|
Phật Học Viện Quốc Tế Xuất Bản
QUÊ HƯƠNG CỰC LẠC
Việt Dịch: HT
Thích Thiền Tâm
Lời Nói Đầu
Đương thời giảm kiếp, trình độ đạo đức của nhân loại mỗi
ngày một kém, trái lại tội ác mỗi ngày một thêm.
Do sức nghiệp của đa số người chiêu cảm, nên khắp thế giới
nổi lên những hiện tượng: động đất, bão, lụt, núi lửa, nắng
hạn, thời tiết bất thường. So với mấy mươi năm về trước,
những chuyện chém giết trộm cướp, dâm loàn, lường gạt giữa
ngày nay, đã khiến cho người có lòng với thế đạo nhân tâm
phải bàng hoàng lo sợ! Kinh Phật nói: “Tất cả sự khổ vui đều
do tâm tạo”. Vậy muốn cải thiện con người, tạo hoàn cảnh
tốt, phải tìm sửa đổi từ chỗ phát nguyên. — đây, tôi muốn
nói là mọi người phải dứt trừ tâm niệm xấu ác, ví như muốn
được dòng nước trong, đừng để cho nguồn vẩn đục.
Trong khi xem bộ Tư Quy Tập, tôi thấy nó có lợi ích cho sự
hướng thiện, đường giải thoát của người đời, nên ngoài giờ
niệm Phật, lần lượt phiên dịch thành ra quyển Hương Quê Cực
Lạc này. Trong đây tuy sự khuyến hóa không ngoài làm lành,
niệm Phật, song đó lại chính là phương tiện khéo đưa mọi
người đi sâu vào thật hạnh, âm thầm hoán cải từ người đến
cảnh một cách mầu nhiệm. Vì đối với người thâm hiểu Phật
pháp, thì toàn sự là lý, sự trì tức là lý trì. Trái lại, nếu
chỉ chuộng lý thuyết không quan tâm đến thật hành, đó chỉ là
lý thuyết suông, không đem lại kết qủa.
Thuở xưa, có một vị sư đi thuyết pháp nơi nào cũng chỉ nói
về quy y Tam Bảo. Có người hỏi sao không giảng pháp chi
khác. Sư đáp: “Thử nghĩ có pháp nào ngoài phạm vi Tam Bảo
không?”. — nước ta, sự tu hành phổ thông của hàng Phật tử
xuất gia và tại gia tóm lại cũng không ngoài: giữ quy giới,
biết nhân qủa, làm lành, niệm Phật. Cho đến nhiều bậc học
Phật uyên thâm, kết cuộc cũng đi về điểm ấy. Vậy một câu
Niệm Phật, nếu chuyên, thiết tưởng không phải là thiếu. Xem
quyển này, chư vị sẽ được lãnh thọ lời vàng của Phật Tổ, chỗ
kinh nghiệm về tu trì của các bậc thiện tri thức, không khác
nào có thầy hay bạn tốt. Nếu thật hành y theo lời dạy trong
đây, sẽ được ba điều lợi ích lớn:
1. Nhờ sức Phật hộ trì, sức công đức của câu Niệm Phật, sức
tâm niệm lành của mình, riêng hành nhơn sẽ được tiêu tội
chướng, thêm phước huệ, giảm trừ những nguy hiểm tai nạn
trong thời mạt kiếp.
2. Cũng do ba năng lực trên, cảnh huống khổ đau chung của
nhân loại có thể giảm bớt, nếu nhiều người biết ăn chay niệm
Phật. Cho nên tuy tu Tây phương tịnh độ, mà thật ra đồng
thời đã tu nhơn gian tịnh độ ở ngay cõi đời này.
3. Chuyên niệm Phật, hành nhơn sẽ được sanh về Cực Lạc,
thoát hẳn ra nỗi khổ luân hồi, hưởng sự an vui vô cùng vô
tận, lần lượt sẽ chứng đạo qủa, độ chúng sanh. Vậy đây là
phương pháp lợi mình lợi người một cách viên mãn chắc chắn.
Quyển này, theo bản Hán Văn, đã được tăng bổ, in ra nhiều
lần. Cho nên phần tựa do ngài „n Quang làm năm Dân Quốc thứ
28 (1938), mà đọan sau lại có thêm lời dạy, tiểu sử của Ngài
(tịch năm 1940) và Hoằng Nhất Đại Sư (tịch năm 1942). Vậy
xin độc giả, thể hội, đừng lấy làm nghi.
Dịch ra quyển này, tôi cảm vì cõi đời khổ nặng, chánh giáo
suy vi, nghĩ mình tội chướng chi mà sanh nhằm mạt thế, duyên
phước gì mà nghe được pháp âm, nên không nỡ thọ phần lợi ích
riêng, tùy sức tùy phần tuyên dương đạo giải thoát ra để tỏ
lòng báo đáp bốn ân, lợi vui đồng loại trong muôn một thế
thôi.
“Đã từng trôi nổi riêng thương khách Muốn nhủ đồng nhơn lại
cố hương!”
Xin mượn hai câu thơ trên để bày tỏ tâm sự tôi vậỵ
Mùa an cư năm Căn Tý (1960)
Dịch giả: Liên Du kính ghi
Tựa
Pháp môn Tịnh Độ cao cả không cùng, rộng lớn như trời che
đất chở. Đây là Pháp môn tổng trì của chư Phật ba đời, là
đạo mầu đặc biệt trong một đời giáo hóa của đức Thích Ca.
Trên như bậc đẳng giác Bồ Tát, không thể vượt ra ngoài phạm
vi của môn này: Dưới dù kẻ phạm tội nghịch ác cũng được dự
phần tế độ.
Tuy nhiên, bởi pháp môn cao siêu như thế mà phần nhiếp cơ
lại qúa phổ cập, dùng sức ít mà thu thập kết qủa rất mau lẹ
lớn lao, nên những vị thông hiếu đôi chút về tông, giáo, đều
xem thường, cho là môn tu trì của kẻ ngu phu ngu phụ. Truy
nguyên, cũng do các vị ấy chưa hiểu rõ các chỗ lớn nhỏ, khó,
dễ của Phật lực và tự lực. Hai phương diện này, sự hơn kém
thật không thể dùng lời nói, văn từ hình dung cho hết được.
Vì sao?
Bởi tất cả pháp môn khác đều nương theo sức giới, định, huệ,
tu cho đến nghiệp sạch tình không, mới có thể thoát luân hồi
sanh tử. Nhưng địa vị nghiệp sạch tình không đâu phải là dễ
được?. Trong hai phần hoặc nghiệp, dứt được kiến hoặc khó
cũng như ngăn chận dòng nước đổ bốn mươi dậm, huống nữa là
tư hoặc ư? Dù cho bậc tỏ ngộ cao siêu, nếu chưa dứt sạch
phiền não, vẫn còn bị luân hồi. Và một khi đã thọ sanh thì
kẻ thối thất trong một muôn có đến mười ngàn, kẻ tiến bộ
trong ức người khó được ba bốn. Thế thì tự lực không đủ ỷ
lại, không chi vững vàng. Những kẻ khoe mình là trí, không
chịu thuận theo lòng từ thệ nhiếp thọ của Như Lai, thử nghĩ
có nên tụ phụ chăng?
Riêng về môn Tịnh Độ, nếu người có đủ tín nguyện chơn thiết,
dùng lòng chí thành niệm Phật như con thơ nhớ mẹ và hằng
ngày sự hành vi không trái với đạo đức, thì đến khi lâm
chung, sẽ được nhờ Phật tiếp dẫn sanh về Tây Phương. Dù
người ấy nghiệp hoặc hãy còn, nhưng khi đã vãng sanh thì chỗ
sở đắc cũng cao hơn bậc A La Hán tình không nghiệp sạch, vì
lẽ chủng tánh không đồng. Kẻ chưa dứt nghiệp hoặc còn như
thế, người đã hết nghiệp không đợi phải luận nhiều! „y bởi
do Phật lực, pháp lực và tâm lực của chúng sanh, đều không
thể nghĩ bàn: mà tâm lực lại nhờ năng lực của Phật và Pháp,
được hiển hiện một cách vẹn toàn. Cho nên chỉ ỷ lại vào tự
lực, sánh với nương nhờ Phật Lực, thật kém xa nhau hằng hà
sa số sự cách biệt của đất trời! Lại nên biết, đạo lý của
môn Tịnh Độ này không thể đem luận chung với các pháp môn
phổ thông khác, vì đây là pháp môn đặc biệt! Tôi thường có
đôi liễn:
Pháp môn cao cả, lợi khắp ba căn, nhân đây chín cõi đồng về,
mười phương khen ngợi.
Phật nguyện rộng sâu, không từ một vật, nên được ngàn kinh
đều chỉ, muôn luận tuyên bày.
Trong kinh Hoa Nghiêm về phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, tất cả
bậc pháp thân Đại Sĩ ở 41 vị (Thập trụ, thập hạnh, thập hồi
hướng, thập địa, đẳng giác) nơi Hoa Tạng thế giới hải, đều y
theo lời khuyên của đức Phổ Hiền Bồ Tát, dùng công đức mười
đại nguyện vương cầu sanh Tây Phương, để được viên mãn qủa
Phật. Các bậc đại sĩ mà còn như thế, kẻ phàm phu đầy nghiệp
lực, tự ỷ chút tài chí mọn, xem thường môn Tịnh độ, thử xét
mình có hơn các bậc Bồ Tát kia chăng? Hay là bởi mê loạn cầu
cao, để rồi muốn siêu trở thành đọa lạc, muốn khéo hóa ra
vụng về?
Những kinh sách hoằng dương Tịnh Độ xưa nay rất nhiều. Trong
ấy, đại sư Như Sầm tuyển ra những lời hay ý đẹp của Phật, Bồ
Tát, Tổ Sư và ngôn luận của các bậc chí thức cận đại, chép
thành quyển Hương Quê Cực Lạc (nhan đề dịch thoát của hai
chữ Tự Quy) này. Đại sư nhờ tôi làm lời tựa, tôi tự xét lúc
trẻ tuổi không gắng sức, đến nay già kém, tài năng chỉ đem
nghĩa lý mình đã tin hiểu trong 59 năm viết ra để lấp cho
rồi trách nhiệm. Nhân tiện, dâng tỏ chút ngu thành, nguyện
khắp đồng nhơn đều được sanh về Cực Lạc. Chỗ thật tâm của
thôi là thế, ngoài ra những bậc tài chí có bình luận chê
cười, tôi chưa từng nghĩ đến. Theo đây, xin có mấy lời ca
rằng:
“Khắp khuyên đồng phát nguyện lành, nguyện cầu vãng sanh.
Đất khách suối non hiểm nhiều, mặc ai luyến tình! Tự mình
không muốn về thôi, quyết về tất được. Đường quê có ai tranh
giành, gió mát trăng thanh!”
Những khách nhớ quê, xin cùng chú ý!
Đời Dân Quốc thứ 28, năm Kỷ
Mão, tiết Đông Chí.
Thích Ấn Quang cẩn soạn
***(Xem Tiếp)
|