|
LẦN
THEO DẤU VẾT XƯA
Cư sĩ Liên Hoa
Gió bụi, đường
xa, sương còn rơi lạnh
Ngày cùng đêm
bịn rịn lúc chia tay
Ánh bình minh
ẩn mình trong khói bạc
Lòng người đi
mở rộng tấm chân tình
Phiến đá ngày
xưa còn in đậm dấu
bước chân non
thanh tịnh ẩn bao đời
dấu thời gian
giữa mộng đời hư ảo
dấu của tâm linh mưa pháp ấm tình
Ai lặng đứng nhìn dấu chân xưa đó
ai thấm
lòng, cung kính chấp đôi tay
cánh sen
tâm duyên nở tỏa miên trường
từng cánh
hạt mà trời tâm quì xuống
Xin đảnh
lễ Nguời- Cha Lành cao cả
xin nương
về Bậc Thầy của trời người
theo dấu
chân, đường thênh thang mở rộng
rời ưu
phiền, tâm lại trở về tâm….
Minh Thanh
Vừa xong thời Kinh buổi sáng, tôi ngồi im lặng nhìn lên Đức Phật- một
vị Thánh nhân mà trên thế gian nầy đều ca tụng, xưng tán, kính phục v.v…không
phải bởi vì sức mạnh của bạo lực, tiền tài, danh tiếng, nhưng bởi vì Trí tuệ vô
biên và lòng Từ Bi vô hạn của Ngài. Đã hơn 2500 năm qua, đến nay vẫn vậy và mãi
mãi sau nầy, trừ phi nhân loại không còn biết giá trị thực sự của đời sống đạo
đức, tâm linh, bao dung, tự tại, giải thoát…Hình ảnh thật đẹp và trang nghiêm,
miệng như đang mỉm cười. Nụ cười an lạc, tự tại, hạnh phúc của một người đã siêu
thoát, vượt qua mọi sự chi phối của vô minh. Hình ảnh nầy, dù biết rằng như Kinh
Kim Cang nói:” Nếu lấy sắc, lấy âm thanh…để cầu, để thấy Ngài, đều là những
sự sai lạc”, nhưng thật lòng, thì với đời sống trần tục, vẫn còn vưóng mắc
trong sắc thanh hương vị xúc pháp…đôi khi hình tướng, sự tướng cũng cần thiết để
dẫn tâm vào trong vùng trời bao la của Chân Tánh, của Thực Tại, của Vô ngã.
Nhìn
qua cửa sổ, cái hồ còn dày đặc sương mù, thỉnh thoảng cơn gió thổi qua, rượt bắt,
xua đuổi sương dạt về một hướng, hiện rõ trên mặt hồ những cơn sóng nhỏ, mỏng
cánh như từng thìa nước. Sóng nhấp nhô, chơi vơi, nối lìền, từng đợt nầy kết nối
với đợt sóng khác. Có phải đó là nước, là sóng, là những lọn tóc bạc đầu, mang
nặng hơi sương, ghì kéo hơi gió, gánh nặng màu nhật nguyệt, của ánh nắng trải
dài trong bao ngày qua, của những đêm tối mịt mùng, của lúc bầu trời có những vì
sao xuất hiện, nhấp nháy, reo vui, có ánh trăng, có ánh sáng. Hay, chính đó cũng
là biểu tượng của cuộc đời, của nhân duyên trùng trùng duyên khởi, của một là
tất cả, của cái nầy có cái kia sinh. Một kiếp người của ngày hôm nay, là bóng
dáng của vô lượng kiếp nối tiếp đã qua và là viễn ảnh của một ngày mai, nếu tâm
không ngơi nghỉ, dừng lại.
Cuộc
đời, nhất là đời sống hiện tại, với mọi phương tiện truyền thông, quảng cáo,
nhiều kích động v.v…một mặt nào đó, có thể đưa con người tiếp cận với đời sống
thường nhật, mở rộng tầm nhìn, vũ trụ như tóm gọn lại, gần gủi…nhưng mặt khác,
nếu không bình tâm, tỉnh trí …thì chính những phương tiện đại chúng, phổ thông
đó, lại đưa con người đánh mất tâm an tịnh, bị lôi kép vào những thị phi, tranh
chấp, sống huớng ngoại, đua đòi theo những nhu cầu vật chất., tâm hồn sẽ nghèo
nàn, dễ bị phân hoá, vong thân. Khi chúng ta đi một hướng nào đó, không trở về
với tâm trung dung, con đường trung đạo, thì dễ kéo đi theo một hướng cố định,
đánh mất sự sáng suốt cần thiết, bỏ rơi những chia xẻ, thân tình.
Tin
tức bao ngày qua, trên truyền hình, trên báo chí, có những thảm cảnh xẩy ra, của
người cha liệng bốn đứa con xuống con sông, những đứa bé vô tội. Nhưng tin tức
nóng sốt về chiến tranh, chỗ nầy đặt bom giết hại người dân lành, nơi kia chiến
trận bùng nổ vì sắc tộc, vì kiêu binh, bè phái…Thị trường chứng khoán chao đảo,
động đất, cháy rừng, kinh tế suy sụp ảnh huởng đến toàn cầu. Nhiều nơi trên thế
giới mưa bão, khí hậu thất thường, ảnh hưởng đến môi sinh…Căn nhà của trái đất
nầy nhỏ bé quá, như trước mặt, ở đây và mình là người trong cuộc...Giữa biết bao
nhiêu xáo động của đời sống, của môi trường xung quanh v.v…dẫn đến những biến
thái tâm lý của nhiều người ở mọi giai tầng xã hội, phải dùng đến thuốc ngủ mỗi
ngày hoặc những chất liệu khác, bằng bất cứ hình thức nào để chạy trốn thực tại,
để xoa dịu tâm hồn, ổn định tạm thời thần kinh nhạy cảm…Những biến động nầy ảnh
huởng đến hệ thần kinh, bộ não của nhiều người. Nhiều thống kê cho thấy rằng
bệnh tâm thần đang lan rộng, nhất là đối với những người không có đời sống tâm
linh, tâm hồn rỗng, đam mê vật chất. Phải chăng, vì thế mà tôn giáo rất tối cần
thiết trong đời sống hiện đại, khi trong tâm tư mọi người không an?
Phật
giáo là một trong những tôn giáo được đề cập nhiều đến, vì qua những kinh sách
bao la, rộng lớn, bao trùm hết tất cả mọi triết thuyết của nhân loại, nhưng đặc
điểm siêu việt của Phật giáo là đến với, vì con người, với đời sống hiện tại và
hướng đến giải thoát khổ đau bằng chất liệu thiền định, tĩnh lự để chuyển hoá.
Đạo Phật đặt căn bản từ con người đang mang tất cả gánh nặng phiền não, nghiệp
chướng, nhưng qua phương pháp tu tập, giản dị, trung dung… đem lại cho con người
sự quân bình của đời sống, không hứa hẹn đến một sự cứu rổi hay cảnh giới nào
khác. Cuộc sống hiện tại bị mất quân bình, đau khổ thì bất cứ ở cảnh giới nào
cũng mang nhiều nổi khổ đau, biến cảnh giới đó thành nổi trầm luân tiếp diễn.
Cho nên, với phương pháp tu tập, vì sống với con người thực tại và với hiện tại,
ngay bây giờ, Phật giáo không chỉ là một Tôn giáo, mà còn là nếp sống, một cuộc
sống thực tiển.
Phật
giáo hay Đạo Phật lại bắt nguồn từ sự Giác ngộ Chân Lý của một con người- đó
là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Rất
là hy hữu trên thế gian nầy mới xuất hiện một con người như vậy, qua bao ngàn
năm qua chỉ có Một. Từ vị Thánh nhân đó mà giáo lý Duyên Khởi được tuyên thuyết,
ngôi nhà vô minh được xây cất bởi mắc xích của 12 nhân duyên mới được chỉ rõ
tường tận, để gỡ bỏ, dẫm trên đường thong dong, tự tại; rồi đến bước chân của
Bốn Thánh Đế là một chân lý, bao trùm khắp cả thế gian và xuất thế gian, mới
được đào sâu, để từ Tục đế bước qua Chân đế và mở tung được vùng trời bao la, vô
tận của Từ Bi-Trí Tuệ với Đại Nguyện, của tâm Vô Ngã.
Trong
kinh A Hàm nói: "Một chúng sinh duy nhất , một con người phi thường đã xuất
hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì lòng bi mẫn , vì sự tốt đẹp,
vì lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người ".
Sự
xuất hiện của Đức Phật là một hạnh phúc cao thượng cho trời người, không có gì
để có thể so sánh, hay nghĩ bàn, vì Ngài thị hiện trên cuộc đời để chỉ bày cho
con người “Mọi loài chúng sinh đều có Phật tánh và nếu biết khai phá, thể
nhập, thì sẽ là vị Phật tương lai”. Một cùng tử đi hoang, lang thang trên
mọi nẻo luân hồi, bỗng nhiên gặp lại được người Cha thân yêu, trao cho gia tài
vô giá và chính mình là sở hữu chủ. Còn sự sung sướng nào hơn nữa, còn sự bình
đẳng nào có thể so sánh.
Là
người Phật tử, từng nghe lời Kinh, từng nghe thuyết giảng, từng suy tư để thấu
tận mỗi một niệm khởi, cũng như biết bao nhiêu nhà nghiên cứu, nhà khảo cứu, nhà
tâm linh trên thế giới v.v…đều mong muốn tìm hiểu, sống với hoặc thể nhập vào,
về Con Người Siêu Việt nầy. Đó không phải là con nguời huyền sử hay giả
tưởng, nhưng là một Thánh nhân lịch sử bằng xương bằng thịt, đã xuất hiện hơn
2651 năm qua.
Hai
đoàn xe lao vùn vụt như muốn đuổi theo thời gian để hướng về Lumbini ở Vương
quốc Nepal. Xe chạy đến biên giới Sonauli giữa Ấn Độ và Nepal, phải dừng lại để
làm Visa nhập cảnh. Nepal là quê ngoại của Thái tử Siddharta và sau nầy là Phật
Thích Ca. Vì không xin visa trước, nên đến biên giới nầy mới làm thủ tục xin
nhập cảnh cho một số người quá đông, đã mất gần 3 tiếng đồng hồ. Đoàn xe tiếp
tục lên đường, những bài pháp thoại được giảng trên xe, những sinh hoạt văn nghệ
bỏ túi do những giọng ca vàng của những người trong đoàn, làm cho đoạn đưòng dài
hơn 7-8 giờ xe qua mau. Ai nấy đều cảm thấy mệt mỏi, nhưng như có sự mầu nhiệm
nào đó hay vì lòng nôn nóng muốn đến nơi những Thánh tích, đã làm cho mọi vẩn
động trong tâm xoá nhoà, biến mất.
Vừa
qua biên giới, trên đoạn đường dài, từ cổng thành, đến nhiều ngã tư hay các ngã
đường, có treo hình hoặc thờ tượng Đức Phật, làm cho tâm hồn mọi người đều cảm
thấy hân hoan, vui mừng, ấm cúng.
Đường
xa, ổ gà nhiều, xe chạy vùn vụt, những cảnh tiêu điều, xơ xài ở hai bên đường
nối nhau chạy lùi. Vì không đủ giờ, vì trời cũng đã ngã chiều, nên đoàn dự tính
bỏ tham quan nơi Tháp của Nữ La Hán Mahapajapati Gotami, dù trong lịch trình của
chuyến đi có đến chiêm bái nơi nầy. Người là vị Tỳ kheo ni đầu tiên, sáng lập
Ni đoàn thời Đức Phật, và là Dì cũng là mẹ kế của Thái tử Siddharta. Dù quyết
định như vậy, nhưng người tài xế của 2 đoàn xe cũng vẫn chở đoàn người Hành
hương tới nơi Tháp của Người. Cổng vào đóng kín, người gìn giữ ngôi Tháp cho
biết, nếu muốn, họ sẽ mở cổng cho vào chiêm bái, nhưng rất tiếc, trời đã nhá
nhem tối, nếu đi vào trong cũng không thể thấy gì rõ hoặc không thể chiêm bái
được. Tháp của Nữ La hán ẩn mờ sau bóng đêm đang kéo tới dần. Thôi thì đành đứng
ngoài cổng, chụp vài tấm hình có thể, để rồi nhìn lại hình ảnh cũng không thấy
rõ được gì.
Đoàn
tiếp tục đi và đi, xe vẫn chạy cuốn rút, như hối hả, như tha thiết, như mong ước…đây
cũng là tấm lòng của người con Phật, đang hướng về…Hy hữu mới được làm thân
người, sau bao nhiêu kiếp ở nơi đâu, trầm luân như thế nào? Hy hữu của một kiếp
người là gặp được giáo pháp thâm diệu của Đức Phật, giáo pháp dạy làm con người
thực sự, những bài học thiết thực của tính nhân bản, lòng trực tâm, lối sống cao
thượng, hạnh phúc….
Sáu
cánh sen lòng, sao huyền diệu
nụ
xuân hồng hương tỏa viễn xa
cánh
mắt biếc long lanh không sắc
cánh
thanh âm dời bến tình nồng
cánh
của hương trầm qua ảo mộng
cánh
con thuyền dừng bến thực xưa
cánh
bóng tâm không ảnh không hình
cánh
của ý trời sao biển rộng
Ồ
thật đẹp, “tâm không” thật đẹp
tháng
năm qua, mà nở hôm nay
một
chút lòng son, xin dâng Phật
là
trời tâm quán chiếu bao ngày
hạnh phúc mỉm cười trong an lạc
cười reo theo hơi thở nhịp nhàng...
Minh Thanh
Đêm
về, màn đêm bao phủ khắp mọi nơi, Đoàn đã đến khách sạn, lấy chỗ ngủ, dùng buổi
cơm tối và những sinh hoạt bình thường của đoàn người lữ khách. Mệt nhoài, nhưng
lòng ai nấy đều vui, cái vui tinh thần, cái vui của đời sống tâm linh, mà đôi
khi vật chất không thể mua được. Trong giấc ngủ, dù nổi tiếng là dễ ngủ do
thường quán chiếu, để tâm không, bỏ mọi ưu phiền sau lưng, sau một ngày làm việc.
Nhưng đêm nay, lòng tôi cứ bồn chồn, mắt vẫn cứ mở trong sự an lạc, trong một
hạnh phúc nào đó, không diễn tả được. Tôi cứ chập chờn, chờ đợi sáng…..
Một
buổi sáng thật đẹp, sương còn dày mang hình ảnh đám mây chập chờn, ẩm lạnh trải
dài, phủ lên trên đôi vai của mọi người.. Đoàn người rời xe, đi kinh hành tiến
vào cổng của khu vườn Lumbini. Mặt trời chưa lên, chưa tỏ, sao lòng ai nấy như
đều tỏ rạng. Gương mặt vui mừng hớn hở, những nụ cười an lạc nở trên môi. Thật
là quá đông người, của nhiều đoàn hành hương khác, từ nhiều quốc gia, đã có mặt.
từ trước. Đoàn vẫn tiếp nối đi, tiếng niệm Phật vang rền….Tôi không biết xưa kia,
khi Thái tử Siddhata đản sanh, trời người vui mừng như thế nào hoặc khảy nhạc
trời trổi vang, tung hoa nhiều sắc màu, đầy hương thơm tuyệt diệu toả khắp mọi
nơi, rải khắp nơi cúng dường hay lòng người hạnh phúc, sung suớng ra sao…Nhưng
hôm nay, những hình ảnh đó như đang có mặt nơi đây, nở rộ, chan hoà, chen lẫn
với hương năm màu sắc tuyệt diệu trong tâm hồn người con Phật, là hương của tín,
của tinh tấn, của niệm, của định, của huệ căn.
Ngày
là đây, đêm có là đây
Sao
mai đổi chỗ để làm ngày
thời
gian ngừng lại như chờ đợi
một
áng trời trong xóa bóng mây
trời
người hoan hỷ, lòng hớn hở
bỏ
lo, không bận, gỡ ưu phiền
bỏ
từng phiến đá bao năm nặng
một
cõi trời quang, không bóng mây……
Minh Thanh
Lumbini nằm trên ngọn đồi thuộc chân núi Hymalaya, trước thuộc tiểu bang
Ultar Pradesh, Ấn độ. Vào năm 1857, thực dân Anh khi đó đang đô hộ Ấn độ và khi
quy hoạch lại biên giới, đã cắt ra một số đất nhường cho Vương quốc Nepal, bao
gồm luôn Thánh tích Lumbini. Nay, thuộc phía Tây Nam của Nepal.
Qua
bao nhiêu biến thiên, thăng trầm của lịch sử, với hàng trăm năm sau khi đoàn
quân Hồi giáo xâm chiếm Ấn độ và đã đập phá biết bao nhiêu là Thánh tích của
Phật giáo, giết hại các vị tu sĩ, máu tưởng chừng như đỏ thẳm trải rộng nhiều
nơi chốn, thấm đất, thấm nổi đau, thấm với lòng thương cho sự mù quáng, cuồng
tín của tôn giáo. Máu đỏ nuôi dưỡng cho những thân cây xum xuê lá, bồi bổ cho
những vùng đất, và từ đó, đất cây trở thành rừng, trở thành đồi đất như có sức
sống lớn mạnh, bao che phủ khuất những Thánh tích nầy, dù tuởng chừng như các
Thánh tích Phật giáo bị chôn vùi, quên lãng theo thời gian, theo luật vô thường,
sinh diệt.
Qua
di tích trụ đá do vua Asoka- người là vị vua Phật tử đã góp công truyền bá
giáo Pháp của Đức Phật lan rộng ra các vùng Đông Á- gần 400 năm sau đó đã
đến nơi đây hành hương, đã đặt viên đá chính xác nơi Phật đản sanh và dựng trụ
đá như đã nói trên, để đánh dấu chổ Đấng Thiên Nhân Sư đã chào đời. Nhà khảo cổ
người Đức Fuhrer năm 1895, đã khám phá ra trụ đá nầy, mở màn cho một kỷ nguyên
mới cho sự phục hoạt dòng sống tâm linh cao thượng. Trụ đá hiện nay vẫn còn
nguyên vẹn, cao khoảng 15 mét, được bao bọc bởi hàng rào sắt để gìn giữ, tuy có
hoang sơ, điêu tàn, nhưng dấu nét của dòng chữ ghi khắc lại Sắc Luật khắc trên
đá
(the
Rock Edicts) vẫn còn rõ ràng, sáng rực : "Devànampiye Piyadasì làjà hevam
àha……..Hida Pudhe Jàta Sàkyamunìti"
«Sau
hai mươi năm lên ngôi, vua Priyadarsi (Vương hiệu của Vua Asoka), người được chư
Thiên yêu mến, đã thân hành viếng thăm và cúng dường cũng như lễ bái nơi đây,
bởi vì Ðức Phật, Thánh nhân dòng họ Thích, đã được sanh ra nơi đây ».
Đoàn
đã ngồi trước trụ đá, nơi ghi dấu chỗ Đản Sanh của Thái tử Siddharta để thiền
quán và thành kính cùng nhau tụng kinh, đảnh lễ. Chung quanh, cũng có nhiều đoàn
khác do các vị Sư của nhiều quốc gia khác nhau, hướng dẫn tụng kinh, kinh hành,
nhiễu chung quanh nơi ghi dấu Thánh tích nầy….Lời Kinh vang dậy như những âm
thanh của nhạc từ bi, nhạc của trời Càn Thát Bà dâng cúng, nhạc của lòng thành
kính, nhạc của muôn tấm lòng dừng lại, trong giờ phút hiện tại dâng lên Đấng Cha
Lành. Ôi ! không gian bao la, thành trụ hoại diệt không ai biết được. Thời gian
vô thủy đến tận cùng chung nào ai hay, nhưng chỉ một niệm lòng thành lúc nầy,
nơi nầy, chư Phật ba đời đã tùy tâm thị hiện.
Có
lẽ ai nấy đều có cảm giác lạ lùng, huyền diệu từ nơi chốn nầy. Chỉ một số chứng
cớ của Thánh tích còn lại, không còn nhiều khi so sánh với nhiều sử liệu xưa
kia, những hình ảnh trù phú, an bình, thanh thoát, sung túc v.v..còn ghi đậm qua
những Ký sự của các nhà Hành Hương như Ngài Pháp Hiền ở thế kỷ thứ V, Ngài Huyền
Trang vào thế kỷ thứ VII…….nhưng kỳ lạ thay, nhiều hình ảnh dù ngày nay không
còn hiện hữu, đã bị hủy hoại, nhưng như vẫn còn đầy đủ, to lớn, mở rộng vô biên
trong tâm mỗi người con Phật. Đây là dấu ấn của tâm linh, của sức mạnh nội tại,
là Tâm pháp, là Chân như, là Tánh Phật, là Pháp tánh, là Vô ngã…rọi lên suối
nguồn của vô thủy dẫn đến vô chung. Dù có bao nhiêu sức mạnh của bạo lực, của vô
minh, mù quáng tôn giáo gieo rắc, tàn phá, hũy hoại, cố mong sạch gọn những dấu
vết của các pháp hữu vi, dù họ vẫn biết rằng trong đó nội hàm mang nặng dấu
vết, tấm lòng là giáo lý Từ bi- hỷ xả - giải thoát đem lại sự hạnh phúc, an lạc
cho muôn loài, mà do vì cuồng tín- họ không cần biết, không cần thấy, không cần
tin và phải quét sạch. Nhưng thưa rằng : tận trong mỗi hạt cát, mỗi cơn gió,
một thoáng thời gian trong không gian nhiệm mầu, đã đủ vực dậy tất cả sức sống,
như cơn thủy triều vươn dậy, đó là Phật Pháp, không aì có thể tiêu diệt được,
không một ai có thể xóa bỏ được.
Gần
nơi trụ đá do vua Asoka ghi dấu lại, cách vài chục thước là cái hồ nước linh
thiêng mà xưa kia Hoàng hậu Maya sau khi sanh Thái tử đã tắm rửa. Mạch nước nóng
lạnh được ghi lại trong lịch sử có 2 con rồng phun nước tắm Thái tử vẫn còn chảy
ngầm phía dưới, tuy hồ đã bị ngăn đắp lại bằng bờ xi măng ở chung quanh bởi
chánh quyền Nepal làm thành hình chữ nhật, ngang khoảng 7 mét, dài khoảng 10
mét, bốn phía đều có bậc tam cấp xuống hồ. Do ý muốn để bảo quản Thánh tích,
nhưng lại vô tình làm mất vẻ thiên nhiên của nơi chốn nầy và làm cho nuớc hồ đổi
màu không còn trong xanh và mạch nước ngầm không còn cuộn chảy, dù hồ nước vẫn
còn đầy. Tuy nhiên, cũng phải hiểu đó cũng là tấm lòng thành kính của chánh phủ
Nepal đối với những Thánh tích Phật giáo ghi dấu nơi Phât đản sanh.
Kế
bên là ngôi đền Mẫu hậu Maya (Maya Devi Temple) được xây dựng cách đậy 2600 năm.
Ngôi đền có kiến trúc hình
vuông
như cái hộp chụp lên trên những dấu tích của các tháp thờ, có chiều dài khoảng
25 mét, cao 7 mét bằng bê tông sơn trắng. Nơi đây, có hình bức phù điêu của Mẫu
hậu Maya đang vịn cây Vô Ưu (Ashok) hạ sanh Thái tử, đã xưa cũ. Do các nhà khảo
cổ còn đang khai quật tiếp, nên vẫn còn dang dở nhiều công trình. Có một lối đi
bằng gỗ rộng khoảng 2 mét, có lan can bao quanh cao khoảng 1 mét dẫn các đoàn
hành huơng xếp thành hàng một, tiếp bước đến cuối ngõ cụt, nhìn xuống bên dưới
có cái hộp kính, bên trong đang chứa viên đá màu vàng đất (The Marker Stone) có
dấu chân của Thái tử khi vừa đản sanh, đi 7 bước. Sau khi chiêm bái, chụp hình,
rồi mọi người đều quay ngược ra ngoài. Đoàn đã đi nhiễu chung quanh nơi Thánh
tích nầy nhiều vòng, vừa kinh hành vừa niệm danh hiệu Phật. Có rất nhiều, rất
nhiều đoàn khác cùng đi theo, và cả những dân chúng địa phương gồm đủ mọi thành
phần lớn bé, già trẻ, quần áo đủ màu sắc v.v…với tất cả tâm thành cùng đi chiêm
bái và kinh hành. Ngôi đền nầy trước kia thuộc sở hữu của người Nepal không phải
Phật giáo, vì họ cho rằng Đức Phật Thích Ca là hóa thân thứ chín của thần Vishnu
(vị thần tối cao của Hindu giáo) và Mẫu hậu Maya Devi là Rupa Devi - vị Nữ Thần
Mẹ của Lumbini (Mother Goddess of Lumbini). Nhưng nay, chánh phủ Nepal đã trao
lại ngôi đền và toàn bộ khu vực nầy cho Phật giáo.
Trên
gò đất cao, cạnh đó, có cây bồ đề, gốc có một khoảng trống hẹp được gọi là “Hope
hole” (Lỗ hy vọng). Chung quanh cây bồ đề, người Tây Tạng giăng những dãy phướn
năm màu khắp 4 hướng, có in những câu thần chú, hình Phật. Gió làm cho những dãy
phưón có màu sắc rực rỡ, tung bay theo gió, tạo thành cảnh quan huyền bí, linh
thiêng như uớc muốn của mọi người đều mong được an lạc, hạnh phúc.
Để duy trì Thánh tích Lumbini, với khuôn viên gồm có 4 mẫu vào năm 1967, Ông
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant, người Myanmar, cũng là người Phật tử, đã vận
động để trùng tu và biến nơi đây là Trung tâm Hoà Bình của Thế giới, của Liên
Hiệp Quốc. Hiện nay, chung quanh Khu vườn Thiêng liêng (Sacred Garden) được rào
bằng lưới mắt cáo và đang phục hồi xây dựng, tạo một sinh khí tâm linh không
những cho người dân địa phương, quốc gia sở tại mà còn cho tất cả các Phật tử và
những người hũu tâm trên toàn thế giới. Hiện nay, chung quanh khu vực của vườm
Lumbini, có rất nhiều ngôi Chùa Phật giáo của các quốc gia đã được thành lập,
tạo thành khu vực thanh nhả, an lành, hoà bình.
Lumbini đây ! Thánh địa ghi dấu nơi Bồ Tát Hộ Minh, bậc Thầy của trời người, đản
sanh nơi đây ! Những phút giây nầy sao tuyệt diệu, làm tâm hồn mọi người như no
đủ trong hạnh phúc, an lạc. Hình ảnh xa xưa của ngày Thái tử Siddharta đản sinh
như khúc phim quay lại, mở rộng, rực rỡ, huy hoàng….Nước mắt tôi chợt rơi, không
cầm được. Nước mắt của xúc động, nước mắt của tâm an tịnh, thanh thoát, vượt
thoát khỏi ảnh huởng vô thường của các pháp hữu vi đang suy tàn, biến dạng….
Cuộc
đời con người có bao nhiêu là dấu ấn. có những dấu ấn của tuổi thơ, của một nơi
chốn nào đó làm hoài niệm, nhớ nhung. Dấu ấn của tình cảm, của cảm thọ khổ đau
hay hạnh phúc, mà có khi chỉ một gợi nhớ sẽ gây vẫy vùng như biển sóng của bất
hạnh hay niềm hoan lạc. Dấu ấn của một đời người với những biến chuyển của nội
tâm, của một quốc gia qua những thăng trầm vinh nhục, qua sự đổ vỡ, chia ly, tan
tác, gia đình rời xa. Dấu ấn ký của những người lãnh trọng trách của một cơ sở,
một xí nghiệp. một tổ quốc…mà qua ấn ký đó, có thể làm đảo lộn mọi chuyện từ nhỏ
đến lớn hoặc có thể tạo thành một nổi đau khủng khiếp hay là đem lại đời sống
thanh bình, an cư lạc nghiệp cho người liên hệ, tùy theo những quyết đoán có bị
chi phối bởi si tham sân hay không.
Chỗ
viên đá có dấu chân của Thái tử bước khi vừa chào đời. Dấu chân non thanh tịnh,
ấn sâu vào đá như dấu ấn của vùng trời tâm linh biểu trưng vào thời không gian
đó, để khởi đầu và lan tràn đến hôm nay và mãi mãi, dù vạn pháp vô thường. Có
thể một lúc nào đó, sự biến hoại sẽ cuốn trôi tất cả mọi hữu vi pháp, nhưng dấu
ấn tâm linh đó vẫn no lớn, kỳ diệu và tròn đầy. Nếu đến được những nơi Thánh địa
nầy, chúng ta mới tận mắt thấy và cảm niệm ân trọng sâu dày và công hạnh của Đức
Phật vì chúng sinh.
Dấu
ấn tâm linh mà một lần chạm phải, một lần tưởng niệm, tâm sẽ khai mở vào vùng
đất kỳ lạ, nhiệm mầu của tâm xuân.
Vô
thủy tâm xưa rọi xuống đời
Vô
chung tâm vẫn trú cùng tâm
Hoa
tạng mở khai trong vô niêm
Móng tay khẻ
búng, hiện ba đời
Trên đường, lữ
khách không dừng bước
Phong trần rủ
bụi, bụi không vương
Trong vô lượng
kiếp tâm thị hiện
hạt sương hiện
tỏ cõi vô cùng
Hãy đến một
lần, trà cạn chén
Nghe trong
hương vị, có năm hương
Hương đời như
gió hoà trong cảnh
Hương của tâm
thanh xoá bụi trần…..
Minh Thanh
Chung
quanh đâu đây, vẫn còn những dấu tích của các Tháp, nền nhà, tu viện…nhưng bị hư
hoại, biến dạng như bản chất của những hữu thể vật chất, giúp nhận thức rõ tường
tận được duyên sinh hợp tan của các pháp vô thường, có sinh có diệt.
Những
chỗ mà Đoàn đã đi qua, nhìn rõ được hình ảnh của người dân còn rất nhiều khốn
khổ, đói rét. Phụ nữ bị xem thường, thấp kém. Nghĩ đến đồng bào Viêt Nam ruột
thịt của mình ở những vùng quê đã nghèo đói, nhưng vẫn còn đỡ hơn nhiều so với
dân cư các vùng nơi đây, quá khổ. Nhà cửa nhỏ, chật hẹp, quần áo xơ xài, rách
nát. Trường học nhiều chỗ học sinh phải ngồi ngoài trời, dưới đất để học, nhưng
có điều lạ là ở Ấn Độ có rất nhiều nhân tài, nhất là trên mặt Tin học, Y khoa
v.v…
Chúng
ta đã thấy, đã chiêm bái, đến tận nơi chốn của những Thánh tích của Phật giáo,
được tiếp cận, ôm ấp và quán chiếu được các bài Pháp vô giá cho con đường tâm
linh.
Đức
Phật- người khai sáng ra đạo Phật, đã thị hiện nơi cuộc đời nầy bằng tình yêu
không bờ bến đối với muôn loài và hoàn thành nguyện lớn mà bao đời qua, Ngài
thường tâm niệm, tu hành.
Vì
đại nguyện mong cho tất cả muôn loài khỏi khổ đau, được an lạc v.v…mà trong vô
lượng kiếp qua, Ngài thường thực hiện hạnh Bồ tát, bố thí từ tài sản vật chất,
chí đến thân mạng của mình.
Vì
đại nguyện, Ngài từ bỏ nơi cung trời Đâu Suất, thị hiện đản sanh nơi cõi Ta bà
đầy ác trược.
Vì
đại nguyện, Ngài từ bỏ quyền quí, vinh hoa, tương lai rực rỡ, tuổi trẻ, sức lực
dồi dào, dấn thân làm người khất sĩ, tìm đạo giải thoát.
Vì
đại nguyện, Ngài từ bỏ tất cả các con đường tu khổ hạnh, cực đoan, ép xác…không
đem lại kết quả thành đạo.
Vì
đại nguyện, Ngài đã ngồi dưới cội cây Bồ đề để quán chiếu những biến chuyển của
tâm, tìm tận cội nguồn vô minh đã làm cho chúng sanh bị lôi kéo trầm luân trong
nghiệp lực và tìm ra chân lý, đắc đạo quả.
Vì
đại nguyện, Ngài đã không nhập vào Vô dư Niết bàn, mà trụ thế, bước chân đất qua
mọi nơi chốn, để đem giáo Pháp giải thoát, hạnh phúc chỉ bày, thuyết giảng cho
chúng sinh, tất cả duy nhất vì tình yêu cao thượng của tấm lòng người cha, mong
cho mọi người hiểu rõ đâu là ba độc si tham sân, đâu là tự tại an lạc và hướng
dẫn tìm được “con người muôn thưở” của chính mình, đó là Tánh Phật trong
tâm mỗi loài.
Đó là
tâm hoan hỷ hay hỷ lạc (Priti hay Piri). Cái tâm vượt qua sự chi
phối của tham sân si, đến từ tâm bồ đề vững chắc, tâm không phân biệt, không có
cái ngã điều khiển và đến từ tình yêu cao cả, siêu việt do lòng từ nhân rộng lớn,
do ngọn đèn trí huệ quang minh nhìn rõ nghiệp lực của chúng sanh, nên không nao
núng, không nản chí, không lùi bước, dấn thân vào cõi tương đối… chỉ muốn hướng
dẫn chúng sanh đến bờ giải thoát, vào trú xứ an vui hạnh phúc. Kinh Pháp Cú 193,
nói :"Khó gặp được Như Lai, không phải đâu cũng có . Chỗ nào Phật đản sinh
nơi đó tất an lạc".
Đức
Phật không đòi hỏi chúng sinh phải cung kính, cúng dường Ngài hay là hứa hẹn một
sự cứu rỗi hay một cảnh giới xa vời nào đó cho chúng ta, hoặc giả ban ân ban
phước,và phải tin tưởng Ngài vì Ngài là nầy là nọ v.v…không, Ngài chỉ mong chúng
ta nhận thức được rằng, trong cái thân hữu cơ, thân cấu tạo bởi năm uẩn, có một
Tánh giác luôn có mặt, mà nếu khai phá, sống với, thể nhập…chúng ta sẽ vượt qua
khổ đau chi phối bởi tham sân si và trở thành con người nhân bản thực sự, ích
mình lợi người đem lại cho thế giới hoà bình an lạc. Một niệm tỉnh giác, thì nơi
sát na tỉnh giác đó, một Đức Phật đã có mặt, ra đời, Đức Phật của chính mình.
Là
người con Phật, cảm niệm ân trọng của Ngài qua sự thực hành giáo lý, quán chiếu
nội tâm…chúng ta đã học và làm được những gì để báo thâm ân đó.
Từ
những giáo lý căn bản của người sơ cơ học Phật, chúng ta lớn dần lên với những
nấc thang giáo lý cao siêu, nhưng tựu chung lại, là để nắm rõ đường đi và tìm
lại “bản lai diện mục” của chính mình. Cái gì làm cho con người đắm chìm trong
sanh tử, thăng trầm theo dòng chảy của luân hồi và con đường nào để đi đến an
vui hạnh phúc chân thật ?
Mỗi
người khi thực hành giáo lý của Đức Phật, đều tự chiêm nghiệm được hạnh phúc đến
trong từng sát na một, không phải nơi nầy, chỗ nọ, mà giây phút sống thực tại đó.
Tự bản chất, giáo lý của Đạo Phật chỉ thẳng đến Tánh giác để thể nhập, bằng cách
nào?
Bằng
đốn ngộ, người hành giả trực nhận Phật tánh nơi mình, dù có những đám mây
vô minh che phủ, nhưng tự bản chất của Tánh giác vẫn tròn sáng, không sinh không
diệt, xa lìa tất cả mọi cấu trần. như ánh đèn xóa nhòa bóng tối. Khi người hành
giả nhận thức được như vậy tức mở đường ngọn đèn trí tuệ chiếu tan bóng tối vô
minh và tánh rỗng không vô ngã chan hoà.
Bằng
con đường tiệm ngộ, người hành giả cần bưóc đi trên con đường
giới-định-tuệ, ba giải thoát môn nầy dung thông và có mặt trong tất cả các
tông phái, dù thiền, dù tịnh hay mật giáo. Đó là bước chân cần thiết, tất yếu
cho con đường đến bờ giải thoát, trừ trường hợp những người có đại duyên, đại
căn, đại trí nhiều đời nhiều kiếp và nay, là để thành tựu viên mãn Tất địa giải
thoát.
Theo
thiển ý, như đã nhiều lần thưa, có người nói rằng phương pháp mà tôi theo tu học,
mới là pháp tu chánh yếu đưa đến an lạc, các phương pháp tu hành khác là sai.
Những quan niệm như vậy, chỉ là biên kiến, muốn áp dụng một phương thuốc chung
cho các bệnh nhân mà quên rằng mỗi bệnh nhân đều có cơ thể, tâm sinh lý khác
nhau, hay như nghiệp lực khác nhau.
Qua
sự từ giả cõi đời của các vị Thánh nhân, có nhiều nhà khoa học muốn đem khoa học
ra giảo nghiệm hay muốn mổ xẻ bộ óc của các vị đó, để mong tìm ra nơi nào là
Tánh Phật, là tâm trong một cơ thể hữu cơ, nhưng có lẽ, họa chăng là chỉ biết có
bao nhiêu neurons, tế bào não, chỉ số IQ v.v…nên cần phải nghiên cứu lại Kinh
Lăng nghiêm mà qua đó, Đức Phật chỉ rõ vọng tâm cho Ngài A Nan để thấy
và nhân ra được chân tâm và từ đó, mới nắm bắt được tinh thần của Kinh
Kim Cang như:”Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.
Chúng
ta đã bước qua từng lộ trình tâm linh, con đường từ cái niệm đầu tiên,
tiến đến tìm con đường đi chánh đáng cho cuộc lữ làm người ( trạch pháp),
tiếp theo, là nổ lực, tinh tấn để đạt được sự tự tại, an vui. Sự tu tập
sẽ đem lại cho hành giả, lòng Hỷ Lạc. Đây là biểu cảm của tâm hay là tâm
sở, nhưng ảnh huởng đến thân và tâm
Có
nhều người lấy sự thành đạt, danh vọng, tiền tài, sắc đẹp v.v..làm niềm vui Hay
có người quan niệm, sự hỷ lạc là sự chiếm hũu và đạt được một pháp nào đó. Có
nhiều người nói rằng hỷ lạc là sức mạnh, là quyền lực, của cải dư thừa, ăn sung
mặc sướng, là tất cả những gì muốn mà được, nhưng quên rằng các pháp dù hữu vi
hay vô vi, tất cả các hiện tượng cũng đều vô thường, giả hợp và dù có giá trị
như thế nào, nếu bám víu, tham chấp vào sẽ đưa đến khổ đau.
Sự
chạy rong ruổi theo bên ngoài, chìu theo dục vọng, săn sóc cái thân vô thường,
bỏ quên cái thân huệ mạng, say mê một pháp nào đó, không cởi mở, thì trên căn
bản đã mất quân bình và đưa đến đau khổ, bất an. Bệnh thần kinh, mất ngủ, hoang
tưởng, cô độc, bất an v.v…đều đến từ sự mất đi suối nguồn an lạc của tâm. Gốc
của bất hạnh đều do si tham sân, khiến cho lòng tham chấp, thủ trước và sợ mất.
Với cái tâm vọng, chúng ta có cả thiên hà vũ trụ đầy dẫy trong tâm, vi tế hay to
lớn vô cùng, nhưng là giả hợp.
Sự
khác biệt giữa tâm hỷ lạc và sự vui mừng đến từ thoả mãn những ước muốn dục vọng,
là một bên đưa đến hạnh phúc, và một đàng dẫn đến khổ đau.
Niềm
tin vững chắc mình có đầy đủ Tánh giác, là Phật sẽ thành và để đạt được bổn tâm
thanh tịnh, người hành giả cần phải trau dồi và phát triển tuệ quán, rèn luyện
tâm, kiểm soát những tâm bất thiện và làm triển nở những tâm thiện. Tất cả đều
do chính người hành giả thực hành, thực chứng, ngoài ra không một ai có quyền
chế ngự, giải thoát dùm.
Có
nhiều người hỏi rằng, người tu học theo Phật sẽ được gì và làm gì cho chính mình
và cho xã hội, con người?
Từ
câu hỏi nêu trên, chúng ta- những người con Phật đều cảm niệm, thâm ân công đức
và tình thương cao vời vợi, bao la của Đức Phật, người khai sáng ra Đạo Phật, mà
dù qua bao nhiêu sự thăng trầm, biến thiên, phá hoại, hũy hoại bằng cách nầy hay
cách khác của các thế lực, thần quyền….thì giá trị hoà bình – bao dung - giải
thoát – chia xẻ của giáo Pháp của Ngài vẫn tồn tại mãi và đem lại lợi ích an lạc
cho mọi loài, trừ phi nhân loại không còn lòng từ bi, đạo đức và bị vô minh chế
ngự hoàn toàn.
Cám
ơn Ngài Asoka, vị Vua Phật tử, đã vì sự nghiệp tâm linh cao quí của nhân loại,
đã có đại duyên đến chiêm bái những nơi Thánh tích Phật giáo, xây Tháp, dựng cột
trụ ghi dấu v.v…nhờ đó, mà ngày nay, nhân loại còn có diễm phúc trở về cội nguồn
tâm linh. Người ta biết và mang ơn Ông, không phải vì những chiến công hiển hách
trên trận mạc, giết hại bao sinh linh….mà vì chuyển tâm từ người hiếu chiến, trở
thành vị Vua có tấm lòng từ bi, nhân bản làm ích lợi cho mọi người.
Cám
ơn những bậc Tổ sư, các vị Thánh nhân, các vị Tôn Túc Thạc đức Phật giáo ở tất
cả các quốc độ, v.v…đã bao ngàn năm qua, đã vì sự nghiệp độ sanh, mà hoá độ, dấn
thân vào những nơi chốn ô trược, đầy dẫy tham sân si, đầy những chụp mũ, tù tội,
đôi khi mất cả danh tiếng, danh dự, chịu nhục v.v…nhưng vẫn không sờn lòng,
nhẫn nhục đem tấm lòng từ bi, trí tuệ, hỷ xả, đem tinh thần vô úy đối trước bát
phong, để che chở cho chúng sanh trong những cơn giông bão, sóng gió của cuộc
đời trước những bóng tối vô minh, đúng như lời nguyện” Phụng sự chúng sanh
tức cúng dường chư Phật”. Từ hành xữ đúng, với chánh nghiệp, chánh kiến nầy,
thì năng lực của Hỷ Lạc tràn đầy làm lợi lạc mọi người.
Trước
những xáo trộn, bất an trên thế giới, tiếng nói Phật giáo là tiếng nói từ bi,
hoà bình, trí tuệ đến từ những con người tỉnh thức, do tu tập, do chuyển hoá và
nhận thức nổi khổ đau của đồng loại, nên sẳn sàng dấn thân vì cuộc đời. Trong
Đạo Phật không có hận thù, tranh chấp, gây bất an cho con người, gây khổ đau cho
tha nhân, trong khi con người đã đang chịu quá nhiều đau khổ dưới biết bao nhiêu
là áp lực của bản thân, môi trường, đời sống. Đạo Phật là tiếng nói luôn sát
cánh với bất cứ tôn giáo nào, bằng trực tâm, bằng chia xẻ và chưa bao giờ muốn
là độc tôn, thần thánh hoá tôn giáo của mình là duy nhất, vì ý thức rằng mỗi tôn
giáo đều có những đóng góp cho đời sống tâm linh của con người tùy theo địa
phương, trình độ dân trí, chủng tộc. Cho nên, Đạo Phật khắp nơi trên thế giới
đang được phổ biến, lan rộng, vì mọi người đều cảm thấy sự an ổn, hạnh phục khi
tiếp xúc được suối nguồn tâm linh nầy.
Riêng
tại Việt nam, vì hoàn cảnh nghiệt ngã của đất nước, vì chiến tranh lan rộng
trong thế kỷ vừa qua, cướp đi bao nhiêu là sinh mạng, tài nguyên bị sụp đổ, nhà
cửa tan nát, bao thế hệ thanh niên bị đẩy ra chiến trường để phục vụ cho ý thức
hệ ngoại nhập. Đạo Phật trong thời gian đó cũng chung số phận như lịch sử hơn
hai ngàn năm gắn liền với dân tộc, khi dân tộc bị hoạn nạn, điêu linh, phân hoá
thì Đạo Phật cũng bị thăng trầm, suy vi. Các vị tu sĩ Phật giáo bị đẩy vào hoàn
cảnh bất đắc dĩ, dù không biết làm chính trị, nhưng cũng lấy thân mạng, thân tâm
ra gánh vác trách nhiệm chuyển hoá khổ đau, làm lợi ích sinh linh..
Vào
cuối thập niên 1960, do nhiều nguyên nhân đã đưa đến sự phân hoá Phật giáo, do
thế quyền, do thần quyền, do ngoại quốc và do lòng người bất an….muốn chia rẽ
sức mạnh tâm linh của Phật giáo v,v,,, nên đã làm đau lòng cho biết bao nhiêu
người con Phật và những người đang cần cầu tấm lòng từ bi, giải thoát, hoá giải
của Đạo Phật. Người Phật tử đã không theo bên nầy hay bên kia, khối nầy hay khối
nọ, hay chống đối, gây thêm chia rẽ, vì biết rằng nổi đau của dân tộc, nổi nhục
nhằn, bi thảm của quê hương đã làm cho các vị Truởng Thượng, các vị Thầy bất
đồng ý kiến, nhưng tự thâm tâm các Ngài cũng muốn tìm cách nào để chấm dứt những
khổ đau của quê hương, vì trong thâm tâm các Ngài là lòng xót xa cho thân phận
con người. Chính trị không phải là sở trường của các Ngài, của những người tu sĩ
Phật giáo, vì chính trị đòi hỏi mưu lược, đôi khi đầy tham sân si, hỷ nộ ái ố và
đưa đến tham chấp; trong lúc các Ngài học theo hạnh Phật, luôn thường quán chiếu
tâm mình để loại bỏ ba độc tham sân si, chuyển hoá tâm mình, tâm con người, tâm
xã hội v.v…để đem lại hạnh phúc thực sự trên trần gian đầy biến động, mưu chước
nầy…Đó chính là chính trị, lý tưởng và nguyện lớn của các con người mang chiếc y
ngàn cánh, mang hạnh nhẫn nhục, vì sự khổ đau của chúng sinh.
Cho
nên, tất cả người con Phật đã đứng ngoài vòng tranh chấp, đứng độc lập, và
chuyển tâm để thực hành giáo Pháp để chuyển hoá những chia rẻ, vọng tưởng, bất
an của chính mình, tự trong nội tâm và từ đó, mong đem hạnh phúc đóng góp vào
con đường hoà bình, an vui của đất nước. Tấm lòng đó như những cơn sóng biển
dâng cao, của người con Phật, của các thanh niên “Nơi nào thiếu tình thương,
tôi đem tình thương đến. Nơi nào có hận thù, chia rẽ, tôi đem lòng bao dung,
đoàn kết chở che đến v.v…” ( Bất bạo động và hiện tình đất nước).
Nhưng,
bất hạnh đã tàn nhẩn chụp lên trên một dân tộc, đã làm sụp đổ tất cả bằng mất
mát, bằng nước mắt, bằng tù đày, bằng nghi kỵ …đã đưa làn sóng người tị nạn
chúng ta đã vượt tất cả mọi hiểm nguy dù phải trả giá bằng sanh mạng, bằng mọi
cách để ra nước ngoài và đem theo cả gia tài, văn hoá thương yêu, trong đó có
tâm linh Phật giáo.
Qua
những kinh nghiệm xương máu đó, bằng mồ hôi, bằng nuớc mắt, bằng sự gắng sức,
người Việt đã thành công và truởng thành nơi xứ người, có một danh vị, đóng góp
đáng kể cho con người và đất nước sở tại.. Đạo Phật do những con người nặng lòng
vì Đạo, vì muốn chuyển hoá đời sống tâm linh, sau những bi thương của cuộc đời,
sau những mưu sinh thuờng tình… cho nên, nhiều Chùa chiền đã thành hình, lớn
mạnh. Chúng ta đã đoàn kết, thống nhất và tiến đến tạo thành sức mạnh tâm linh,
an vui, giải thoát v.v..những mong chuyển hoá những bất an của xã hội, con người
nơi sở tại và thúc đẩy cho nền an vui, hạnh phúc của ngưòi Việt. Nhưng, lại một
lần nữa, giông bão đã đến, không tha, mong làm sụp đổ căn nhà Phật giáo đang có
nội lực tâm linh vững mạnh.
Kính
mong tất cả những người đang mang tâm hồn của người con Phật, dù ở bất cứ vị trí
nào, bất cứ ở nơi đâu, hãy quán chiếu lại mình, hãy nhìn lại lịch sử đau thương
đã từng xẫy ra cho đạo Phật. Chúng ta đều biết rằng đạo Phật không phải ở nơi
hay lệ thuộc vào bất cứ hình thức nào, danh xưng nào, bởi vì tất cả danh xưng,
tất cả hình thức nào cũng đều là pháp hũu vi, giả hợp, giai đoạn và vô thường.
Trong khi, Đạo Phật là Đạo giải thoát, là tánh Phật trong tâm tất cả mọi loài.
Biến cái đoản kỳ phủ lấp cái trường kỳ của tâm linh, sẽ làm tổn hại, làm đau cho
những người liên hệ, do bất đồng ý kiến, do danh vọng, quyền lợi v.v…Vì thế, dù
bất cứ thế lực vô minh nào cũng chỉ có thể làm gãy đổ hoặc làm xóa tan danh xưng,
tổ chức nầy nọ, nhưng không có bất cứ ai có thể làm tan biến Tánh Phật nơi con
người.
Từ
những tâm cảm của người con Phật, trước tinh hình Đạo và Đời bị rối ren, tôi
chợt đến Bài thơ đã viết về Ngôi Chùa Phật Giáo Việt Nam, được sáng tác
ngày 01.01.1999:
sừng sửng đó,
bao năm người có mặt
dù rêu xanh
phủ kín cả chân trời
ngàn vết hằn
lở loang trên thân thể
nhưng môi
Người vẫn nở nụ cười, vì quê Mẹ Việt Nam
Từ Lumbini, Ấn
độ
đến Việt nam,
hai vai mang tình tự
người không
đem những tư tưởng, giáo thuyết mới lạ
làm nhạt nhoà
văn hoá Việt Nam
nhưng cưu mang
cả một tấm lòng
lau sạch bụi
trần còn bám trên viên ngọc mani trong mỗi người dân Việt
không phải đến
để gieo rắc chiến tranh, thù hận, chia rẽ
làm trong mỗi
trái tim của giống nòi, đau xót, nhức nhối
và giữa anh em
cùng dòng giống Lạc Hồng
cùng ngôn ngữ,
nhưng nhìn nhau xa lạ
người đến với
trái tim nóng bỏng tinh nguời
đôi bàn tay
dịu dàng trìu mến như bà mẹ yêu con
vỗ về, săn sóc,
trao hạt giống từ bi trí tuệ
để bồi đắp
như cát phù sa
bồi đắp sông Hồng, sông Củu
làm xanh mướt
từng ruộng đồng, từng mảnh đất quê hương
đôi vai người
gồng lên
như núi Lỉnh.
núi Tản, Trường Sơn, Ngũ Hành, núi Sam
gánh vác, chịu
đựng, nhọc nhằn, che sương gió
để đàn con
Việt trưởng thành, lớn mạnh
lưng khòm
xuống, tay mở rộng
ấp ủ, sưởi ấm
từng tấc đất, bờ biển
trải dài theo
đường Nam tiến đến tận Mũi Cà Mau
người không
chỉ là Hùng Vương, Chữ Đồng Tử, Lý Phật Tử, Khuông Việt, Vạn hạnh, Lý
Công Uẩn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Phúc Chu v.v...
nhưng Người
còn là bà Mẹ đầy sinh lực trổ bông hoa Hỷ xả
đôi bầu sữa
ngọt vẫn căng tròn cho con no ấm
trong hưong
trầm giải thoát
đứng trước sự
nô lệ văn hoá, nguy cơ làm rã rời dân tộc
làm tiêu hũy
nhân tâm người việt
người nhìn
thẳng đương đầu, đối thoại bằng tam Pháp Ấn, Tứ Diêu đế
bằng tinh thần
bao dung, khai phóng của biển Trí tuệ Từ bi
hoá giải, hài
hòa làm phong phú cho nền văn hoá nước Viiệt
khi đất nước
điêu linh, lầm than, nô lệ ngoại xâm
người có mặt
đi đầu, hừng hực tình thương, lòng yêu nước
người là bạn
đồng hành, là con dân Việt
để bảo vệ mảnh
đất thân yêu trọn vẹn
Khi thái bình,
muôn dân an lạc
người trở về
ẩn dật, vẫn áo vải nâu sồng
vẫn chiếc dép
cũ năm xưa
thong dong tư
tại
tưong chao,
dưa muối, cơm đạm bạc
nên muôn đời,
người vẫn chỉ là
Phật Giáo của
Việt Nam……
Minh Thanh
Là người Phật
tử mang nặng ân của Đức Phật, nếu chúng ta tinh tấn rèn luyện tâm, tu học,
chuyển hoá và có nhiều an lạc và hạnh phúc, cần nên chia xẻ đến mọi người và đem
an lạc hoà bình cho tất cả cư dân trên trái đất nầy bằng tấm lòng kiên định như
vậy.
Tin
tưởng vào nhân quả “gieo nhân nào tức gặt quả đó” mà không ai có thể
tránh được, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Danh vọng, tiền tài, quyền uy, sắc đẹp v.v…
rồi sẽ biến hoại, vô thường, không một ai có thể giữ mãi, chỉ còn có nghiệp lành
hay nghiệp ác đi theo mình, khi lìa bỏ cuộc đời. Vì biết rằng “Người trí sợ
Nhân, chúng sanh sợ Quả”, cho nên, người con Phật luôn tâm niệm làm thiện và
tránh làm điều ác để đóng góp vào đời sống tâm linh của nhân loại, một giáo lý
tuy đơn giản, nhưng là tất cả bầu trời tâm siêu thoát, không chia rẽ, không hận
thù. Chúng ta giữ giới để kiểm soát thân tâm, có định để có an lạc, tự tại và có
huệ để nhận rõ những khổ đau của mình, của người để cùng chia xẻ. Chúng ta đem
đến cho con người, cho xã hội những tấm lòng rộng mở, an vui, bao dung, kiên
quyết, từ bi, hoà bình …mà chúng ta đạt được do sự tu tập, thực hành giáo Pháp,
nhìn rõ tham sân si, hoá giải những vọng nghiệp, ác nghiệp. Chúng ta chia xẻ,
chuyển hoá con người, xã hội theo đường hướng lục hoà của Phật giáo, bằng sự đối
thoại, hướng dẫn, chỉ rõ những sai lầm do quán tính, do nghiệp lực tác động ảnh
huỡng đến thân tâm, để cùng nhau làm người nhân bản, có an lạc, có hạnh phúc, có
hoà bình. Chúng ta không thể đối xữ với nhau - giữa người và người - bằng tâm
sân hận, thù oán, gây chia rẽ v.v…vì đó không phải là thái độ của người học và
thực hành giáo pháp của Đạo Phật. Chúng ta thường nguyện rằng” đem tất cả
công đức có được, làm được…hướng đến tất cả mọi người, mọi loài, để mình và
người đều trọn thành Phật đạo”, thì không thể nói rằng giữ giới hay lời
nguyện là một việc khác, còn những ai đụng chạm, không theo đúng đường lối,
không tuân phục v.v…thì chúng ta có quyền dùng bất cứ những gì có thể để truy
hại, hạ nhục... để thoả mãn ý muốn của ta .Đó là một thái độ vô cùng nghịch lý
và gây ác nghiệp cho chính bản thân chúng ta trước tiên và đánh mất cái tâm Hỷ
Lạc.
Kính
mong đừng ai vì tham quyền, vì riêng tư, vì tham vọng, vì muốn nổi lên như một
người lỗi lạc, vì muốn chi phối hết tất cả mọi người, vì sợ hãi, lo âu, tính
toán v.v..mà biến Phât giáo là sở hữu riêng và phục vụ cho chính mình, bất chấp
thủ đoạn, chụp mủ, đánh phá, cố công làm sụp đổ ngôi nhà Phật giáo của người
Việt nam và vui thích, mừng rỡ, dẫm chân lên trên những tấm lòng chân thành của
những con người vì Đạo Pháp, vì Dân tộc
Phật
Pháp thật đơn giản, nhưng mầu nhiệm như Kinh Pháp Cú số 183 ghi rằng:
Chớ làm điều ác
gắng làm các việc lành
giũ tâm ý trong sạch
đó
là lời Phật dạy
Thành
kính nguyện với tất cả tâm thành, mong lắm thay!
Cẩn
chí,
Viết
xong ngày 18.02.2008
|