|
BÁT KỈNH PHÁP
TT.Thích Minh Thông
Một
trong những vai trò phục hưng xã hội và cách mạng văn hóa
của Đức Phật, điều mà đôi khi bị các sử gia lãng quên, đó là
giải phóng phụ nữ. Đức Phật phát huy một cuộc cách mạng
trong tư tưởng và trong lối cảm xúc của đại chúng bằng cách
công khai và can đảm tuyên bố rằng người nữ có thể đạt đến
mức tiến bộ tuyệt đỉnh, thành tựu trí tuệ thâm sâu dẫn tới
Niết bàn. Tuyên ngôn này đã gây một biến động lớn lao trong
giới tôn giáo thời bấy giờ vì đó là trực tiếp đương đầu với
niềm tin đã ăn sâu vững chắc
trong dân gian. Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo
hội Tỳ kheo ni (*), nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng
nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử
tôn giáo cũng như các trường phái tư tưởng được biết trước
và ngay thời Đức Phật. Đây là một sự canh tân mới lạ phi
thường vì nó chấp nhận cho hàng phụ nữ đặc quyền tiếp thụ
một bản chất cao quý, một sức mạnh kiên cố vững chắc trong
nền đạo lý, một khả năng thấm nhuần trí tuệ thâm sâu ngang
hàng với nam giới. Và hơn 25 thế kỷ đã trôi qua, mặc dù
nhiều hệ thống tôn giáo khác đã phát triển cực thịnh, nhưng
vẫn chưa thấy có thêm một tôn giáo nào thành lập một giáo
hội cho hàng nữ tu sĩ. Cho nên có thể nói rằng hàng phụ nữ
trên thế giới vẫn chịu một món nợ trường cửu đối với Đức
Phật vì Ngài đã nâng cao họ từ địa vị thấp kém và nhục nhã
nhất trong xã hội lên hàng danh dự này.
Thế
nhưng, cũng chính sự việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni mà
người nữ xuất gia giữa thời đại tiến bộ hiện nay lại miễn
cưỡng trong niềm hạnh phúc lớn lao đó, vì họ ngờ vực Đức
Phật chưa thực sự triệt để trong việc nâng cao vị trí của họ
ngang hàng danh dự với nam giới, đã chế ra tám điều cần phải
cung kính. Tám điều kiện ấy có thực sự quan trọng làm tăng
ích cho giáo hội Tỳ kheo ni tồn tại hay chỉ có tính khả thi
trong hoàn cảnh xã hội đương thời?
Tưởng
cần nhắc lại sự việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni và nguyên
nhân Đức Phật chế ra tám điều kiện cần phải cung kỉnh. Sau
khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) băng hà, bà Mahà Pajàpati
Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề - Kiều Đàm Di) nhàm chán sự giả
tạm của kiếp phù du, quyết định trở về nương tựa đời sống
xuất gia giải thoát. Một lần, khi Đức Phật về lại kinh thành
Kapilavattu (Ca Tỳ La Vệ) để giảng hòa một cuộc tranh chấp
dữ dội giữa hai dân tộc Sakyan và Koliyan, đang giành quyền
sử dụng nước của dòng sông Rohini. Sau khi cuộc cãi vã cay
đắng đã được dàn xếp ổn thỏa và hai bên dịu giọng, như
thường lệ, Đức Thế Tôn mở lời thuyết giảng giáo pháp, và sau
thời pháp đó một số đông người trai trẻ Sakyan xin gia nhập
vào giáo hội chư Tỳ kheo. Các bà vợ của những vị ấy, do bà
Mahà Pajàpati Gotami hướng dẫn đến chỗ Đức Phật khẩn khoản
xin được xuất gia: “Bạch Đức Thế Tôn, thật là một đại hạnh
cho nữ giới nếu hàng phụ nữ chúng con được chấp nhận gia
nhập vào Tăng đoàn để khép mình trong khuôn khổ của giáo
pháp và giới luật mà Ngài công bố”. Đức Phật
không sẵn sàng khích lệ thỉnh nguyện của bà Gotami và
trả lời: “Đủ rồi, này Gotami, Như Lai không thể làm vừa lòng
bà và chấp nhận như vậy”. Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, bà
Gotami lặp lại lời thỉnh cầu, nhưng mỗi lần đều bị từ chối.
Sau đó Đức Thế Tôn lần hồi sang thành Vesali (Phệ Xá Ly) và
ngự trong một đền thờ trên đỉnh núi. Bà Gotami vẫn không nao
núng ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền
gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu nghịch cảnh, quyết
định theo chân Đức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số đông
mệnh phụ phu nhân có niềm tin nơi bà (có nơi nói cùng với
500 người nữ giòng họ Xá Di). Cắt bỏ chùm tóc đẹp thuở nào,
vứt bỏ nữ trang lộng lẫy, tự khoác lên mình tấm y thô thiển,
các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải qua đoạn đường dài 150
dặm đến Vesali, mình mẩy lấm lem bụi bặm, y phục rách rưới
tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức. Thế mà, ba lần kiên nhẫn
nhờ thầy thị giả A Nan tha thiết trình bày nguyện vọng, Đức
Phật vẫn một mực chối từ. Song, dưới sự nài nỉ nồng nhiệt
của Tôn giả A Nan, sự tinh tế chọn điểm tế nhị là vấn đề
biết ơn đối với Di mẫu Gotami và đặc biệt là gợi mở khả năng
của người nữ có thể chứng nhập bốn quả Thánh nên Đức Phật đã
thuận lòng. Tuy nhiên, với trí tuệ nhìn xa và hiểu rộng, Đức
Thế Tôn có thể thấy những hiểm họa và những khuyết điểm
không thể tránh trong việc điều hành song song hai giáo hội
Tăng già cùng một lúc. Do đó, Ngài ban hành tám điều qui
định cho giáo hội Tỳ kheo ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương
lai cho cả hai giáo hội.
1 Một
Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ khi gặp thầy Tỳ kheo mới thọ
giới Cụ túc cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả
những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo.
2- Một
Tỳ kheo ni không được khiển trách hay nặng lời đối với một
vị Tỳ kheo trong bất kỳ trường hợp nào.
3- Tỳ
kheo ni không được ngăn Tỳ kheo xét tội, thuyết giới, tự tứ
hay nói lỗi của Tỳ kheo. Trái lại, Tỳ kheo được quyền cử tội
Tỳ kheo ni.
4- Muốn
thọ trì Cụ túc giới phải thông qua hai bộ Tăng: Tỳ kheo ni
và Tỳ kheo
5- Nếu
Tỳ kheo ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) thì phải đến trước hai
bộ Tăng thực hành pháp Ý hỷ (Ma na đỏa) trong thời gian nửa
tháng.
6- Nửa
tháng phải đến bên Tỳ kheo tăng cần cầu dạy bảo.
7-
Không được an cư kiết hạ ở địa
phương nào không có Tỳ kheo ở.
8- Khi
an cư xong, phải đến Tỳ kheo tăng
cầu ba sự tự tứ: thấy, nghe và nghi.
Tôn giả
A Nan trao truyền lại tám điều giới pháp ấy cho bà Mahà
Pajàpati Gotami. Bà vui mừng khôn xiết, hoan hỷ lãnh thọ và
nguyện kính giữ trọn đời không vi phạm. Sau khi giáo hội Tỳ
kheo ni thành lập dưới sự lãnh đạo của bà Gotami - Đại Ái
Đạo, từ các nẻo đường cuộc sống, mọi tầng lớp trong xã hội
đến gia nhập vào giáo hội và công trình nỗ lực tiến tới mục
tiêu giải thoát hoàn toàn của các bà đã để lại trong văn học
Phật giáo những trang vẻ vang chói lọi bằng khúc ca khải
hoàn, Therigàthà (những Thánh thi của chư Tỳ kheo ni).
Không
còn nghi ngờ gì nữa về sự ra đời và tồn tại đến nay của giáo
hội Tỳ kheo ni khắp nơi trên thế giới. Chúng ta thấy được
tuệ giác gì nơi Đức Phật khi năm lần bảy lượt Ngài mới tán
thành việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni và đặt chế tám điều
kiện trước khi cho ra đời thêm một giáo hội nữa? Sự kiện Đức
Phật thông hiểu tiềm năng sâu ẩn và khả năng hoàn mãn những
thành tựu vĩ đại và cao thâm của hàng phụ nữ không làm cho
Ngài mù quáng không thấy những khuyết điểm về kết cấu tâm
sinh lý của người nữ. Khuynh hướng nhẹ dạ yếu mềm của người
nữ dễ dàng rơi vào tội lỗi, dễ bị khuyến dụ đi trên con
đường kém đạo Đức. Chính điểm đặc thù ấy là một trở ngại lớn
lao cho phẩm hạnh cốt yếu của người sống độc thân, vốn dĩ
rất cần thiết cho sự điều hành suôn sẻ của một cộng đồng. Đó
là thiên tánh. Đức Phật vạch rõ yếu kém và khuyết điểm của
hàng phụ nữ không phải để chế nhạo hay cười khinh, mà Ngài
nhắm đến mục tiêu cao quý là giúp họ nhận định những khó
khăn gây trở ngại cho những nỗ lực thành tựu mục tiêu của
mình và khuyến khích họ thận trọng canh phòng các cuộc tấn
công của những khát vọng, các cuộc đột kích của những cám dỗ.
Đức Phật không vì sự trở ngại đó mà không tạo điều kiện cho
họ vượt lên ngang hàng với vị trí mà nam giới có thể tới,
chứng đắc quả giải thoát. Song, thái độ do dự trước khi chấp
nhận người nữ vào giáo pháp là hồi chuông cảnh báo con đường
tiến bộ của họ đầy dẫy sự hiểm nguy và ảnh hưởng đến sự tồn
vinh Phật pháp.
Rõ ràng
trong thiên tánh người nữ đã không thể so sánh với người nam,
mặc dù dù khả năng tiến bộ và thành tựu mục tiêu Niết bàn có
ngang nhau. Nhưng làm sao để người nữ luôn khắc ghi sâu vào
lòng bài học tự mình uốn nắn tâm tánh, diệt trừ bản ngã mãnh
liệt để thành đạt mục tiêu tối hậu là một công trình vĩ đại,
là thành trì phải được bảo vệ kiên cố hơn người nam tiến tu
gấp nhiều lần. Làm sao để người nữ xuất gia luôn thấy rằng
việc thành lập cho giáo hội Tỳ kheo ni sở dĩ thành tựu là từ
sự có mặt vững chãi trước đó khoảng 20 năm của giáo hội Tỳ
kheo (Căn bản tạp sự - Q.37, Kinh Trường A Hàm) làm điểm tựa.
Làm thế nào để Tỳ kheo ni hiểu rằng sự thành lập giáo hội
của họ từ giai đoạn sơ khai đã mang theo với nó một vài yếu
tố hiểm nguy, và nếu không có những phương sách dự phòng,
trong tương lai có thể xảy ra những bất trắc khó lường. Vì
thế, Đức Phật ban hành ra tám điều giới hay tám điều kiện
bảo vệ. Chính tám điều giới này tạo điều kiện để điều hành
tốt đẹp hai cơ quan trong tinh thần trang nghiêm và thích
đáng với bản tánh tự nhiên. Nó giữ chư Ni trong vị trí thích
hợp với tâm tánh người nữ. Cũng chính tám điều giới này đã
hỗ trợ trạng thái điều hòa và thuận thảo, đem lại tình giao
hảo thích nghi giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni.
Người
nữ học giới ngày nay lẽ nào không thấy được giá trị thiết
thực tám điều giới làm khuôn phép tiến tu và điều kiện cần
thiết cho sự tồn tại giáo hội Tỳ kheo ni mà lại không muốn
tuân thủ, cho là lỗi thời? Lẽ nào Tỳ kheo tăng ngày nay
không đáng cung kính? Tăng thì luôn luôn thanh tịnh và hòa
hợp, vì Tăng là chỉ số gồm có 4 vị Tỳ kheo trở lên. Nếu cho
rằng Tăng không đáng cung kính vì thiếu sự thanh tịnh và hòa
hợp, giáo giới Ni chúng sẽ không hợp căn cơ, không làm cho
Ni chúng vui thích mà không cầu giáo thọ hay không đến Đại
Tăng cầu thọ cụ túc giới thì nhất định không tồn tại tánh Tỳ
kheo ni. Có thể vì một vài cá nhân Tỳ kheo nào đó bê bối
không đủ phạm hạnh khiến chư Ni bất nhẫn không muốn cung
kính, nhưng đừng vì thế mà quên rằng việc cầu giáo thọ hay
cầu thọ đại giới là cầu với Tăng chứ không phải cầu với cá
nhân. Song, cho dù cá nhân vị Tỳ kheo đó có như thế nào đi
nữa thì đó cũng thuộc phạm vi của giáo hội chư Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni phải luôn nhớ trong tám điều không thể vượt qua đó
đã ghi rõ không được khiển trách hay nặng lời đối với Tỳ
kheo, không được chê bai nói rằng: Thầy phá giới, phá kiến,
phá oai nghi (Luật Tứ Phần, Ngũ Phần, Ma Ha Tăng Kỳ - Q.3).
Đủ thấy, tám điều giới pháp là linh hồn của giáo hội Tỳ kheo
ni không thể không bảo trọng, như trong Luật Tứ Phần - Tỳ
kheo ni ghi : “Như vậy đó A Nan!
Ta nay đã nói tám kỉnh pháp suốt đời tôn trọng không được
trái phạm, nếu người nữ nào thực hành được thì tức là được
thọ giới. Cũng ví như có người muốn qua dòng nước lớn, phải
bắc cầu mà đi qua”. Chiếc cầu lợi ích qua dòng sông sanh tử
đó ai muốn bỏ vì thấy ràng buộc thì tùy. Nhưng hãy nên nhớ
một điều nếu không có tám pháp cung kính đó thì chắc chắn
không có giáo hội Tỳ kheo ni hình thành và cũng không có ai
là thật tánh Tỳ kheo ni.
Vấn đề
sự xuất hiện Tỳ kheo ni đã làm chánh pháp mất đi một nửa có
liên quan gì đến Bát kỉnh pháp? Chúng ta có thể lý giải điều
này là do sự song hành vận động của hai giáo hội là điều
kiện thuận lợi cho hai hệ phái vốn còn mang nhiễm tính “cọ
xát”. Sự qua lại thuận tiện gần như “hợp thức hóa” giữa Tăng
và Ni, tính yếu mếm cần được chở che của Tỳ kheo ni, sự phô
trương đức tính tùng bách hiên ngang nâng đỡ của hàng Tỳ
kheo đã là nội dung chính yếu cho ngọn lửa ái nhiễm bốc cháy.
Tất nhiên chánh pháp có đổi sang tượng pháp là do người tu
chứng ngộ ít dần chứ không thể đổ thừa do sự xuất hiện của
Tỳ kheo ni.
Nhưng
xét kỹ nguyên nhân không chứng nhập Niết bàn là hành giả
không phát huy được định tuệ. Định tuệ có từ giới. Khả năng
hư hại giới pháp của các thầy Tỳ kheo không gì khác hơn là
nữ sắc, mà trong đó Tỳ kheo ni là khả năng nhiều nhất. Vì
thế, Bát kỉnh pháp đối với Tỳ kheo ni là điều nhất định
không thể vượt qua, để duy trì một nửa chánh pháp còn lại,
để giữ gìn sự thanh khiết và thánh thiện giữa hai giáo hội
hiện tại và tương lai.
Tóm lại,
có thể nói tám giới trọng yếu đó là nền tảng vững chắc làm
nền để xây dựng kiến trúc đồ sộ và công trình sinh hoạt chảy
trôi suôn sẻ của hai giáo hội.
(*)
Bây giờ gọi là Ni bộ, danh từ Giáo hội chỉ sử dụng chung cho
cả hai bộ.
(Báo
Giác Ngộ, số Xuân 2002)
TVHS

|