|
Vắng
Một Mùa Xuân
P.Thụy Khuê Mùa
Xuân, mùa của sức sống giao hòa, mùa của hạnh phúc đơm
hương, mùa của tình thương nẩy mầm trong vạn vật.
Nói đến Xuân, ai nấy đều lộ vẻ hân hoan., hớn hở,
vì Xuân mang đến cho vạn loại hàm linh hơi ấm và nhựa sống
của mạch đời tuôn chảy. Tuy
nhiên, với tôi, mùa Xuân lại là một kỷ niệm buồn, và
Xuân đã không còn rộn rã trong tôi được nữa. Câu
chuyện của tôi bắt đầu vào tuổi xuân 18 và kết thúc thật
buồn vào mùa xuân 19 của tôi. Tròn đúng chỉ một năm và ân hận cả một
đời! Viết
lại những dòng tâm sự chôn kín tự bấy lâu nay không
phải để mưu cầu sự thương hại của bất cứ một ai, cũng
chẳng phải để ba hoa khóac lác tự ngã, viết chỉ vì muốn
viết, viết để tự nhắc nhở mọi người hãy cẩn trọng gìn
giữ "hạnh phúc trong tầm tay," viết để sám hối với
anh linh người đã mất, viết để khóc cho chính mình đã đánh
mất mùa xuân cuộc đời. Năm
ấy, tôi chỉ là một con bé 16 tuổi.
Với độ tuổi căng tràn nhựa sống ấy, lẽ dĩ nhiên
như bao cô gái tầm thường khác, tôi cũng mộng mơ cho mình
một người tình lý tưởng, một cuộc sống hạnh phúc mầu
hồng. Nhưng (lại chữ
"nhưng" quái ác) người đàn ông đầu tiên bước vào
đời tôi đó không phải là một thanh niên đồng trang lứa
mà lại là một người trung niên tuổi đã gần 40. Phải,
Phong là giáo sư dạy Triết tại trường Trung Học Nữ Vương
Hòa Bình, Sàigòn. Tôi là
học trò lớp 10 của Phong, và định mệnh trớ trêu (bây giờ,
theo đạo Phật, tôi biết đó là nghiệp báo của tôi và
Phong) đã xui khiến Phong chọn tôi. Dù
đã lớn tuổi, Phong vẫn còn độc thân và tất nhiên với
cái tuổi trung niên đó, Phong rất khó tánh và nghiêm nghị
vô cùng, nhất là khi đứng trên bục giảng trước các cô
bé xuân tươi nhí nhảnh. Trong
số các nữ học sinh cùng lớp đó, tôi là con bé xấu nhứt,
thô kệch dềnh dàng nhứt, nhưng lại "phá ngầm" nhứt.
Nhận biết trong Tứ Ðức của người phụ nữ Á Ðông,
mình thiếu hẳn "Dung" và "Ngôn," tôi tự chọn cho tôi
"Công" và "Hạnh" - nhưng theo tôi, Công và Hạnh đây
không phải cái nết đẹp đâu nhé, mà là sử dụng mưu trí
xúi dại người khác chọc phá, gài bẫy, quấy nhiễu mọi
người - và lẽ dĩ nhiên, ai lại có thể nghi ngờ một cô
gái tầm thường, cục mịch như tôi, suốt buổi học chỉ biết
ngơ ngác chăm chú nhìn giảng sư với đôi mắt "ngây thơ
vô số tội ngầm." Trường
tôi học là trường Pháp đạo Thiên Chúa Giáo, tọa lạc
tại đường Tú Xương, Sàigòn. Tên Việt Nam của nó là Nữ Vương Hòa Bình (Régina
Pacis). Tên trường là Nữ
Vương, tất nhiên trường tòan là nữ sinhcả.
Do đó, chúng tôi tha hồ quậy phá đủ kiểu - ngăn
bàn học của chúng tôi ngòai số sách vở cần thiết phải
có ra, còn có đủ các thượng phẩm như "me ngào, xòai
chua, ổi dòn, mực nướng, v.v. và v.v.
Khi bị thầy cô giáo nào bắt gặp, chúng tôi cứ việc
thu hết các cống phẩm đó vào váy lót trong là đố ai dám
làm gì được! Ðó là
một kế sách chu tòan thu dọn chiến trường khi quân địch đến
của tôi đấy, các bạn ạ! Ngòai
Phong và một vài thầy cô khác ra, còn có một giáo sư Tóan
tên là Tô văn Tuấn, tuổi độ 25.
Ông này mới ra trường và được biệt phái về dạy
lớp chúng tôi, cái lớp được mệnh danh là "hắc ám"
nhất trường. Vì còn quá
trẻ, thầy Tuấn luôn tỏ vẻ nghiêm nghị quá đáng và không
bao giờ dám liếc nhìn một nữ sinh nào cả.
Vì thế, thầy Tuấn đã là nạn nhân số một của tôi,
và không đầy nửa niên khóa, thầy Tuấn phải viết đơn
xin chuyển trường vì sợ quá! Cứ
mỗi lần, thầy Tuấn đi ngang qua lớp chúng tôi, là tôi bắc
nhịp cho các bạn hát ông ổng lên "Thầy ơi, thầy muốn ai,
em làm mai," hay "Nhắm mắt cho em tìm thấy Tuấn đâu đây"
hoặc tôi chọn một bạn gái xinh xắn duyên dáng nhất lớp
lên làm duyên hỏi thầy bài tóan này, đáp số kia, miệng
hỏi nhưng mắt phải chớp chớp, ngó sững vào thầy mới
được, hoặc vài ngày là thầy Tuấn lại la hỏang lên "Ủa,
cây bút máy của tôi đâu rồi?" "Em nào dấu sách của
tôi, phải đưa ra ngay!" hoặc đau khổ hơn nữa là bình xăng
xe Honda của thầy bị bỏ đường, bỏ cát, không chạy được,
thầy Tuấn bắt buộc phải đi cùng xe nhà trường với chúng
tôi để chịu trận, v.v. Vì
biết được thành tích "ghê gớm quái chiêu" của xóm
nhà lá chúng tôi, nên khi Phong về đảm nhiệm môn Triết Ðông
và Tây, Phong đã được các ma soeur dặn dò kỹ lưỡng phải
đối phó các vụ oanh tạc như thế nào.
Nhưng may mắn cho ông già đó, là chúng tôi không có
"gout" chọc phá các bố già nên vào đầu niên khóa lớp
10, đến giờ của thầy Phong hay thầy Huân, chúng tôi rất ư
là chăm chỉ học hành, ngoan ngõan cầu kinh mỗi buổi sáng
hay mỗi tuần thứ Bảy, Chủ Nhựt. Vì thiếu đối tượng chọc phá, (thầy Tuấn lúc
này đã cao bay xa chạy rồi) buồn quá, tôi rủ các bạn vào
nhà nguyện của trường xưng tội đều đều để được ăn
bánh mình Thánh Chúa và uống rượu vang đỏ tượng trưng
cho máu Chúa. Không có tội,
tôi cũng ráng nặn ra cho có tội, kể lể dông dài, sụt sùi
dấm dớ với cha Phụng để có cớ làm dáng em hiền như
ma soeur" và cha Phụng đã lầm lẫn chọn lớp tôi làm lớp
giảng huấn giáo lý (vì các con chiên ngoan đạo quá xá!). Thế là Cha Phụng lại biến thành một nạn nhân
tự nguyện của chúng tôi. Mỗi
lần Cha Phụng vào lớp, chúng tôi đứng dậy, ngoan ngõan vòng
tay chào Cha "Bonjour, Mon Père" khiến Cha gật gù đắc ý
"Bon, bon, commencons à prier" . . . nhưng khi tiễn Cha ra khỏi lớp
sau giờ giảng đạo, tôi lại la tóang lên cho cả lớp đồng
thanh "Merci beaucoup. Ma Mère!" Cha Phụng cứ sững người, tưởng
nghe lầm, nhưng làm sao biết được nữ sinh nào phát ngôn
hỏang như vậy nên Cha chỉ đành trừng mắt dọa nạt và ấm
ức đi ra. Một ngày, hai
ngày, một lần, hai lần, rồi cũng phải lòi ra thủ phạm, bọn
chúng tôi bị ma soeur Mélanie tóm được và cả đám anh dũng
hy sinh ra cột cờ đọc kinh sám hối tội lỗi của mình thay
cho cả lớp và phải dọn dẹp vệ sinh cả tháng.
Chưa hết, vì tôi là chủ chốt nên tôi còn phải mời
cha mẹ lên ký vào biên bản nhận tội và hứa phải sửa
đổi. Tôi đành phải mướn
chú tài xế và bà bếp nhà ông bác tôi lên trường đau
khổ lãnh con dại về răn dạy lại. Sau
màn bị trừng phạt nặng nề đó, tôi thu mình lại, cố gắng
học hành để làm đẹp lòng Cha và các Ma Soeur, nhưng các
Ma Soeur không thể phạt tôi lâu được vì tôi là cây bút
bích báo của trường. Tôi
không giỏi tóan, nếu không muốn nói là dốt đặc cán mai,
nhưng về Triết và Văn, tôi cũng thuộc lọai có tầm cỡ,
vì thế, mùa hè 72, mùa Hè đỏ lửa của cuộc nội chiến
Việt Nam, các ma soeur bắt buộc chúng tôi phải thêu khăn,
viết báo ủy lạo các anh chiến sĩ ngòai sa trừơng.
Thế là nỗi buồn hoa phượng, nỗi buồn sa mạc, hay gác
trọ đêm đông, gác vắng về khuya gì gì . . . được tôi
tha hồ tung hòanh phóng đại lên tưởng tượng lung tung dưới
nhiều bút hiệu khác nhau và tất cả bài viết đều nộp lên
cho Phong kiểm duyệt. Từ
đó, Phong đã để ý đến tôi và mỗi lần Phong giảng về
Kiều hay Triết, Phong thường hay gọi tôi lên trả bài. Tức
mình vì phải "gạo bài" quá đáng, tôi cay cú tìm cách
trả đủa lại Phong. Biết
Phong cận thị nặng, bỏ mắt kính ra chỉ thấy mờ mờ, tôi rắp
tâm chờ dịp Phong vào rửa mặt là tôi chạy bay vào dấu tịt
luôn cặp kính của Phong. Thế
là chúng tôi chầu chực ở ngòai để nghe Phong va đầu vào
cửa hay đá trúng sọt rác. Cười
phá lên khóai chí, tôi chờ khi Phong mò mẫm ra được đến
ngoài, liền đóng vai quân tử Tàu, giả bộ vô tình đi
ngang qua và nhu mì hiền thục hốt hỏang la lên: -"Chết
chửa, Thầy làm sao vậy?" -"Tôi
không biết rớt cặp kính ở đâu hay là ai lấy mất rồi?" -"Ðể
em vào kiếm cho Thầy nhé!" -"Thôi,
thôi, phòng vệ sinh nam (của các giáo sư nam)mà, em vào không
tiện đâu." Phong vội vàng
trả lời. -"Ừ
nhỉ, thôi để em đưa Thầy đến phòng Giám Thị rồi nhờ Ma
Soeur tìm dùm cho Thầy nhé." -"Phiền
em vậy." Thế là tôi nắm tay Phong
dẫn đi hết hành lang này đến cầu thang khác như một ông gìa
mù đau khổ. Cố gắng nín
cười, tôi lôi Phong đi qua lớp học của tôi để khoe thành
tích, "Này này, các đằng ấy có thấy tớ khá không, ông
già quạu quọ này giờ phải dựa vào tớ đấy nhé!" Phong
vẫn thản nhiên lẳng lặng đi theo tôi, không nói gì cả, dù
nghe có tiếng cười khúc khích đè nén của lũ quỉ học trò
sau lưng hay tiếng đằng hắng cố giữ cho đàng hòang của tôi.
Ðến phòng Ma Soeur Giám Thị, tôi còn tử tế dìu Phong
ngồi xuống ghế đàng hòang và vô tư trình bày cớ sự trước
cặp mắt mở to ngạc nhiên của Ma Soeur Anne: "Chà, con bé này
sao hôm nay dễ thương ngoan ngõan thế!"
Tuy nhiên tôi chư akịp quay lưng ra khỏi phòng thì thầy
Phong đã vội lên tiếng: -"Này
Ma Soeur, em Khuê đây rất tốt, vậy nếu chư akiếm được cặp
kính cho tôi thì Ma Soeur cho em ấy đưa tôi về nhà vậy." Chết rồi,
tôi há hốc miệng ra, cứng cả lưỡi vì không ngờ ông gìa
này độc chiêu quá, tôi chư akịp phản ứng thì Ma Soeur Anne
đã nhanh nhảu: -"Vâng,
vâng, Giáo Sư đừng lo, Thụy Khuê sẽ đưa Giáo Sư về nhà,
Giáo Sư chờ tôi giây lát để tôi nhờ các chú lao công
tìm kính cho Giáo Sư ngay." -"Cám
ơn Ma Soeur nhiều." Thế là
con bé khốn khổ đáng thương đành phải nghe lời bất đắc
dĩ. Chờ Ma Soeur ra ngòai,
tôi phụng phịu nói: -"Thầy
à, em đâu có biết nhà Thầy ở đâu, vả lại hôm nay em
đi xe nhà trường mà . . ." -"Không
sao, tôi sẽ chỉ cho em và em chở tôi về.
Còn thủ phạm dấu kính của tôi thì cứ để đó đã!" -"Nhưng
mà . . . em, em . . ." Phong thản
nhiên quay mặt đi chỗ khác, dấu kín nụ cười và hỏi:
"Tôi hút thuốc, được không?" -"Dạ,
dạ, Thầy cứ tự nhiên ạ." Miệng
nói nhưng tâm trí tôi đảo lộn, bây giờ phải tính "tam
thập lục kế, vi tẩu thượng sách," chứ nếu không thua kế
Bố già này mất. Vừa
nghĩ là chân tôi thụt lùi nhẹ nhẹ ra cửa, nhưng Phong đã
gằn giọng: -"Ðứng
đó, Thụy Khuê tính đi đâu?" -"Dạ
không, em kiếm nước uống ạ." Và rồi,
tôi chỉ còn căm hờn đau khổ lại dẫn tay ông già đưa ra
bãi đậu xe của trường trứơc những cặp mặt dò hỏi của
đám bạn tôi. Phong thản
nhiên leo lên xe ngồi sau lưng tôi và chỉ đường về nhà
Phong. Tôi tức mình phóng
ga chạy thật nhanh rồi thắng thật gấp để hù ông già này.
Nhưng đúng là lão quái kiệt, Phong chỉ từ tốn nói:
"Là con gái, dễ thương nhất là sự nói năng nhỏ nhẹ,
đi đứng khoan thai, cử chỉ tao nhã.
Ðó là cái nết rất hiếm thấy của người phụ nữ
Á Ðông thời nay." Quê quá,
tôi đành phải dịu dàng trở lại.
Về đến nhà, Phong mời tôi vào dùng nước và đó
là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với nhau ngoài lớp
học và có vẻ thỏai mái hơn.
Vì Phong là thầy giáo, tôi vẫn tự nhiên không e thẹn
gì cả và thẳng thắn trình bày quan điểm của mình về cuộc
sống, về xã hội hay về hôn nhân hạnh phúc . . . và lần
này Phong là người đưa tôi về nhà bằng xe hơi riêng sau
khi tôi trả cặp mắt kính lại cho Phong. Phong sống
một mình, rất sung túc trong ngôi biệt thự khang trang đường
Hai Bà Trưng. Thừa hưởng
gia tài của cha mẹ để lại, Phong ra sống riêng sau khi người
em gái (dược sĩ) lập gia đình.
Tôi chỉ biết đại khái về Phong như vậy vì thực sự
tôi đâu có quan tâm gì đến Phong.
Ông ta là thầy giáo, tôi là học trò.
Chỉ có thế thôi, nhưng tôi không ngờ lần nói chuyện
đó chính là lần kết hợp chúng tôi vào vòng ngang trái
uẩn khúc của một trò chơi oan nghiệt. Tôi sống
với gia đình người bác ruột sau khi Mẹ tôi mất.
Cha tôi đã bỏ mẹ con tôi để theo một người đàn
bà khác lúc tôi vừa mới được bốn tuổi.
Tôi sống với Mẹ và chị.
Mẹ tôi, vì uất hận người chồng bạc nghĩa, đã nhuốm
bịnh ung thư và ra đi năm tôi lên 14 tuổi.
Chị em tôi về sống với người bác ruột và hơn một
năm sau, chị tôi đi ngọai quốc.
Tôi còn lại một mình. Phong
nghe tâm sự tôi rất chăm chú và ái ngại khi nhìn đôi mắt
tôi đỏ hoe khi nhắc lại chuyện buồn gia đình.
Và thế là, cứ độ hai, ba tuần, Phong lại tìm cớ này
cớ nọ để đến nhà thăm tôi. Một ngày
kia, hai bác gọi tôi vào phòng nói chuyện và tôi chưng hửng
khi biết Phong muốn cưới tôi làm vợ.
Hai bác đã khuyên tôi hết lời và đưa ra những kinh
nghiệm sống như "Chồng
già vợ trẻ là tiên, vợ gìa chồng trẻ là duyên trên
đời," hay "Hãy lấy người yêu mình" v.v. và v.v. nhưng
tôi vẫn không ra khỏi cơn bàng hòang ngạc nhiên của mình.
Tôi hoàn tòan xem Phong như một người cha khả kính hay
nói cho cùng là một người anh cả đáng mến mà thôi.
Với khoảng cách chênh lệch tuổi tác, tôi không bao gờ
nghĩ là sẽ có tình cảm xảy ra giữa chúng tôi.
Nhưng vì rất nể sợ hai bác, tôi không dám đưa ra ý
kiến của mình mà chỉ viện cớ là tôi còn nhỏ quá, chưa
muốn lập gia đình vội. Bác trai nghiêm nghị nói như ra lệnh: "Phong sẽ
chờ con đến năm con 18 tuổi và thi tốt nghiệp xong. Bác nghĩ không một nơi nào cho con nương dựa
chắc chắn bằng Phong cả. Giàu
có, nghề nghiệp vững chãi, tư cách mô phạm đạo đức,
tánh tình trung hậu, Phong sẽ là người hôn phối xứng đáng
cho con!" Từ ngày
đó, tôi không còn tự nhiên họat bát được nữa, nhất
là vào những giờ Phong lên lớp giảng.
Nhận biết được điều đó, Phong rất ân cần chăm sóc
tôi mỗi khi có dịp. Thực
sự tự ái của người con gái cũng được vuốt ve nhưng
tôi vẫn chẳng thấy có một sự rung động nào với Phong cả,
mặc dù tình cảm chân thật của Phong khiến tôi cảm động
thật nhiều. Tôi không thể
nói thẳng cảm nghĩ của mình cho Phong hiểu được, có cái gì
đó khiến tôi nghẹn lời mỗi khi chúng tôi có dịp đi dạo
phố hay ăn uống với nhau. Tôi
thực sự không muốn làm tổn thương tình cảm của Phong nhưng
ý nghĩ sẽ kết hợp với Phong một đời vẫn hoàn tòan xa
lạ trong tôi. Và dòng thời
gian trôi qua chầm chậm vô tình trong sự đối kháng dằng co
mãnh liệt của tâm thức tôi. Rồi cái
gì đến sẽ đến! Tôi bắt
đầu bước vào tuổi 18. Một
lần nữa, trời già cay nghiệt lại trêu tôi.
Thời gian qua, tình cảm Phong dành cho tôi càng ngày càng
sâu thẳm lạ kỳ như oan nghiệp, dù tôi có nói xa nói gần
thế nào chăng nữa, Phong vẫn bình thản lập luận khiến tôi
đuối lý. Cái mà Phong tìm
thấy ở tôi là bản tánh ngông nghênh, bộc trực, vui tươi
pha lẫn tự nhiên ngây thơ của tôi.
Chính vì tôi xấu nên tôi không bao giờ có ý làm dáng,
chính vì tôi cục mịch nên tôi tự nhiên ăn nói với mọi
người, tôi không tô son trét phấn lên cuộc đời tôi, tôi
không sơn quét một lớp vôi nào, và đó chính là cái mà
Phong tìm kiếm nơi một người phụ nữ.
Tôi không ngờ và dở khóc dở cười trước chân
tình của Phong. Nhưng đã
nói, "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên," Lâm xuất
hiện trong đời tôi như một nhát chém định mệnh. Mùa Xuân
74, tôi tốt nghiệp Trung học và Phong sửa sọan lễ dạm ngõ
và sẽ chờ tôi tròn đúng 18 tuổi.
Tôi vô cùng lo sợ và đau khổ vì hình bóng Lâm đã
chiếm ngự trái tim tôi. Tôi
đã hết sức trình bày cho hai bác tôi hiểu nhưng vô ích,
hai bác tôi không chấp nhận Lâm vì bấy giờ Lâm cũng chỉ
là học sinh như tôi, vả lại Lâm còn quá trẻ, chưa có
nghề nghiệp gì, không bảo đảm tương lai được. Tôi
cứ đứng dằng co giữa ngã ba đường oan nghiệp.
Dạo phố hay đi nghe nhạc với Lâm thì tôi cười nói
thỏai mái vui vẻ vì cùng tuổi trẻ như nhau nhưng Lâm thiếu
hẳn sự tế nhị, cẩn trọng và thường hay va chạm tự ái
của tôi khi chê tôi kém sắc hơn người này hoặc không
hay bằng người nọ. Trái
lại với Phong, tôi cảm thấy mình được che chở dắt dìu
trong tình thương nồng ấm, tôi có thể thả hồn theo vũ điệu
của gió, của lá hoa, tôi hòa nhịp thở của tôi vào cùng
nhịp sống của vũ trụ, của mây trời, của trăng sao, và tôi
sung sướng khi Phong khen ngợi sự sâu sắc thâm trầm nhận
xét của tôi hay Phong ý tứ sửa lại một câu văn trong bài
viết báo của tôi. Với
Phong, tôi là một con người của chiều sâu tâm linh; đi bên
Lâm, tôi là một trái banh độn theo cảm hứng của anh ta.
Bộ ba chúng tôi lẩn quẩn vòng vo như vậy và tôi cũng
dấu không dám cho Phong biết sự có mặt của Lâm trong tôi. Rồi ngày
định hôn bắt đầu sửa sọan.
Tôi cuống cuồng lo sợ, không biết định liệu thế nào,
và theo lời thúc giục của Lâm, chúng tôi hẹn Phong ra một
tiệm giải khát nói chuyện. Sau màn
giới thiệu vụng về của tôi, Phong đã hiểu và suốt buổi,
Phong đã lặng im không nói một tiếng nào - nhưng tôi đã
hốt hoảng thực sự khi Lâm bật lên một câu nói hết sức
tàn nhẫn: "Thầy đã già rồi, không tương xứng với Thụy
Khuê và tình cảm Khuê dành cho Thầy chỉ là tình cảm cha con
hay đúng hơn là sự thương hại." Tôi bụm
miệng Lâm không kịp và ngồi chết trân tại chỗ.
Gương mặt Phong lúc đó, tái ngắt lại, gân x anh hai bên
thái dương nổi lên, tay Phong run run châm điếu thuốc.
Tôi chỉ thấy một sự ân hận vô bờ tràn ngập tâm
hồn tôi và tôi oán ghét Lâm đã qúa tàn nhẫn, thiếu tế
nhị. Nhưng tôi không cử
động được, hình như sự việc quá đột ngột làm tôi tê
dại hẳn đi. Vài phút nặng
nề trôi qua, Phong đứng dậy, nói một câu mà suốt đời
tôi không bao giờ quên được: -"Tôi
cám ơn những gì Lâm nói ngày hôm nay và tôi cũng thành
thực xin lỗi đã quấy rầy Thụy Khuê suốt thời gian qua. Ðúng là tôi đã lãng quên không nhìn rõ lại
mình." Và
Phong đã ra đi, đi đâu, không một lời từ giã. Tôi cũng không nhận được một tin tức gì của
Phong và tình tôi với Lâm cũng đã tan vỡ từ dạo ấy. Cho đến một buổi sáng mùa Xuân, năm tôi 19
tuổi, một hung tin của Phong từ một ngôi chùa hẻo lánh Ban
Mê Thuột đã xô xập tôi xuống tận hố thẳm lòng mình.
Phong đang hấp hối và dù Phong không hề muốn, Sư Cụ
Trụ Trì đã gởi điện tín về nhà hai bác tôi, mong tôi sẽ
đến gặp Phong lần cuối. Dò tìm
đến được ngôi chùa nhỏ bé hoang liêu cô tịch, nằm giữa
vùng núi trắng phủ mù sương, tôi đã ngã quị xuống khi nhìn
thấy Phong giờ đây chỉ còn là một cái xác gầy guộc thoi
thóp thở. Phong nhìn tôi
và dòng nước mắt ứa chảy trên đôi gò má nhô cao.
Ngày xưa, ánh mắt Phong rất buồn câm lặng, bây giờ,
ánh mắt đó càng buồn hơn, càng sâu thẳm hơn, nó như thống
thiết van lơn, như thầm trách, như chấp nhận và tha thứ. Tôi đau
đớn ôm Phong vào lòng, lần đầu tiên chúng tôi xúc chạm
nhau thật thân mật như vậy, và dài dòng tâm sự với
Phong, đã nhắc lại cho Phong nghe những tháng ngày chúng tôi
vui cười nói chuyện bên nhau . . . Thỉnh thoảng trên môi
Phong điểm một nụ cười xa vắng.
Và cuối cùng tôi cũng đã nói ra được điều tôi
muốn nói là "tôi cần Phong trên cuộc đời này."
Nhưng sự hối hận của tôi đã qúa muộn màng, Phong
đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi.
Nước mắt của anh vẫn còn đọng dấu nhưng gương mặt
anh đã thanh thản nhẹ nhàng. Ôm xác
Phong vào lòng, tôi cảm thấy nỗi đau của mình tê dại hẳn
đi. Tôi đã gián tiếp
giết chết người một đời yêu thương tôi và chung thủy. Cúi xuống hôn đôi môi giá lạnh của anh, tôi
cảm nhận linh hồn anh đang đứng bên tôi và sẵn sàng che
chở cho tôi như ngày nào anh còn sống.
Tôi giận anh vô cùng, "Tại sao anh lại ngu xuẩn thương
tôi, một kẻ ích kỷ mê muội?
Tại sao lại hủy diệt đời anh vì tôi?"
Không, tôi biết anh không muốn nhưng lòng tự trọng, tự
ái và tình yêu anh dành cho tôi đã tàn phá dần dần tâm
hồn anh. Phong là một con
người rất tự trọng nên câu sỉ nhục của Lâm và sự câm
lặng như công nhận đó của tôi ngày xưa ấy đã dày vò
Phong trong bi thống. Anh có
thể xa tôi nhưng không bao giờ chấp nhận sự thương hại. Theo
ước muốn cuối cùng của Phong, tôi để anh nằm thật yên tĩnh
bên ngọn đồi sau lưng chùa. Nơi
đó, anh có thể nghe tiếng gió lộng rừng thông, anh có thể
ngắm trăng sao vằng vặc trên thinh không, anh có thể nhìn mặt
trời đỏ rực nhô lên sau đỉnh núi, và nơi đó anh không
còn đau khổ nữa như tôi. Bao nhiêu
năm đã trôi qua, giờ tôi cũng đã lớn tuổi rồi, cũng
đã bứơc vào lứa tuổi của anh ngày đó, cũng đã thử
thương yêu và tan vỡ mấy lần.
Có lẽ trái tim tôi đã chết rồi theo anh; bài học
chua cay này tôi đã mua với cái giá quá đắt, mua với đau
thương, với hối hận cả một đời người. Từ bài
học đau thương đó, tôi rút ra một kinh nghiệm sống là "Hãy
cẩn trọng gìn giữ hạnh phúc trong hiện tại, trong tầm tay của
chúng ta; đừng để sau này phải thốt lên lời hối hận đã
trót gây đau khổ cho người khác.
Những người thân đang hiện diện chung quanh ta đây, hãy
nhìn họ thật kỹ, thật sâu; hãy chia sẻ niềm vui nỗi khổ với
họ; hãy đến với nhau bằng nụ cười cảm thông, bằng ánh
mắt thương yêu, bằng bàn tay nâng đỡ; hãy sống thật với
trái tim ta từng phút giây, từng hơi thở để ngộ nhỡ
ngày mai ta xa họ, ta không có gì phải tiếc nuối ân hận vì
đã vô tình hay nhẫn tâm quên đi một bóng hình hay đánh mất
đi một tình thương chân thật." Và cũng từ dạo đó, về lại Sàigòn, tôi tìm đến đạo Phật mong sẽ xoa dịu được nỗi sầu chất ngất trong tôi. Chiều chiều, bứơc qua cổng chùa, lắng nghe tiếng đại hồng chung khoan thai trầm bỗng từng hồi vang vọng hư không hay tiếng mõ u trầm thoát tục quyện theo làn khói hương nhẹ tỏa, tôi bỗng thấy lòng mình vơi nhẹ hẵn đi, thanh thản lạ kỳ. Tôi đã để hồn tôi sâu lắng vào từng lời kinh tiếng kệ và âm thầm cầu nguyện hồi hướng cho Phong sớm được siêu thoát và cũng cầu nguyện cho tôi. Rồi
theo chân qúi thầy cô, tôi dấn thân tự nguyện vào những
công tác từ thiện xã hội. Tôi
đã đi qua nhiều miền xa xôi, nhiều vùng trắc trở, nhiều
thị xã nghèo đói bệnh tật và tận mắt tận tai chứng kiến
nỗi khổ đau của đồng lọai; tôi chợt nhận ra rằng nỗi
buồn đau của tôi chỉ là hạt cát so với nỗi khổ đau to lớn
của chúng sinh. Nhớ lại
lời nguyện ước của Phong khi anh còn sống, tôi thường ghé
thăm các trại dưỡng lão cô nhi, và lòng tôi thực sự
nở hoa khi đón nhận những vòng tay thân ái của các cụ
già, những nụ cười rạng rỡ của trẻ thơ, những ánh mắt
quyến luyến khi tôi từ giã họ ra về.
Qua những chuyến đi ủy lạo như vậy, tôi đã hóa giải
được rất nhiều niềm tâm sự u ẩn của mình, tôi hòa nỗi
đau của tôi vào nỗi khổ tha nhân, tôi chia sẻ với mọi người
những vui buồn thăng trầm của cuộc sống, và tôi tìm thấy
tôi trong mọi người, thấy Phong trong tôi, thấy vạn loại chúng
sinh trong chúng tôi. "Tất
Cả là Một, Một là Tất Cả." Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật đã dạy rõ ràng như vậy, một
khi chúng ta xóa bỏ được những chấp trước, phân biệt
ta và người, không còn tự ngã thì tâm tư và tri kiến
chúng ta không còn bị đóng khung hạn hẹp nữa.
Chúng ta sẽ không còn thấy chỉ có nỗi đau, nỗi khổ
của riêng mình nữa, sẽ không còn thấy chỉ có người thân
của mình, tình yêu vị kỷ của mình . . . mà Tình Thương Vô
Ngã trong chúng ta sẽ thăng hoa phát triển trên nền tảng Từ
Bi, Trí Tuệ, Lợi Hành, san sẻ đến vạn loại hàm linh để
cùng dắt dìu nhau hướng về An lạc, Giải Thoát. Trên
cao, Ðức Phật đang từ hòa cúi xuống nhìn tôi, mỉm cười:
"Hãy can đảm lên con, hãy đi trọn con đường con đã
chọn, hãy vượt thóat và vươn xa hơn nữa.
Cây Giác Ngộ chỉ nẩy mầm trên mảnh đất khổ đau;
Phiền Não tức Bồ Ðề; Sanh Tử tức Niết Bàn đại lạc.
Nếu con không đau khổ, con sẽ không bao giờ thương yêu
và cảm thông được cho chúng sanh." Gương
sáng thực hành hạnh "Tự lợi, lợi tha, tự độ, độ
tha; giác hạnh viên mãn" của Ðấng Từ Phụ Như Lai là kim
chỉ nam cho tôi biến đau thương thành hành động hiến trọn
cuộc đời mình cho công cuộc mưu cầu Chân Hạnh Phúc và An
Lạc Giải Thóat vĩnh cữu cho tất cả chúng sinh đều tiến lên
bờ giác.
|