|
TiẾng
Thét GiỮa Hư Không trong "Ngôn Hoài" cỦa ThiỀn sư Không LỘ
Thích Nguyên Hùng
Nếu một
bài thơ hay được đánh giá cao bởi nó là kết tinh của nghệ
thuật và đạt được đỉnh cao của tư tưởng đại chúng, thì "Ngôn
Hoài" của Thiền sư Không Lộ, là bài thơ tiêu biểu nhất,
trong nền văn học đời Lý. Bên cạnh đó, tính đa nghĩa, độ hàm
súc trong "Ngôn Hoài" có thể mở ra cho người đọc một cách
hiểu nhiều tầng. Đó cũng là dấu hiệu của một bài thơ hay,
điều mà không phải bất kỳ một tác phẩm văn chương đích thực
nào cũng vươn tới được. Chưa kể đến lối diễn đạt mới mẻ, táo
bạo, hiếm có trong văn học thời cổ trung đại vốn nhuốm màu
cổ điển, ước lệ, khuôn sáo.
Ngoài ra,
có thể xem "Ngôn Hoài" như một bản tuyên ngôn độc lập. Khẩu
khí trong "Ngôn Hoài" không những không thua kém gì "Nam
quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt, mà còn mạnh mẻ hơn, tự tin
hơn và tự do hơn nhiều.
Trạch đắc
long xà địa khả cư
Dã tình
chung nhật lạc vô dư
Hữu thời
trực thướng cô phong đỉnh
Trường
khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Với lịch
sử tồn tại của thi phẩm "Ngôn Hoài", nhiều nhà phê bình,
nhận định văn học đã cho rằng "Ngôn Hoài" đã vượt ra ngoài
giới hạn của thơ, đã "siêu thơ", hay "thơ trên thơ", bởi vì
nó diễn tả một thực tại "siêu thực".
Thật ra, "Ngôn
Hoài" không phải là thơ trên thơ, không phải siêu thơ, lại
không phải diễn tả một thực tại siêu thực nào cả. “Ngôn Hoài”
đích thực là thơ, là tinh anh linh hồn, được vắt nặn, nung
nấu từ cuộc sống con người, rất con người của dân tộc Việt
Nam. Sở dĩ “Ngôn Hoài” tồn tại mãi với thời gian như thế là
bởi nó đã đạt được cái đỉnh cao của sự diễn tả thực tại.
Vâng, chỉ khi nào đạt được thực tại như thực mới có thể nói
đến siêu thực, cũng như muốn siêu thơ trước hết nó phải là
thơ đàng hoàng đã!
Trước hết,
Ngôn Hoài là đỉnh cao của tư tưởng quần chúng. Tư tưởng ấy
là sự kết tinh của bao xương máu và hồn thiêng của dân tộc:
Tư tưởng tự chủ, ý thức không (hay vô ngã), ý thức như nhiên.
Hẳn khi đọc những dòng này bạn cho rằng đó không phải là tư
tưởng của dân tộc Việt Nam, đó là tư tưởng của Thiền Phật
giáo. Phải đấy! Nhưng bạn ạ, "nền tảng tư tưởng và hành động
của Việt Nam là sự dung hóa cực cao giữa tính dân tộc và
Thiền Phật giáo" (Võ Văn Ái). Chúng tôi không muốn lý giải
điều này, tự sinh thức và hành động của dân tộc Việt Nam qua
bao thế kỷ đã chứng minh được điều đó (mà các bạn có thể
thấy rõ qua hai triều đại cực thịnh của nước nhà, điều đại
Lý – Trần).
Chúng tôi
chỉ muốn nói “Ngôn Hoài” bật lên từ trái tim, từ xương máu,
từ khốn cùng của một ngàn năm ngậm đắng nuốt cay dưới ách đô
hộ của phong kiến phương Bắc, chợt vùng mình trổi dậy, bật
khởi và hào hùng giành quyền độc lập tự chủ qua chiến thắng
Bạch Đằng 1010. Chiến thắng ấy, dân tộc Việt Nam đã mở ra
một trang sử mới, trang sử của kỷ nguyên độc lập và tự chủ
thật sự. Chúng ta không có cách gì để biết được đích xác năm
ra đời của bài thơ, nhưng chắc chắn là vào khoảng thời gian
vua Lý Thái Tổ lên ngôi và dời đô từ Hoa Lư về thành Thăng
Long ("Trạch đắc long xà địa khả cư" không phải đã chứng
minh điều đó sao?); hay ít ra sau đó cũng không bao lâu, như
là một lời khẳng định sự việc đống đô ở Thăng Long là hợp lý,
nếu như không phải là một sự trù lượng, sắp đặt trước về
việc khuyến khích dời thủ đô về Thăng Long. Dựa vào tiết tâu
và mạch văn, thêm vào đó là thuật phong thuỷ, thì “long xà”
chính là một mảnh đất lý tưởng, nhân dân có thể an cư lạc
nghiệp phồn thịnh. Ở đây, không phải Không Lộ đã tiên đoán,
trù lượng một thủ đô của nước nhà hay sao? (ít ra là khẳng
định).
Quả vậy,
sau khi chiến thắng quân Nam Hán, Lý Thái Tổ đã dời đô từ
Hoa Lư về thành Đại La, vì "thành Đại La là nơi trung tâm
trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng vị trí các hướng
Nam Bắc Đông Tây, rất tiện cho sự nhìn sông dựa núi, địa thế
vừa rộng vừa bằng phẳng, đất đai vừa cao vừa thoáng, dân cư
khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất phong
phú, tốt tươi. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương
đất nước, xứng đáng là nơi kinh đô của bậc nhất của đế vương
muôn đời. (Chiếu dời đô).
Hơn nữa,
“long xà” không phải là mảnh đất hiểm trở như nhiều người
vẫn quan niệm. Theo Truyền Đăng Lục thì “long xà” là biểu
tượng cho thánh nhân và phàm tục, tức chỉ cho thế giới này
là nơi thánh phàm đồng cư vậy. Như thế, Không Lộ Thiền sư đã
không những chia sẻ với vua dân về tương lai một đất nước
được an bình thạnh trị mà còn thể hiện phong thái của một
bậc xuất thế vào đời hành đạo một cách thong dong tự tại.
Thiền sư không vì lợi ích cá nhân, không vì tự lợi, tìm chốn
thâm sơn cùng cốc để an vui tự độ mà chọn ngay nơi đô thành
để hành đạo. Nơi đô thành mà cuộc sống của sư rất giản dị,
thanh bạch, rất mộc mạc, chân quê: Dã tình chung nhật lạc vô
dư.
Vả chăng,
nếu như chúng ta đều công nhận việc dời đô về Thăng Long của
Lý Thái Tổ là có ý kiến của Thiền sư Vạn Hạnh, thì việc xem
“Ngôn Hoài” của Thiền sư Không Lộ có giá trị như một bản
tuyên ngôn độc lập cũng không có gì là lạ (dù rằng ta không
mạnh dạn cho lắm vì yếu tố thời gian ra đời của bài thơ chưa
xác định). Bây giờ là đỉnh cao nghệ thuật của bài thơ. Mở
đầu bằng một câu thơ rất dễ thương: Dã tình chung nhật lạc
vô dư. “Dã tình” là tình quê. Câu thơ mới thi vị làm sao! Nó
thi vị bởi lời thơ chân chất, dân dã. Câu thơ toát lên một
niềm vui mộc mạc, chân tình, hồn nhiên, đậm đà đầy tình
người. Không phải ai trong chúng ta cũng được nuôi lớn từ
thứ tình quê đó sao! Một thứ tình dễ làm rung động lòng
người, dễ gợi nhớ gợi thương. "Tình quê dờn dợn vời non nước,
không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà." (Huy Cận). Không Lộ ở
đây mới bình dị, lặng lẽ làm sao. Nhưng trong con người vốn
thâm trầm đó đôi khi lại toát ra một năng lượng tâm linh
thật mãnh liệt, một sức mạnh có thể làm rung chuyển trời đất.
Có lần
Thiền sư đã cao hứng leo lên tới đỉnh núi trơ trọi và bất
chợt thét dài một tiếng làm nát cả hư không và âm hưởng hãy
còn vang vọng đến tận bây giờ, xuyên qua mười thế kỷ: “Hữu
thời trực thướng cô phong đỉnh. Trường khiếu nhất thanh hàn
thái hư.” Không Lộ bây giờ mới vĩ đại biết bao. Chao ôi! Hơn
mười thế kỷ trôi qua câu thơ đọc lại vẫn thấy lạnh cả người.
Tiếng thét giữa hư vô, trống vắng, giữa núi đồi hoang vu đã
làm cho hư không lạnh đi, không gian thêm cô tịch. Có thế
thôi sao? Ồ không, đó còn là tiếng reo vui giải thoát, giải
thoát khỏi cái xác thân bé nhỏ, cái tâm hồn vị kỷ mà thể
nhập với thiên nhiên, với vũ trụ bao la, vô cùng. Chúng ta
hãy thử hình dung, trên đỉnh núi cao ngất, có vi vu gió, có
bồng bềnh mây, có xanh xanh những cỏ cây hoa lá và thoang
thoảng những hương rừng ngây ngất, trên vách đá cheo leo đó,
có bóng dáng của một Thiền sư đang chống gậy đứng nhìn bao
la, đôi mắt sáng ngời phóng cái nhìn nhất thể thâu tóm ba
ngàn thế giới, rồi mĩm cười, bất chợt, thét lên một tiếng
làm lạnh cả bầu trời và núi đồi: “Trường khiếu nhất thanh
hàn thái hư.” Quả thật, với câu thơ này đã hiện thân một
Không Lộ Thiền sư với bản lĩnh phi thường, đã chuyển được
cảnh, đã làm không những cái có.
Chúng ta
sẽ dễ dàng thấy những tùng, trúc, mai, những sương, tuyết,
gió, trăng và bàng bạc những tâm tình trong rừng thi ca vốn
mang tính ước lệ, cổ điển của nền văn học cổ trung đại nhưng
khó có thể tìm đâu ra một tiếng thét lạnh cả thái hư như
“Ngôn Hoài.” Đây là tiếng rống sư tử đầu tiên cất lên trong
rừng thi ca nhân loại. Cũng như một chiếc thuyền và giấc ngủ
say nằm chơ vơ giữa dòng sông mặc cho tuyết rơi và thời gian
trôi, Không Lộ đã đưa con thuyền và giấc ngủ ấy (Ngư Nhàn)
lần đâu tiên cập bến thi ca mà sau này Nguyễn Khuyến, Nguyễn
Trãi… cũng lần lượt bơi theo. Khép lại bài thơ chúng ta vẫn
còn nghe cái khí thiêng lành lạnh của đất trời, của hồn
thiêng đất nước thấm vào làn da thớ thịt, thấm nhuần trong
xương máu, con tim những tinh anh của giống nòi. Vẫn còn
vang vọng đâu đây tiếng thét kinh hồn làm lạnh cả bầu trời
hay là tiếng kêu trầm hùng của dân tộc Đại Việt! Thật là,
"Ta hồ, văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ."
xem tiep>>
----o0o---
|