|
Thích Ca Mâu Ni
Phật
(Thích ca Mâu Ni là tiếng
Phạn, dịch: Năng Nhân-Tịch-Mặc, Thích Ca là họ, Mâu Ni là
tên; Phật có nghĩa là: đấng giác ngộ, Đức Bổn Sư khi xưa là
Thái Tử Tất Đạt Đa, ở xứ Trung „n Độ, nước Ca Tỳ La Vệ, cha
là Vua Tịnh Phạn, mẹ là Ma Da Hoàng Hậu, Thái tử xuất gia
lúc 19 tuổi, đến 30 tuổi thành đạo, thuyết pháp 50 năm trụ
đời 80 tuổi. Đức Phật ra đời độ vô lượng chúng sanh, hiện
nay đạo pháp của Ngài được khắp giới Á, Âu tôn trọng).
Kinh Phật Thuyết A Di Đà nói:
“Từ đây thẳng về phương Tây, trải qua mười muôn ức cõi Phật,
có thế giới tên là Cực Lạc. Cõi ấy có đức Phật hiệu là A Di
Đà, hiện nay đương thuyết pháp. -- Tại sao cõi kia gọi là
Cực Lạc? Vì chúng sanh ở cõi ấy không có các sự khổ, chỉ
hưởng những điều vui, nên gọi là Cực Lạc. --
Đức Phật ấy vì sao hiệu là A
Di Đà? Bởi ánh sáng của đức Phật này không lường, soi khắp
mười phương quốc độ, không chỗ nào chướng ngại, nên hiệu là
A Di Đà. Lại nữa, đức Phật kia cùng với nhân dân của ngài
sống lâu đến không lường, không ngằn A Tăng Kỳ kiếp, nên gọi
là A Di Đà. --Chúng sanh, sanh về cõi Cực Lạc, đều là bậc A
bệ bạt trí, trong ấy hàng nhứt sanh bổ xứ rất nhiều, không
thể dùng toán số tính biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng
vô biên A tăng kỳ để nói mà thôi. --Chúng sanh nào nghe kinh
này, nên phát nguyện sanh về nước kia.--Tại sao thế? Vì được
cùng các bậc người thượng thiện ở chung một chỗ.
Nếu có người thiện nam thiện
nữ nào nghe·
nói đến Phật A Di Đà, giữ niệm danh hiệu, hoặc một ngày, hai
ngày, ba ngày cho đến bảy ngày, một lòng không loạn, khi
người ấy mạng chung, Phật A Di Đà cùng các Thánh Chúng hiện
ở trước. Bấy giờ kẻ ấy lòng không điên đảo, liền được sanh
về cõi Cực Lạc.
Chúng sanh các ngươi! Nên
tin kinh “Xưng·
Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm”
này.
Kinh Đại Tập nói: Hành giả
ngồi ngay thẳng,·
chuyên tâm tưởng đức Phật A Di Đà, tướng đẹp như thế, oai
nghi như thế, đại chúng như thế, thuyết pháp như thế, tưởng
niệm như vậy, tâm tâm nối nhau, thứ lớp không loạn, sẽ thấy
được Đức Phật kia. Ví như trong đời có người nam hay nữ đi
xa ở xứ khác, trong giấc mơ thấy nhà cửa của mình. Lúc bấy
giờ thật ra người ấy chẳng biết là đêm hay ngày, là ngoài
hay trong, tường vách núi đá không thể che ngăn, cho đến sự
tối tăm mù mịt không làm chướng ngại. Hành giả mỗi niệm cứ
huân tu như thế, lâu ngày sự quán tưởng sẽ sáng suốt lanh lẹ,
kết qủa thấy được đức Phật Di Đà.
Kinh Thập Lục Quán nói: --Muốn
sanh về Cực·
Lạc, phải tu ba thứ phước:
1)Hiễu dưỡng cha mẹ, phụng
thờ Sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành.
2) Thọ trì tam quy, giữ trọn
các giới, đừng phạm oai nghi.
3) Phát lòng bồ đề, tin sâu
lý nhân qủa, đọc tụng kinh Đại thừa, khuyến tấn người tu
hành.
Ba điều trên đây gọi là tịnh
nghiệp.
Kinh Bảo Tích nói: -- Bấy
giờ Di Lặc Bồ Tát·
bạch Phật rằng: “Bạch đức thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói những
công đức lợi ích của Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc. Lại
bảo: Nếu có chúng sanh nào phát mười thứ tâm, một lòng
chuyên niệm hướng về Phật A Di Đà, khi người ấy mạng chung
sẽ được sanh về thế giới của đức Phật kia. Bạch đức Thế Tôn!
Thế nào là phát mười thứ tâm, và do tâm này sanh về Cực Lạc?”
--Phật bảo: “Này Di Lặc! Mười thứ tâm ấy không phải hạng
người phàm phu, bất thiện có thể phát được. Những gì là mười
tâm:
Đối với chúng sanh khởi lòng
đại từ không làm tổn hại.
Đối với chúng sanh khởi lòng
đại bi không làm bức não.
Với chánh pháp của Phật khởi
lòng hộ trì không tiếc thân mạng.
Với tất cả pháp lành sanh
lòng thắng nhẫn, không chấp trước.
Tâm an vui trong sạch, tôn
trọng, không tham lợi dưỡng, sự cung kính.
Tâm cầu chứng trí của Phật,
trong tất cả thời không xao lãng.
Đối với tất cả chúng sanh
hằng tôn trọng cung kính, không khinh rẻ là hèn thấp.
Không say đắm theo thế luận,
đối với phần bồ đề sanh lòng quyết định.
Tâm thanh tịnh tu các căn
lành, không hề tạp nhiễm.
Đối với các đức Như Lai, xả
lìa các tướng, lòng tùy niệm.
Di Lặc! Đó là mười thứ phát
tâm của Bồ Tát, do tâm nào sẽ được sanh về cõi Cực Lạc của
Phật A Di Đà. Di Lặc! Nếu có người nào trong mười tâm này,
tùy ý thành tựu được một tâm, ưa thích muốn về Cực Lạc,
quyết không lẽ nào không được vãng sanh.
Đạo Sư A Di Đà
Phật
(A Di Đà là tiếng Phạn,
dịch: Vô Lượng Thọ hoặc Vô Lượng Quang. Ngài là vị giáo chủ
ở thế giới Cực Lạc về phương Tây. Theo Kinh Cổ Âm Vương thì
đời qúa khứ có nước Diệu Hỉ, vị quốc vương là Kiều Thi Ca.
Bấy giờ có Phật Tự Tại Vương ra đời. Kiều Thi Ca xuất gia
đầu Phật, hiệu là Pháp Tạng. Lại Kinh Vô Lượng Thọ nói:
“Pháp Tạng Tỳ Khưu ở nơi Phật Thế Tự Tại Vương phát lòng bồ
đề, lại phát 48 lời nguyện, mỗi nguyện đều nói: “nếu không
được như thế, tôi thề không thành Phật”.
Những đại nguyện ấy đã thành tựu, và ngài Pháp Tạng đã
thành Phật tức là Đức A Di Đà ở nơi thế giới Cực Lạc hiện
nay).
*Theo kinh Vô Lương Thọ, 48
đại nguyện của Đức A Di Đà, có mấy điều thiết yếu sau đây:
Nguyện thứ 18 - Khi tôi thành
Phật, chúng sanh trong mười phương hết lòng tin ưa muốn sanh
về nước tôi, xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm, nếu không
được vãng sanh, tôi thề không thành chánh giác.
Nguyện thứ 19 - Khi tôi thành
Phật, chúng sanh trong mười phương phát lòng Bồ Đề, tu các
công đức, chí tâm phát nguyện cầu sanh về nước tôi, đến lúc
lâm chung, nếu tôi không cùng thánh chúng hiện ở trước người
ấy tiếp dẫn, tôi thề không thành chánh giác.
Nguyện thứ 21 - Khi tôi thành
Phật, hàng nhân thiên trong nước tôi thảy đều đủ 32 tướng
đại nhân, nếu chẳng được như thế, tôi thề không thành chánh
giác.
Nguyện thứ 27 - Khi tôi thành
Phật, từ hàng Nhân Thiên cho đến tất cả muôn vật trong nước
tôi, hình sắc đều tốt đẹp, nghiêm sạch sáng rỡ, vi diệu cùng
cực, không thể tính kể. Nếu những chúng sanh chứng được
thiên nhãn mà có thể biện thuyết rõ ràng được sanh số, tôi
thề không thành chánh giác.
Nguyện thứ 32 - Khi tôi thành
Phật, từ cõi đất lên đến hư không, những cung điện lầu quán,
ao nước cây hoa, tất cả vạn vật đều do vô lượng tạp bảo,
trăm ngàn thứ hương hoa hiệp tạo thành, nghiêm đẹp kỳ diệu,
hơn các thiên cung. Mùi hương trong nước tôi lan tỏa khắp
mười phương thế giới, các Bồ Tát tiếp xúc được hương ấy, đều
tu Phật hạnh. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không thành
chánh giác.
Nguyện thứ 39 - Khi tôi thành
Phật, hàng nhơn thiên trong nước tôi đều hưởng sự an vui như
bậc lậu tận tỳ khưu. Nếu chẳng được như thế, tôi thề không
thành chánh giác.
Quán Thế Âm Bồ Tát
(Trong Kinh Bi Hoa, về
kiếp qúa khứ, thuở đời Phật Bảo Tạng, khi đức A Di Đà còn
làm Luân Vương, thì Bồ Tát làm vị Thái tử thứ nhất của Ngài,
hiệu là Bất Thuấn. Lúc Thái tử đối trước đức Bảo Tạng phát
đại nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Quán Thế Âm.
Hiện tại, Bồ Tát ở cõi Cực Lạc phụ giúp Phật A Di Đà mà
hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau, Bồ Tát kế vị đức A
Di Đà mà thành Phật, hiệu là Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn
Vương Như Lai; thế giới Cực Lạc đổi tên lại là Nhất Thế Trân
Bảo Sở Thành Tựu. Về phần nhân hạnh qủa đức cùng sự ứng hóa
của Bồ Tát, trong kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, và Đại Bi có
nói đến)
Kinh Đại Bi Đà La·
Ni nói: “Nếu chuyên xưng danh hiệu và cúng dường đức Bổn Sư
ta là Phật A Di Đà, thì sẽ được vô lượng phước, tiêu trừ vô
lượng tội, khi mạng chung lại được vãng sanh về cõi Cực Lạc.
Bấy giờ đức Như Lai đưa tay tiếp dẫn và xoa đầu kẻ ấy mà bảo
rằng: “Người đừng sợ hãi, vì đã được sanh về nước ta”.
Kinh Quán Thế Âm Bồ·
Tát Thọ Ký nói: “Kẻ nào phát lòng vô thượng Bồ Đề, nguyện
sanh về Cực Lạc, đều được thấy cõi ấy, lại thấy Phật A Di Đà
cùng các hàng Bồ Tát và Thanh Văn. Người đó thấy như thế rồi,
vui mừng khấp khởi, xướng lên rằng: “Nam Mô A Di Đà Như Lai,
Ứng cúng, Chánh biến tri!” Bấy giờ trong pháp hội có 84.000
chúng sanh đều phát lòng bồ đề, nguyện trồng căn lành để
được vãng sanh về Cực Lạc.
Đại Thế Chí Bồ Tát
Trong Kinh Bi Hoa, về kiếp
qúa khứ, thuở đời đức Phật Bảo Tạng, khi đức A Di Đà còn làm
Luân Vương, thì Bồ Tát làm vị Thái tử thứ hai của Ngài, hiệu
là Ma Ni. Lúc Thái tử Ma Ni đối trước với đức Phật Bảo Tạng
phát thệ nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Đắc Đại
Thế, và thọ ký cho sau thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo
Sơn Vương. Hiện tại, Bồ Tát ở cõi Cực Lạc phụ giúp Phật A Di
Đà hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau Bồ Tát thành
Phật kế đức Quán Thế Âm, thế giới, thời kiếp và Phật sự cùng
Phật Công Đức Sơn Vương đồng. Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ
Tát nói pháp Môn niệm Phật thật rất là tinh khiết, người tu
tịnh nghiệp nên tuân theo).
Kinh Lăng Nghiêm·
nói: “Tôi nhớ hằng hà sa kiếp về trước, có mười hai đức Như
Lai nối nhau ra đời trong một kiếp, vị đầu tiên là Vô Lượng
Quang, vị Phật rốt sau hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang. Đức
Phật sau này dạy tôi pháp môn Niệm Phật tam muội. Ví như có
hai người, một kẻ chuyên nhớ, một kẻ chuyên quên, hai người
ấy dù gặp nhau cũng như không gặp, thấy cũng như không thấy.
Nếu hai người đều nhớ nhau, sức nhớ tưởng càng sâu, thì từ
đời này đến đời khác, hai kẻ ấy đồng như hình với bóng,
không xa rời nhau được. Các đức Như Lai trong mười phương
mẫn niệm chúng sanh cũng như mẹ nhớ con, nếu con cứ lẩn
tránh, dù mẹ có nhớ cũng không biết làm sao! Trái lại, nếu
con nhớ mẹ, cũng như mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời chẳng
cách xa nhau. Nếu tâm của chúng sanh hằng nhớ Phật, niệm
Phật, thì đời này, đời sau, quyết định sẽ thấy Phật, cách
Phật không xa, chẳng cần dùng phương tiện chi khác, tâm mình
được khai ngộ. Như người nhuộm các thứ hương, thân kẻ ấy có
mùi thơm đó là hương quang trang nghiêm. Chỗ bản nhân của
tôi là dùng tâm niệm Phật được chứng vào vô sanh nhẫn, nay ở
cõi này nhiếp thọ người niệm Phật đem về Tịnh độ. Nay Phật
hỏi về viên thông, tôi không lựa chọn, nhiếp cả sáu căn,
tịnh niệm nối luôn được tam ma địa, đây là bậc nhất.
Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát
(Văn Thù Sư Lợi có chỗ gọi
là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch là Diệu Đức hoặc Diệu Kiết Tường.
Theo Kinh Bi Hoa, Bồ Tát khi xưa là thái tử Vương Chúng, con
thứ ba của Luân Vương thời đức Phật Bảo Tạng. Khi Thái tử
phát hoằng thệ ở trước Phật rồi, liền được đổi tên là Văn
Thù Sư Lợi, và được thọ ký về sau thành Phật hiệu Phổ Hiện,
ở thế giới Thanh Tịnh Vô Cấu Bảo Chi về phương Nam. Lại kinh
Văn Thù Bát Niết Bàn nói: “Văn Thù Bồ Tát thị hiện sanh ở
nước Xá Vệ, làng Đa La, làm con của Phạm Đức Bà La Môn, Bồ
Tát từ hông bên mặt của mẹ sanh ra, thân sắt tử kim, biết
nói liền lúc ấy. Lớn lên theo Phật xuất gia.
Kinh Hoa Nghiêm·
nói: “Bấy giờ, ánh sáng chiếu qua ngàn thế giới, tất cả đức
Văn Thù ở các cõi đều đồng thời đối trước Phật nói kệ rằng:
“Trong tất cả oai nghi. Thường nhớ công đức Phật. Ngày đêm
không xen hở. Nghiệp như thế nên tu”.
Kinh Quán Phật Tam·
Muội Hải nói: “Sau khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát này bỏ túc nhân,
tự nói đã chứng được Niệm Phật Tam Muội, tất sanh về Tịnh Độ,
đức Thế Tôn thọ ký rằng: “Ông sẽ được sanh về cõi Cực Lạc”.
Bồ Tát liền đọc kệ phát nguyện:
“Tôi nguyện lúc mạng chung.
Trừ tất cả chướng ngại. Thấy Phật A Di Đà. Sanh về cõi Cực
Lạc. Khi đã về nơi ấy. Thành tựu các đại nguyện. A Di Đà Thế
Tôn. Thọ ký cho thành Phật”.
Trong Tịnh Độ Thánh·
Hiền Lục nói: “Đời Đường, Pháp Chiếu Đại sư nhờ đức Văn Thù
dùng thần lực nhiếp vào thánh cảnh ở non Ngũ Đài. Đại sư
đảnh lễ Bồ Tát và thưa thỉnh về yếu môn tu hành. Đức Văn Thù
bảo: “Nay ngươi nên niệm Phật, chính là lúc hợp thời, bởi
các môn tu hành không chi hơn niệm Phật. Siêng năng cúng
dường Tam Bảo, gồm tu phước huệ, hai điều này rất là cần yếu.
Đời qúa khứ ta nhân cúng dường, quán tưởng và niệm Phật mà
được Nhứt thế chủng trí. Cho nên tất cả pháp, pháp bát nhã
ba la mật, môn thiền định rất sâu, cho đến chư Phật, đều từ
nơi niệm Phật mà sanh. Thế nên biết niệm Phật là vua của các
pháp”. Ngài Pháp Chiếu hỏi: “Đệ tử phải niệm như thế nào?”
Bồ Tát bảo: — thế giới phương Tây có Phật A Di Đà. Nguyện
lực của đức Phật ấy không thể nghĩ bàn, ngươi nên tưởng niệm
chớ cho gián đoạn, khi mạng chung quyết định sẽ được vãng
sanh không còn thối chuyển”. Nói rồi, Bồ Tát đưa cánh tay
sắc vàng xoa đảnh ngài Pháp Chiếu và bảo rằng: “Do ngươi
niệm Phật, không bao lâu sẽ chứng qủa vô thượng bồ đề”. Đại
sư được thọ ký rồi, vui mừng đảnh lễ lui ra.
Phổ Hiền Bồ Tát
Theo kinh Bi Hoa, Bồ Tát khi
xưa là Thái Tử Vẫn Đồ, con thứ tám của Vua Luân Vương, thời
đức Phật Bảo Tạng. Sau Khi Thái tử đối trước Phật phát đại
nguyện, liền được đổi tên là Phổ Hiền và được thọ ký về sau
thành Phật hiệu là Trí Cang Hầu Tự Tại Tướng Vương ở thế
giới Trí Thủy Thiện Trụ Tịnh Công Đức nơi phương Bắc. Lại
theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát đã là vị tả phụ của Phật Tỳ Lô
Giá Na mà còn dùng mười đại nguyện vương khuyến dẫn hải
chúng Bồ tát trong cõi Hoa Tạng đồng về Cực Lạc. Chúng ta là
kẻ hạ phàm há chẳng phát nguyện làm theo ư?)
Kinh Hoa Nghiêm·
nói: “Khi Phổ Hiền Bồ Tát khen ngợi công đức thù thắng của
Như Lai rồi, liền bảo các Bồ Tát và ngài Thiện Tài rằng:
“Nếu muốn thành tựu công đức ấy, phải tu mười điều hạnh
nguyện rộng lớn.
Kính lễ chư Phật
Khen ngợi Như Lai
Rộng tu sự cúng dường
Sám hối nghiệp chướng
Tùy hỉ các công đức
Thỉnh Phật chuyển pháp
luân
Thỉnh Phật trụ ở đời
Thường theo Phật tu học
Hằng thuận các chúng sanh
Hồi hướng khắp tất cả.
Nếu có người nào dùng lòng
tin sâu, thọ trì đọc tụng đại nguyện này, cho đến biên chép
bốn câu kệ, sẽ được mau tiêu trừ tội ngũ gián. Khi người ấy
lâm chung, trong khoảng sát na rốt sau tất cả các căn thảy
đề tan hoại, chỉ có đại nguyện này không rời bỏ nhau, liền
được sanh về thế giới Cực Lạc”.
Kinh Như Lai Bất Tư·
Nghì Cảnh Giới nói: “Nếu có người vì cầu đạo vô thượng bồ đề,
ở trong một việc chuyên tâm tu tập, tất sẽ được thành tựu.
Ví như có người uống một bụm nước ở biển cả, tức là đã uống
tất cả nước sông trong cõi Diêm Phù Đề. Nếu Bồ Tát có thể tu
tập môn Niệm Phật bồ đề hải này, tức là đã tu tập tất cả tam
muội, các nhẫn, các địa, các đà la ni.
Mã Minh Bồ Tát
Theo bộ Truyền đăng lục, khi
Bồ Tát sanh ra, cảm động đến bầy ngựa đều bi thương kêu la.
Bồ tát lại khéo thuyết pháp, có thể khiến cho bầy ngựa nghe
rồi rơi lệ kêu thương. Sau khi đức Thích ca diệt độ 600 năm,
96 thứ ngoại đạo ở Tây Vực đều phục hưng, phá hủy Phật Pháp;
Bồ Tát bèn thị hiện sanh ở miền đông „n độ, nước Tang Kỳ Đa,
làm nhiều bộ luận hiểu chánh phá tà. Trong bộ luận Khởi Tín,
Bồ Tát khuyên người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Khi lâm
chung, ngài vào phép Long Phấn Tấn Tam Muội, đưa mình lên hư
không, tỏa ra ánh sáng rực rỡ như mặt trời, kế đó lại trở về
bản vị mà nhập niết bàn.
Luận Đại Thừa Khởi·
Tín nói: “Nên mạnh mẽ tinh tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái
chư Phật; thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng
về qủa bồ đề. Tu tập như thế không thôi nghỉ thì sẽ được
khỏi các chướng, căn lành thêm lớn”. Lại nói: “Như Lai có
thẳng phương tiện để nhiếp hộ kẻ tín tâm. „y là dùng nhân
duyên chuyên nhớ niệm Phật tùy nguyện cầu sanh về tịnh độ ở
phương khác, do được thường thấy Phật nên vĩnh viễn xa lìa
ác đạo. Như trong Tu Đa La nói: “Nếu người chuyên niệm Phật
A Di Đà ở phương Tây, đem những căn lành mình tu hồi hướng
về cõi kia, thì được vãng sanh. Do thường thấy Phật nên
không còn lo thối chuyển.
Long Thọ Bồ Tát
Nhân vì ngài sanh dưới cội
cây có rồng ở, lại đắc đạo ở Long Cung, nên gọi là Long Thọ
Bồ Tát dòng Phạm Chí, người xứ Nam Thiên Trúc, rộng hiểu các
môn học thế gian, mới xuất gia ba tháng đã thông suốt tam
tạng. Bấy giờ Long Vương rước ngài xuống Long Cung; trong
chín tuần ngài xem Long Tạng chưa đầy muôn một, liền ngộ vô
sanh nhẫn. Khi trở về nhân gian, Bồ Tát hoằng truyền Phật
Giáo, tạo ra bộ Bà Sa Luận, trong ấy có khuyên người niệm
Phật cầu sanh Tây phương. Sau ngài vào Nguyện Luân định mà
tịch. Trong kinh Lăng Già, đức Phật đã huyền ký: Sau xứ Nam
Thiên Trúc. Có Long Thọ tỳ khưu. Hay hiển nghĩa trung đạo.
Chứng Sơ Hoan Hỷ địa. Sanh về cõi Cực Lạc.
Luận Đại Trí Độ·
nói: “Niệm Phật Tam Muội có thể trừ các thứ phiền não và tội
đời trước. Lại nữa, niệm Phật Tam Muội có phước đức lớn hay
độ chúng sanh. Cho nên các Bồ Tát muốn độ sanh, nếu tu các
pháp tam muội khác, tất không bằng môn Niệm Phật Tam Muội,
vì môn này có phước đức lớn, mau diệt các tội. Phật là pháp
vương, Bồ Tát là pháp tướng, chỗ Bồ Tát tôn trọng duy có
Phật, Thế Tôn. Bồ Tát thường khéo tu nhân duyên niệm Phật,
nên thường gặp chư Phật, như kinh Bát Chu có nói: “Bồ Tát
vào tam muội này, liền hiện sanh về cõi Phật A Di Đà”.
Luận Bà Sa nói:·
“Đức A Di Đà có bản nguyện như thế này: “Nếu người xưng niệm
danh hiệu và quy y nơi ta, kẻ ấy quyết được qủa vô thượng Bồ
Đề”. Cho nên, phải thương nhớ niệm Phật. Lại dùng kệ khen
ngợi Phật rằng:
Trí huệ sáng vô lượng.
Thân như tòa kim sơn.
Con dùng thân, miệng ý,
Chắp tay cúi đầu lạy.
Chân Phật ngàn bức luân,
Sắc hoa sen mềm dịu,
Kẻ thấy đều vui mừng,
Cúi đầu lễ chân Phật.
Tướng bạch hào sáng đẹp,
Trong sạch như trăng thu,
Ánh tỏa khắp mặt vàng,
Nên con cúi đầu lạy,
Nếu người muốn thành Phật.
Tâm niệm A Di Đà,
Theo thời vì hiện thân,
Cho nên con quy mạng.
Người xưng niệm nơi Phật,
Sức công đức không lường,
Thì liền được vào định.
Cho nên con thường niệm.
Nếu người trồng căn lành,
Nghi thì hoa không nở,
Kẻ lòng tin trong sạch,
Hoa nở liền thấy Phật
Do nhân duyên phước này,
Tất được đức thắng diệu,
Nguyện các loài chúng sanh,
Cũng đều được như vậy.
Thiên Thân Bồ Tát
Bồ tát người xứ Thiên Trúc,
khi mới xuất gia học theo pháp Tiểu Thừa, hủy báng kinh điển
Đại Thừa. Sau ngài nhờ anh là Vô Trước nhiều phen chỉ dẫn,
mới hối ngộ sự lỗi lầm, muốn tự cắt lưỡi. Vô Trước bồ tát
bảo: “Xưa em dùng lưỡi hủy báng Đại Thừa, nay phải dùng lưỡi
mà tán dương pháp ấy để chuộc tội. Việc sửa lỗi hãy còn chưa
muộn, nếu cắt lưỡi đi, nào có ích gì?” Vâng lời anh, Ngài
Thiên Thân từ đó đem hết tâm tư, tạo ra hơn 100 bộ luận Đại
Thừa. Trong ấy có luận Vãng Sanh, phát huy rõ ràng sự trang
nghiêm lợi ích của cõi Tịnh độ. Người niệm Phật nên chú ý
đến luận này.
Vô Lượng Thọ Kinh·
Luận nói: “Nếu tu ngũ niệm môn thành tựu, kết qủa sẽ được
vãng sanh về Cực Lạc, thấy Phật A Di Đà. Ngũ niệm môn là gì?
Lễ bái môn
Tán thán môn
Phát nguyện môn
Quán sát môn
Hồi hướng môn.
Lễ bái là thế nào? „y là dùng
thân lễ Đức Phật A Di Đà, tỏ ý cung kính, cầu Phật nhiếp thọ.
Tán thán môn là thế nào? Đây
là dùng miệng khen ngợi sắc thân, danh nghĩa, ánh sáng, trí
huệ của Đức Như Lai kia, muốn tu hành như thật cho được
tương ưng.
Phát Nguyện môn? „y là một
lòng chuyên niệm vào nơi chánh định, nguyện sanh về Cực Lạc.
Quán sát là thế
nào? Đây là dùng chánh niệm quán sát công đức trang nghiêm
của cõi Cực Lạc, công đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, và
công đức trang nghiêm của chư Bồ Tát, và Thánh Chúng.
Hồi hướng là thế
nào? „y là tâm từ bi không bỏ những chúng sanh khổ não,
nguyện đem căn lành công đức của mình, hồi hướng cầu cho tất
cả loài hữu tình đều được sanh về Cực Lạc.
Giác
Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
Theo bộ Tây Phương
xác chỉ, Bồ tát tự bày tỏ túc nhân như sau: “Thuở trước, về
đời vua Minh Đế nhà Tấn, ta là một kẻ bần cùng. Tự thương
cảnh ngộ của mình, ta phát đại nguyện rằng: “Tôi vì túc
nghiệp nên chịu qủa báo nghèo khổ này. Từ đây tôi nguyện
niệm Phật tu hành, nếu không được thấy Phật A Di Đà và sanh
về Cực Lạc để thành tựu tất cả công đức, thì dù có phải tan
nát thân mạng này, tôi cũng không thôi bỏ”. Phát nguyện rồi,
trong bảy ngày đêm ta chuyên tinh tưởng niệm, liền được tâm
khai, thấy thân tướng Phật A Di Đà, đẹp đẽ sáng chói, đầy
khắp mười phương thế giới. Lúc ấy ta được Phật thọ ký cho,
và về său năm 75 tuổi ta thoát hóa, sanh về Cực Lạc. Nay vì
bản nguyện lợi sanh, ta trở lại cõi này, tùy phương hóa độ”.
Trong Bộ Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục có nói: “Từ·
năm Sùng Trinh thứ 16 đời nhà Minh, đến năm Thuận Trị thứ 4
đời nhà Thanh, Bồ Tát thường hay giáng thần nơi Ngô môn chỉ
dạy về pháp môn niệm Phật.
Trong bộ Tây
Phương xác chỉ, Bồ Tát dạy:·
“Tâm vốn không niệm, niệm do tưởng sanh, cái tưởng ấy giả
dối, khiến cho chúng sanh mãi chịu luân hồi. Nay các ngươi
nên biết một câu A Di Đà Phật đây, không từ nơi tưởng mà
sanh, chẳng do nơi niệm mà có, không dính mắc trong ngoài,
chẳng có tướng mạo chi. Hiểu rõ như thế thì trừ hết các vọng
tưởng, cùng với pháp thân của Phật cùng đồng không khác,
không thể phân biệt. Niệm như thế thì không phiền não trần
lao, không đứt đoạn, không bỏ cuộc, thế là nhứt tâm. Được
chỗ nhất tâm này, mới gọi là “giữ lấy danh hiệu” mới gọi là
“một lòng không loạn.”
*Nếu niệm Phật
không nhất tâm, phải quyết ý dứt những tư tưởng vẩn vơ, chậm
rãi mà niệm, làm sao cho tiếng hiệp với tâm, tâm hiệp cùng
tiếng. Cứ như thế niệm mãi, lâu lâu vọng tưởng sẽ lặng dừng,
tâm cảnh sẽ sáng tỏ chứng vào Niệm Phật tam muội. Kệ rằng:
Nói ít một câu
chuyện,
Niệm nhiều một
câu Phật.
Đánh được vọng
niệm chết,
Hứa pháp thân
ngươi sống.
Trước khi niệm
Phật, phải phát đại nguyện sanh về Cực Lạc, rồi sau chí
thành khẩn thiết xưng thánh hiệu đức A Di Đà. Khi niệm phải
khiến cho tiếng duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng, tâm và
tiếng nương nhau, giữ cho bền lâu đừng mất, thì sẽ được vào
Chánh ức niệm tam muội.
Đại để người tu
tịnh nghiệp, khi đi đứng·
nằm ngồi, đều phải hướng về phương Tây thì cơ cảm dễ thành,
căn cảnh dễ thuần thục. Trong thất chỉ cúng một tượng Phật,
một quyển kinh, một lư hương, còn bàn, ghế và giường mỗi thứ
chỉ một cái, không nên để nhiều vật khác. Ngoài sân cũng
phải quét dọn sạch sẽ, để cho khi đi kinh hành không bị trở
ngại. Điều cần yếu là làm sao cho tâm mình không vướng một
mảy trần, dứt bặt muôn điều lo nghĩ, rổng rang trong sáng,
không biết có thân, có đời, cũng không biết hành động của
mình hôm nay là việc tu hành. Được như thế thì cùng với đạo
ngày gần, với đời ngày xa, có thể xu hướng về tịnh nghiệp.
Phép tu tịnh độ
không ngoài hai chữ chuyên cần, chuyên thì không thêm một
việc chi khác, cần thì không bỏ phí phút giây. Lại phép trì
danh, cần mỗi chữ mỗi câu tâm và tiếng nương nhau, không xen
lẫn một mảy niệm đời, lâu ngày thành thục, quyết định được
sanh về Cực Lạc, ngồi tòa bảo liên, lên ngôi bất thối.
Bài Kệ Phát Nguyện
Của Đại Từ Bồ Tát
Phật mười
phương ba đời,
A Di Đà bậc
nhất,
Chín phẩm độ
chúng sanh,
Oai đức không
cùng cực
Nay con đại qui
y,
Sám hối tội ba
nghiệp
Có bao nhiêu
phước lành,
Hết lòng xin
hồi hướng.
Nguyện chúng
bạn đồng tu,
Cảm ứng theo thời hiện,
Khi lâm chung, cảnh Phật,
Hiện trước mắt rõ ràng
Kẻ thấy, nghe tinh tấn,
Đồng sanh về Cực Lạc,
Thấy Phật khỏi sanh tử,
Như Phật độ muôn loài.
Huệ Viễn Đại Sư
Đại sư họ Cổ, người xứ Nhạn
Môn, tinh học về thuyết Nho, Lão. Năm 21 tuổi, sư nghe ngài
Đạo An giảng kinh Bát Nhã, bỗng tỏ ngộ than rằng: “Các môn
học Nho, Lão, đều như lúa ép thôi!” Nhân đó bèn xuất gia,
thệ hoằng dương Phật Giáo. Ngài Huệ An từng khen: “Chánh
pháp truyền bá ở Trung Hoa, là do Huệ Viễn này chăng?” Sau
đại sư vào Lô Sơn, cảm rồng khai mạch nước, thần vận chuyển
cây để cất chùa Đồng Lâm. Ngài từng đào ao trồng sen, hợp
chúng lại ngày đêm sáu thời niệm Phật cầu sanh Tây phương,
nhân gọi là Liên xã, Đại sư ở trong non hơn 30 năm, vua vời
cũng không đi, từng ba lần trông thấy thánh tướng, song trầm
hậu không nói ra. Năm Nghĩa Hi thứ 12, Phật lại hiện, ngài
bèn ngồi ngay nhập diệt, thọ được 83 tuổi. Người sau tôn Đại
sư làm Sơ Tổ trong Liên Tông)
Đại sư nói: “Sao gọi là Niệm
Phật tam·
muội?” - „y là nhớ chuyên, tưởng lặng vậy. Nhớ chuyên thì
chí không chia, tưởng lặng thì khí thanh thần sáng. Khí
thanh thì trí giác soi khắp, thần sáng thì chiếu suốt chỗ
tối tăm. Hai điều này thầm hợp nhau, hội lại mà ứng dụng.
Các môn tam muội, danh mục rất nhiều, nhưng về phần công đức
cao, dễ tu tiến, thì niệm Phật là bậc nhất. Tại sao thế? -
Vì Như Lai là đấng đã chứng cùng cực lý huyền tịch, thể và
thần hiệp biến, ứng hóa không cùng. Cho nên kẻ tu môn định
này nương nhờ Phật lực, bỗng nhiên vọng giác tiêu tan, tức
nơi cảnh sở duyên mà lặng lẽ dường như gương sáng, gương
lòng sáng thì ánh linh giao chiếu, muôn tượng sanh bày.
Chừng ấy sự thấy nghe dung thông, không còn cuộc hạn trong
vòng tai mắt, linh thể một màu, tự nhiên trong sáng. Và khi
ấy tâm hợp lý huyền, vọng tình tan mất, chỗ tuyệt diệu trong
đời có chi hơn đây ư?
Rất mong các hiền giả tu theo
pháp này gắng chí hành trì, làm sao cho được khế ngộ, cảm
tất bóng dễ tàn, lo chưa đầy công đức, ngồi ngay ngắn trên
bồ đoàn, rửa sạch lòng nơi pháp tọa, ban ngày siêng năng,
ban đêm quên ngủ. Như thế mới mong sánh bước người trên, dắt
dìu kẻ dưới được.
Đàm Loan Đại Sư
Đại sư người xứ Nhạn Môn,
thuở nhỏ dạo chơi non Ngũ Đài, cảm điềm linh dị mà xuất gia.
Ngài ưa thuật trường sanh, từng theo Đào Ẩn Cư thọ mười
quyển Tiên Kinh. Sau gặp ngài Bồ Đề Lưu Chi, đại sư hỏi:
“Đạo Phật có thuật trường sanh chăng?” Ngài Lưu Chi trao cho
kinh Thập Lục Quán và bảo: “Đây là phép trường sanh của Phật
Giáo”. Đại sư cả mừng, liền đốt Tiên Kinh, chuyên tu tịnh
nghiệp, dù đau yếu cũng không tạm nghỉ. Ngụy chúa nghe danh
phong cho hiệu là Thần Loan. Khi lâm chung, đại sư kêu chúng
lại dạy rằng: “Biển trần lao khổ nhọc, không biết đâu là bến
nghỉ ngơi, cảnh địa ngục rất đáng kinh sợ, môn Tịnh độ cần
phải tu hành” Nói xong, bảo chúng cao tiếng niệm Phật hướng
về Tây cúi đầu mà tịch. Khi ấy mọi người đều nghe tiếng
thiên nhạc từ phía Tây trổi lên, giây lâu mới dứt.
Đại sư dạy: “Ngoài bổn
nguyện cầu sanh, lại·
cần phải phát lòng bồ đề, được vãng sanh cùng không, lấy đây
làm chỗ y cứ”.
Thế nào là “Thập niệm tương
tục”. - Đáp: Ví·
như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp rút gươm rượt theo
muốn giết, sợ hãi qúa chạy thẳng miết đến một con sông. Đến
đây người ấy thoáng nghĩ: “Nếu qua được sông này ta mới mong
bảo toàn thân mạng, nhưng bây giờ để y phục lội sang hay là
cởi bỏ? Nếu để y phục sợ e sông rộng vướng mắc lội không
thoát còn cởi bỏ thì không kịp vì giặc đuổi gần tới! Bấy giờ
người ấy chỉ có một niệm tìm phương tiện làm sao cho qua
được sông thôi, tuyệt không có ý nghĩ chi khác. Hành giả
niệm Phật lại cũng như thế, chỉ chuyên thiết niệm, không có
tạp tưởng, tâm tâm nối nhau cho đến mười niệm, gọi là “Thập
niệm tương tục”.
Người niệm Phật khi bình
thời nên ước hẹn·
với năm ba bạn đồng tu, đến lúc lâm chung nhắc nhở trợ niệm
lẫn nhau. Như thế sự vãng sanh mới có phần vững chắc.
***(Xem Tiếp)
|