài chủ yếu là nhờ bài thơ “Phong Kiều dạ bạc” bất hủ
của Trương Kế từ hơn nghìn năm trước:
“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hoả đối
sầu miên/ Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự/ Dạ bán chung thanh
đáo khách thuyền”
Bài
thơ này cũng lan toả và trở nên rất quen thuộc ở Việt Nam
nhờ bản dịch tuyệt vời của thi nhân xứ Đoài Tản Đà:
“Trăng tà tiếng quạ kêu sương/ Lửa chài cây bến, sầu vương
giấc hồ/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô/ Nửa đêm nghe tiếng
chuông chùa Hàn Sơn”
Tiếng chuông chùa Hàn Sơn là một di sản văn hoá phi vật
thể của thành phố sông nước miền Giang Nam này. Chuông có
thể vang xa hàng chục dặm vì nó được đúc theo bí quyết 6
phần đồng, 1 phần thiếc.
Ban
đêm thanh vắng, khí ẩm từ sông hồ bốc lên càng làm cho
tiếng chuông ngân nga lảnh lót để lại những dư âm khó quên.
|

Gác chuông |
Quả chuông rung lên, tiếng vọng trầm sâu của nó hoà quyện
với giọng tụng kinh âm của các nhà sư gây nên hiệu ứng rất
lạ: một cảm giác thành kính thiêng liêng dâng tràn trong
mỗi người đến lễ chùa.
Lần
trước, đến Tô Châu, rặng ngân hạnh trong chùa Hàn Sơn đã
ngả vàng và rụng hết quả, lần này cây vẫn xanh lá và quả
bạc còn lúc lỉu trên cây hứa hẹn một mùa “hạt dẻ cười” bội
thu. Tôi níu cành ngắt một quả ngân hạnh “làm tin” với hy
vọng sẽ còn có dịp quay lại chốn này lần nữa. Đồng xu tôi
tung trúng lư hương trước sân chùa lần trước đã ứng nghiệm
khi đưa tôi quay lại nơi này. Quả ngân hạnh lần này chắc
sẽ còn cho tôi trở lại ngắm Hàn Sơn Tự giữa hoa tuyết mùa
đông.
·
|
|