|
Đại Chánh Tân Tu Đại
Tạng Kinh
Chư Tôn Bộ 4
Quyển 47 - Số 1966
Trang 120
Niệm Phật Kính
(Tấm
Gương soi của người Niệm Phật)
Tuyển tập: Đại Sư Đạo Cảnh và
Đại Sư Thiện Đạo
Tuyển dịch: Sa môn Thích Hồng
Nhơn
(ôû
ñaây chæ trích
ñoaïn, nguyeân taùc coøn nhieàu)
Khuyến Tấn Niệm Phật
Phật là Đại Sư của Tam giới, từ
phụ của bốn loài, người quy tín đó thì diệt tội hằng sa,
người xưng niệm đó thì được phước vô lượng. Phàm muốn niệm
Phật, cần phải khởi lòng tin, nếu người không tin thì không
thể thu hoạch được, cho nên trong Kinh nói: Lòng tin là bước
đầu vào đạo, những hàng trí giả dùng phương chước mầu nhiệm
cứu kính, trước hết cũng phải dùng lòng tin rồi sau đó mới
vâng làm. Nên Kinh A Di Đà nói: "Nếu có người tin cần phải
phát nguyện sanh về quốc độ kia." Đây là lời khuyên tin của
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Trong Kinh ấy cũng nói: "Các ông
cần phải tin đây là lời khen ngợi công đức không thể nghĩ
bàn của Chư Phật trong sáu phương đều khuyên tin". Trong
Kinh Pháp Hoa cũng nói: "Tùy thuận theo Kinh, năng dùng lòng
tin mà được vào". Luận Thập Trụ nói: "Nếu người gieo căn
lành có lòng nghi thì hoa không nở, lòng tin thanh tịnh thì
hoa liền nở liền được thấy Phật". Thật vậy, người không có
lòng tin như bánh xe không có chốt không thể đi xa. Người có
lòng tin thì lời nói có lý đúng, lý đúng là đạo thành. Triệu
Pháp Sư dạy: Người không có lòng tin không thể truyền. Đại
Hạnh Hòa Thượng nói: "Pháp môn niệm Phật không hỏi đạo, tục,
nam, nữ, sang, hèn, giàu, nghèo chỉ có đủ lòng tin là có thể
vào đạo."
Hỏi:
Đã nói về lòng tin, vậy xin hỏi phải tin pháp gì?
Đáp:
Người có lòng tin, y theo Kinh nói: Tin niệm Phật được sanh
Tịnh Độ, tin niệm Phật chắc được diệt tội, tin niệm Phật
chắc được Phật chứng, tin niệm Phật chắc được Phật gia hộ,
tin niệm Phật đến khi lâm chung Phật tự đến rước. Tin niệm
Phật bất cứ ai có lòng tin đều được vãng sanh, tin niệm Phật
vãng sanh Tịnh Độ chắc được 32 tướng tốt, tin niệm Phật vãng
sanh Tịnh Độ chắc được ở vị bất thối, tin niệm Phật vãng
sanh Tịnh Độ chắc được vui vẻ trang nghiêm, tin niệm Phật
vãng sanh Tịnh Độ chắc được sống lâu vô lượng, tin niệm Phật
sanh Tịnh Độ cùng các Bồ Tát là bạn lữ, tin sanh về Tịnh Độ
liền không rời Phật, tin sanh về Tịnh Độ hoa đài hóa sanh,
tin Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp, tin sanh về Tịnh Độ
không đọa tam đồ. Sở dĩ dạy Niệm Phật, vì căn cứ vào Quán
Kinh, niệm Phật một niệm chắc diệt được trọng tội sanh tử 80
ức kiếp, lại được vi diệu công đức 80 ức kiếp, đây là chỗ
sáu phương Chư Phật khuyên tin. Hòa Thượng Đại Hạnh dạy
người niệm Phật, tâm chỉ tin Phật, Phật liền biết vì Phật có
tha tâm thông, miệng xưng Phật, Phật nghe được vì Phật có
thiên nhĩ thông, thân lễ kỉnh Phật, Phật liền thấy được vì
Phật có thiên nhãn thông, đây là chỗ khuyên tin niệm Phật
của Hòa Thượng Đại Hạnh.
Lòng tin cũng như người gieo
hạt cây thật sâu, gốc cây chắc, nên gió thổi không động,
cuối cùng có trái tốt giúp người hết đói khát. Người niệm
Phật cũng như thế, chỉ cần có lòng tin sâu, được đến Tây
Phương, thành Đẳng Chánh Giác, rộng giúp các nguy ách, nếu
người không có lòng tin dù vào kho báu cũng chỉ tay không,
chẳng được vật gì! Cho nên trong Kinh nói: "Bồ tát Thập Trụ
khởi lòng tin niệm Phật, về sau dù gặp duyên ác phải tan
thân mất mạng, thà phải chịu chết vẫn không mất lòng tin."
Nên Kinh Duy Ma nói: "Tin sâu bền chắc cũng như kim cương,
pháp báu chiếu khắp như mưa cam lồ, nên người niệm Phật cần
phải tin sâu."
Luận Vô Thượng Thọ nói: Niệm
Phật có 5 môn, vì sao gọi là năm? 1- Lễ Bái Môn là thân
nghiệp chuyên lễ Phật A Di Đà. 2- Tán Thán Môn là khẩu
nghiệp chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà. 3- Tác Nguyện Môn
là chỗ có công đức lễ niệm chỉ muốn cầu sanh về thế giới
Cực Lạc. 4- Quán Sát Môn là đi đứng ngồi nằm chỉ quán sát
Phật A Di Đà mau sanh Tịnh Độ. 5- Hồi Hướng Môn là chỉ công
đức niệm Phật, lễ Phật chỉ nguyện sanh Tịnh Độ, mau thành Vô
Thượng Bồ Đề. Đây chính là Pháp môn Niệm Phật chính yếu
trong Kinh Vô Lượng Thọ.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ cũng
nói: "Người niệm Phật có 4 pháp tu hành. Vì sao gọi là 4
pháp tu? 1- Trường Thời Tu là một khi phát tâm niệm Phật
liên tục thẳng đến được sanh Tịnh độ thành Phật trọn không
lui sụt. 2- Cung Kính Xứ Tu là chính hướng Tây Phương chuyên
tưởng không dời đổi. 3- Vô Gián Tu là chỉ chuyên Niệm Phật,
không có những tạp thiện khác làm gián đoạn và cũng không có
tham sân si tạp ác làm gián đoạn Niệm Phật. 4- Vô Dư Tu là
không có thêm các thứ tạp thiện làm gián đoạn niệm Phật. Vì
sao? Vì tạp thiện tu hành nhiều kiếp khó thành vì tự lực.
Còn người niệm Phật 1 ngày đến 7 ngày liền sanh về Tịnh Độ,
ở vị Bất Thối, mau thành vô thượng Bồ Đề, nương theo bản
nguyện lực của Phật A Di Đà nên mau được thành tựu, nên gọi
là Vô Dư Tu.
Căn cứ vào Quán Kinh khuyên
người niệm Phật phẩm Thượng vãng sanh có nói: "Nếu có chúng
sanh nào nguyện sanh về nước kia phải phát khởi ba thứ tâm
liền được vãng sanh. Vì sao gọi là ba thứ? 1- Chí Thành
Tâm: Hành giả thân nghiệp chuyên lễ Phật A Di Đà, khẩu
nghiệp chuyên xưng Phật A Di Đà, ý nghiệp chuyên tin Phật A
Di Đà cho đến vãng sanh Tịnh Độ thành Phật, không sanh lòng
thối chuyển gọi là chí thành tâm. 2- Thâm Tâm là chân
thật khởi lòng tin, chuyên niệm danh hiệu Phật, thề sanh
Tịnh Độ, lấy thành Phật làm kỳ, hoàn toàn không còn khởi
nghi hoặc nên gọi thâm tâm." 3- Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm
là chỗ có công đức lễ niệm chỉ nguyện vãng sanh Tịnh Độ, mau
thành vô thượng Bồ Đề nên gọi là hồi hướng Phát Nguyện Tâm.
Đây là pháp thượng phẩm vãng sanh.
Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: "Không
quán tướng mạo, chuyên xưng danh hiệu là thực hành Nhất hạnh
Tam muội. Muốn mau được thành Phật cũng nên thực hành nhất
hạnh tam muội này. Muốn đủ Nhất Thế Chủng Trí cũng nên thực
hành Nhất hạnh Tam muội này. Muốn được thấy Phật cũng nên
thực hành nhất hạnh tam muội này. Muốn được sanh Tịnh Độ
cũng nên thực hạnh nhất hạnh tam muội này." Đây chính Kinh
Văn Thù Bát Nhã chỉ Pháp niệm Phật vãng sanh.
Kinh A Di Đà nói: "Này Xá Lợi
Phất! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn nào nghe nói Phật A
Di Đà rồi gìn giữ danh hiệu hoặc 1 ngày, hoặc 2 ngày cho đến
7 ngày một lòng không loạn, người ấy khi mạng sắp lâm chung,
Phật A Di Đà cùng các thánh chúng hiện ra trước người ấy,
người ấy khi lâm chung tâm không điên đảo liền được vãng
sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà." Đây là Pháp Niệm Phật
vãng sanh của Kinh A Di Đà.
Hỏi:
Nếu niệm Phật 1 ngày được vãng sanh về Tịnh Độ cần gì đến 7
ngày?
Đáp:
Nói một ngày cho đến 7 ngày đều là chỉ thời gian lâm chung
vãng sanh tịnh độ, mau thì 1 ngày, chậm thì 7 ngày đây là
phương thượng phẩm vãng sanh trong Kinh A Di Đà. Trong Quán
Kinh nói: "Hạ Phẩm hạ sanh hoặc có chúng sanh tạo pháp chẳng
lành như ngũ nghịch, thập ác, những người ngu này, vì ác
nghiệp nên phải đọa vào ác đạo, trải qua nhiếu kiếp chịu khổ
vô cùng. Người này khi mạng chung gặp thiện tri thức dạy
niệm danh hiệu Phật A Di Đà mười niệm trừ tội được vãng sanh.
Đây là pháp vãng sanh của người bậc hạ hạ. Kinh Vô Lượng Thọ
nói cho đến một niệm liền được vãng sanh Tịnh độ. Đây là
Pháp vãng sanh của Bậc Hạ.
Hỏi:
Như vậy là 1 niệm đến mười niệm là Bậc Hạ, còn 1 ngày đến 7
ngày là Bậc Thượng phẩm phải không?
Đáp:
Phải. Một niệm đến 10 niệm là số niệm ít nên công đức cũng
ít, nên sanh về Hạ Phẩm. Một ngày đến 7 ngày số niệm nhiều
công đức cũng nhiều, nên sanh về Thượng Phẩm. Lại nữa, 1
niệm đến 10 niệm là chỉ người phát tâm trể, 1 ngày đến 7
ngày là chỉ người phát tâm sớm. Dù vậy, một niệm đến 10 niệm,
một ngày đến 10 ngày được vãng sanh về Tịnh Độ, đồng ở vị
bất thối, thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề.
Lại nữa, người niệm Phật như
tiếng khóc của con, cha mẹ nghe rồi liền mau đến cứu, đói
thì cho ăn, lạnh thì cho áo ấm, đây là năng lực của cha mẹ
chớ sức trẻ con không thể làm được. Người niệm Phật lại cũng
như thế, chỉ cần niệm Phật, Đức Phật là Đấng Đại Bi, nghe
tiếng liền đến cứu, chỗ có tội nghiệp Phật giúp diệt tội,
chỗ có bệnh hoạn Phật giúp cho lành, chỗ có các chướng, Phật
đều dẹp phá, cũng như cha mẹ nuôi con vậy. Kinh Pháp Hoa nói:
"Tất cả chúng sanh đều là con ta, ta là cha các ông, các ông
nhiều kiếp chịu khổ sở thiêu đốt, ta đều dẹp hết, dẫn ra
khỏi ba cõi." Người tu theo đạo Phật phải cần niệm Phật.
Kinh Duy Ma nói: "Muốn trừ phiền não phải có chánh niệm".
Niệm Phật là chánh niệm hiện tiền.
Tự Lực và Tha Lực
Hỏi:
Trong luận nói: Các pháp Phật nói ra số nhiều vô lượng, xin
hỏi pháp nào là tự lực, pháp nào là tha lực?
Đáp:
Đức Như Lai nói có đến 8 muôn 4 ngàn pháp môn, chỉ có một
pháp môn Niệm Phật là tha lực, còn tất cả các pháp môn khác
nói chung là tự lực.
Hỏi:
Theo Kinh giáo thì tu tự lực bao lâu được thành? Tu tha lực
bao lâu được thành?
Đáp:
Căn cứ vào Kinh Phật người tu tự lực từ khi mới phát tâm
phải trải qua một Đại A Tăng kỳ kiếp mới đến Sơ địa. Và trải
qua một Đại A Tăng kỳ kiếp mới là Bồ Tát Bát địa. Tiến lên
một Đại A Tăng kỳ kiếp mới đến Bồ tát Đẳng giác, đó là đường
tu và thời gian của người thực hành tự lực.
Tha lực căn cứ vào pháp môn
niệm Phật, Kinh A Di Đà nói: "Mau thì 1 ngày, chậm thì 7
ngày, niệm Phật A Di Đà, vãng sanh về Tịnh độ là Bồ tát Bát
địa." Vì sao? Vì thừa bổn nguyện lực của Phật A Di Đà mà có
được. Kinh A Di Đà cũng nói: "Chúng sanh nào sanh về Cực Lạc
đều ở vị bất thối chuyển". Vị bất thối chuyển này chỉ có Bồ
Tát Bát Địa mới có được.
Hỏi:
Trạng thái người tu tự lực và tha lực thế nào?
Đáp:
Xin đem một thí dụ để biện minh. Người tu tự lực như một đứa
trẻ được phong quan chức phải lên kinh đô nhận lãnh, muốn
đến kinh đô phải trải qua con đường ngàn dậm mà đứa trẻ chỉ
mới ba tuổi, nếu đứa trẻ tự mình đi lên kinh thì không thể
nào đến được, vì tuổi quá nhỏ và yếu đuối. Các pháp môn
chuyên tu tự lực lại cũng như thế, vì pháp môn này phải tu
nhiều kiếp mới thành, cũng như đứa trẻ tự mình đến kinh đô
không làm sao đến nơi được, nếu tự dùng sức mình để đi đến.
Người tu pháp môn tha lực cũng
như đứa trẻ tuy nhỏ tuổi nhưng theo cha mẹ và sức chuyên chở
của xe ngựa voi, nên không lâu đến kinh đô để nhận chức quan.
Vì sao? Vì đứa trẻ này nương theo tha lực mà được. Người tu
niệm Phật cũng như vậy, khi sắp lâm chung nương theo nguyện
lực của Phật A Di Đà, trong một niệm sanh về Tây Phương Tịnh
độ, được ở vị bất thối. Như cha mẹ đem xe voi ngựa đến chở
đứa trẻ con, chẳng bao lâu đến kinh đô nhận được quan chức.
Người tu pháp tự lực như người
nghèo đến làm công cho một người nghèo dùng sức rất nhiều mà
được tiền rất ít. Các pháp môn tu tự lực lại cũng như thế,
dùng sức rất nhiều mà công đức rất ít. Người tu tha lực như
người nghèo đến giúp việc cho một vị vương gia giàu có, làm
việc rất ít mà được tiền rất nhiều. Vì sao? Vì nhờ vào sự
giàu có của vương gia mà trả tiền rất khá. Người niệm Phật
cũng vậy, vì nhờ vào nguyện lực của Phật, nên dụng công rất
ít mà công đức rất nhiều, chỉ cần 1 ngày đến 7 ngày chuyên
tâm niệm Phật, mau được sanh về Tịnh độ, liền chứng quả Vô
thượng Bồ Đề, giống như người làm việc cho nhà vua vậy.
Tha lực như con chim nhỏ muốn
lên đỉnh núi Tu Di, nương nhờ vào cánh Đại Bàng, không bao
lâu đã đến đỉnh núi được nhiều khoái lạc. Phàm phu niệm Phật
lại cũng như thế, nương theo nguyện lực của Phật mà mau sanh
về Tịnh Độ Tây Phương, thọ các khoái lạc. Các phương pháp tu
tự lực như con chim nhỏ tự lực bay lên đỉnh núi, dù cố gắng
sức trọn không thể đến được.
Người tu tự lực như sức của con
tôm muốn dạo khắp đại dương thật không thể thành công, người
tu tha lực như con tôm nhờ con rồng lớn mang đi chẳng bao
lâu đi khắp đại hải. Người tu tha lực nhờ niệm Phật mà chúng
sanh đều mau đến Tịnh độ Tây Phương. Người tu tự lực như
phàm phu muốn đi quanh Tứ Bộ Châu dùng chân từng bước tiến
lên dù trải qua nhiều kiếp cũng khó đến, người tu tha lực
như nương theo chuyển luân thánh vương bay trên hư không,
chẳng mấy chốc mà vượt qua Tứ Bộ Châu dễ dàng là nhờ vào
năng lực của chuyển luân thánh vương. Người tu tha lực nương
theo nguyện lực của Phật, chỉ trong một niệm liền được vãng
sanh Tây Phương, chứng địa vị bất thối. Người tu tự lực như
người đi trên bộ, vất vả gian lao mà khó đến. Người tu tha
lực như đi trên thuyền gặp nước xuôi gió thuận, khoẻ thân mà
mau đến. Người tu niệm Phật cầu vãng sanh cũng thế, dùng
công ít mà mau chứng Bồ đề. Pháp môn niệm Phật ứng theo sức
bổn nguyện của Phật A Di Đà nên mau chóng thành Phật, vượt
hẳn các pháp môn tự lực gắp trăm ngàn vạn bội.
Chương Ba
Niệm Phật được lợi ích
Hỏi:
Niệm Phật vãng sanh Tịnh độ được bao nhiêu lợi ích?
Đáp:
Căn cứ vào Thiện Đạo Xà Lê Tập nói: "Pháp niệm Phật có 23
thứ lợi ích:
1- Diệt tội chướng nặng.
2- Ánh sáng nhiếp thọ.
3- Đại Sư hộ niệm.
4- Bồ Tát thầm gia hộ.
5- Chư Phật bảo hộ.
6- Tám bộ hộ vệ.
7- Công đức chứa nhóm.
8- Nghe nhiều trí huệ.
9- Không thối vị Bồ Đề.
10- Gặp đấng Đại hùng.
11- Cảm Phật đến rước.
12- Ánh sáng từ bi chạm thân.
13- Bạn thánh đồng khen.
14- Bạn thánh đồng tiếp.
15- Thần thông đi trên không.
16- Sắc thân thù thắng.
17- Sống lâu nhiều kiếp.
18- Được sanh về cõi thù thắng.
19- Mặt thấy Thánh chúng.
20- Thường nghe diệu pháp.
21- Chứng vô sanh pháp nhẫn.
22- Cúng dường 10 phương.
23- Trở về bổn quốc được Đà La
Ni.
Hòa thượng Đại Hạnh nói niệm
Phật có 10 thứ lợi ích:
1- Nương Phật lực.
2- Pháp dễ làm.
3- Công đức tối đa.
4- Mình người rất vui.
5- Mau được gặp Phật.
6- Chắc được bất thối.
7- Chắc được vãng sanh Cực
Lạc.
8- Liền không rời Phật.
9- Thọ mạng dài lâu.
10- Cùng các bậc Thánh không khác.
Các kinh niệm Phật vãng sanh
nói có 30 thứ lợi ích:
1- Diệt trừ các tội.
2- Công đức vô biên.
3- Được pháp thù thắng Chư
Phật.
4- Chư Phật đồng chứng
minh.
5- Chư Phật đồng hộ niệm.
6- Mười Phương Chư Phật
đồng khuyên tin niệm.
7- Nếu có họa hoạn niệm
Phật liền trừ.
8- Khi lâm chung lòng
không điên đảo.
9- Niệm Phật một Pháp
nhiếp nhiều Pháp.
10- Khi mạng chung Phật tự đến
rước.
11- Dùng ít công đức mau sanh
Tịnh độ.
12- Hóa sanh trong đài hoa.
13- Thân màu vàng ròng.
14- Thọ mạng dài lâu.
15- Sống lâu không chết.
16- Thân có ánh sáng.
17- Đủ 32 tướng.
18- Được 6 thứ thần thông.
19- Được vô sanh Pháp nhẫn.
20- Thường thấy Chư Phật.
21- Cùng với Bồ tát làm bạn.
22- Hương hoa, âm nhạc sáu
thời cúng dường.
23- Cơm áo tự nhiên nhiều kiếp
không hết.
24- Mặc dù tự do tiến đạo
thẳng đến Bồ Đề.
25- Thường tươi trẻ không có
tướng già.
26- Thường được khỏe mạnh
không có bệnh tật.
27- Không bị đọa ba ác đạo.
28- Thọ sanh tự tại.
29- Ngày đêm sáu thời thường
nghe Diệu Pháp.
30- Ở địa vị Bất Thối.
Kinh Niết Bàn nói: "Có năm trăm
kẻ trộm cướp, trộm cướp các nơi. Vua Ba Tư Nặc bắt được
truyền lệnh khoét mắt, chặt hết tay chân, đem liệng ngoài
đồng. Trong số 500 người này có một người hướng theo Phật,
nghe nói niệm Phật có thể cứu người khổ nạn, bèn kêu gọi
những người đồng bọn hết lòng niệm Phật. Lúc bấy giờ các
người giặc cướp đồng tâm phát nguyện niệm Phật. Họ chí tâm
niệm Phật hoàn toàn hết khổ. Do đó biết rằng niệm Phật lợi
ích không thể nghĩ bàn.
Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội nói:
"Chẳng phải có thân bệnh được bình phục mà tất cả bịnh khổ
đau nhức, nếu chuyên tâm niệm Phật thì bịnh khổ đều tiêu trừ.
Nếu bị bệnh nặng sắp chết, đau nhức bức bách không thể trị
được, niệm Phật tam muội tất cả bệnh khổ đều được tiêu trừ.
Nên Hòa Thượng Đại Nhật và Hòa Thượng Thiện Đạo nói: "Người
bị bệnh tật niệm Phật liền được tự trừ." Năng lực niệm Phật
vô cùng to lớn, người bị bệnh khổ niệm Phật đều được lành
không thể kể xiết. Gần đây có số người niệm Phật cảm được Xá
lợi. Một số hạt Xá lợi vẫn còn giữ để cúng dường. Nên biết
Niệm Phật lợi ích không thể nghĩ bàn.
Hỏi:
Tạo tội chướng đã nhiều vì sao niệm Phật 10 niệm có thể diệt
tội nhiều kiếp được?
Đáp:
10 câu hiệu Phật nhất định trừ diệt được các tội trong nhiều
kiếp. Vì sao được biết? Xin đem vài thí dụ để giải thích. Có
người chứa củi một ngàn ngày, chỉ cần châm một mồi lửa nhỏ
thì đống củi ngàn ngày bị cháy trong nửa ngày là tiêu sạch.
Tội nghiệp phiền não cũng như đống củi, niệm Phật cũng như
mồi lửa, tội chướng từ vô lượng kiếp đến nay do một công đức
câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tất cả tội chướng đều tiêu
diệt. Tội chướng cũng như ngôi nhà tối, niệm Phật cũng như
đèn sáng. Nhà tối ngàn năm, đèn sáng vừa chiếu đến các bóng
tối liền trừ, công đức niệm Phật lại cũng như thế. Tội
chướng từ vô lượng kiếp đến nay do công đức niệm Phật A Di
Đà mà tất cả tội chướng đều tiêu diệt. Nên biết niệm Phật
nhất định trừ diệt được các tội trong nhiều kiếp. Quán Kinh
nói: "Ông xưng danh hiệu Phật nên các tội tiêu diệt, ta nay
đến rước ông.” Niệm Phật mười tiếng công đức còn vô biên,
huống chi có người một ngày niệm được mười muôn danh hiệu
Phật A Di Đà, hoặc 1 ngày niệm được 20 muôn câu A Di Đà Phật.
Công Đức 1 ngày niệm Phật còn vô biên huống là 2 ngày đến 7
ngày công đức vô cùng.
Kinh A Di Đà nói: "Khi sắp lâm
chung, mau thì 1 ngày chậm thì 7 ngày niệm Phật liền được
vãng sanh Tịnh Độ. Lại nói: "Chúng sanh sanh về cõi ấy đều ở
vị Bất thối." Địa vị bất thối là hàng Bồ tát Bát địa, đây là
pháp vãng sanh của Thượng Phẩm Thượng Sanh. Vì sao được biết?
Ví như ở thế gian người mua nhà cửa, người có nhiều tiền thì
mua ngôi nhà đẹp, nếu tiền của ít thì mua ngôi nhà xấu. Niệm
Phật công đức rất nhiều nên sanh về Tịnh độ dự vào Thượng
Phẩm, niệm Phật ít thì sanh về Hạ Phẩm. Đức Như Lai nói các
công đức lành của 8 muôn 4 ngàn pháp môn chỉ có pháp môn
niệm Phật là pháp tối thượng. Đức Như Lai tuy nói các công
đức lành duy có Pháp môn niệm Phật là nhiều thiện căn, nhiều
phước đức, nếu đem các tạp thiện mà so với niệm Phật thì ít
căn lành, ít phước đức, pháp môn Niệm Phật thật chẳng phải
của các môn khác có thể sánh kịp.
Lại nữa, pháp môn Niệm Phật y
theo Kinh nói thì rất khó gặp. Vì sao được biết? Kinh Đại A
Di Đà nói: "Thuở quá khứ có một quốc vương, phát khởi lòng
tin nghĩ sẽ thực hành yếu pháp Niệm Phật liền đến gặp thiện
tri thức, quyết chí cầu pháp Niệm Phật. Lúc bấy giờ thiện
tri thức mới đáp rằng: Này đại vương chỗ cốt yếu của pháp
Niệm Phật này, lý rốt ráo thật khó nghe. Nhà vua quyết tâm
học pháp Niệm Phật nên đáp: Thưa Đại sư, xin Ngài vui lòng
vì tôi mà nói pháp yếu Niệm Phật, tôi sẽ trọn đời cúng dường
để ngài sai xử. Khi đó Thiện tri thức đáp: Này đại vương!
Nếu ngài muốn biết pháp yếu Niệm Phật trước phải bỏ ngôi vua,
ở đây phục vụ cung cấp cho ta không thối chuyển, ta sẽ vì
vua mà nói pháp yếu Niệm Phật. Lúc ấy nhà vua bỏ ngôi vua
theo hầu thiện tri thức cung cấp những điều cần dùng, không
nề khổ cực, không sanh lòng thối chuyển. Nhà vua nghe dạy về
pháp Niệm Phật Tam Muội, vua chuyên tu pháp này, sau đó gặp
2 muôn 8 ngàn Chư Phật đều vì nhà vua mà nói Niệm Phật Tam
Muội. Nhà vua nghe được pháp Niệm Phật nên được thành Phật.”
Huống chi ngày nay được nghe và chí thành tin niệm, đâu thể
không được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ức ức chúng sanh
bị chìm đắm trong đường ác, chẳng được thành Phật, chỉ vì
không gặp được pháp môn Niệm Phật. Nên biết pháp môn Niệm
Phật thật khó gặp.
|
Niệm Phật ra khỏi
Ba cõi
Hỏi:
Cực lạc Tịnh độ là ở ngoài ba cõi hay ở
trong ba cõi?
Đáp:
Tịnh độ Cực lạc chắc chắn ở ngoài ba cõi.
Nói ba cõi là cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc.
Cõi dục từ Diêm Phù Đề này lên đến Lục dục
thiên. Sắc giới từ Lục dục thiên lên đến
Phạm chúng thiên gồm có 18 cõi gọi là sắc
giới thiên. Vô sắc giới gồm bốn cõi trời từ
Không vô biên xứ đến Phi tưởng Phi phi tưởng
xứ. Lại nữa, tam giới hướng lên gồm có 28
cõi trời, hướng xuống đến vô gián địa ngục
loài người ở giữa, như ở trong lao ngục, nên
Kinh Pháp Hoa nói: "Ba cõi không yên cũng
như nhà lửa." Chúng sanh thường bị sanh già
bệnh chết, lo lắng tai họa, thiêu đốt không
dứt, cho nên Bà Vi Đề Hy nhàm chán Ta Bà cho
là nơi ngũ trược ác xứ. Vì sao gọi là ngũ
trược? 1- Kiếp trược chỉ dịch bệnh, cơ cẩn,
đao binh hoành hành. 2- Phiền não trược chỉ
tất cả chúng sanh đều bị phiền não bức bách.
3- Mạng trược chỉ cho nhơn mạng vô thường
ngắn ngủi. 4- Kiến trược chỉ chúng sanh điên
đảo chấp lầm bài báng không tin. 5- Chúng
sanh trược chỉ chúng sanh say mê trong dục
vọng xoay quanh trong sanh tử, lấy khổ làm
vui không cầu ra khỏi. Lại có ác đạo như địa
ngục ngạ quỷ súc sanh đầy dẫy, các việc ác
chứa nhóm. Quả thật cõi Ta Bà này là cõi
trược ác. Vì vậy Chư Phật rũ lòng thương dạy
nhàm chán cõi ác trược, ưa mến điều vui ở
cõi Cực lạc phương Tây, nên Kinh có bài tụng:
Phật từng
ngục ba cõi
Dẫn chúng
sanh ra ngoài
Đấng Đại Trí
nhơn thiên
Thương xót
chúng mê muội
Nên mở môn
cam lộ
Rộng độ các
chúng sanh.
Trong Luận nói:
Vượt khỏi
ngục ba cõi
Mắt như hoa
sen xanh
Chúng thanh
văn vô số
Nên con cung
kính lễ.
Vãng Sanh Luận
nói:
Quán tướng
của cõi kia
Vượt khỏi xa
ba cõi
Cứu kính như
hư không
Rộng lớn
không ngăn mé.
Quần Nghi Luận
nói:
Tịnh độ vượt
ngang ba cõi
Thoát khỏi
tất cả năm đường
Người được
vãng sanh cực lạc,
Không có
danh xưng ba cõi
Thẳng đến vô
thượng Bồ Đề.
Qua những lời
kệ tụng trên cho thấy Tịnh Độ Phật A Di Đà ở
ngoài ba cõi, nên nói người tu niệm Phật mau
ra khỏi ba cõi.
Nếu muốn niệm
Phật A Di Đà mau sanh Tịnh độ cần phải thành
tựu ba nghiệp, thứ nhất tâm chỉ có lòng tin
kiên cố, thứ hai miệng chỉ có niệm danh hiệu
Phật kiên cố, thứ ba thân chỉ có cung kính,
không hỏi có người không người, cao thấp già
trẻ, ngày đêm thường không giải đãi gọi là
kỉnh thành tựu. Không bàn về lỗi người tốt
xấu, không nói suông như nói ăn, đếm của cho
người, chỉ miệng niệm Phật, mỗi tiếng liên
tục không dứt gọi là khẩu thành tựu. Không
rơi vào tham sân phiền não, không náo loạn,
đánh mắng náo loạn, oán hận, tật đố, sát,
đạo, dâm, vọng là cái nhơn đọa tam đồ cùng
pháp niệm Phật không tương ứng. Vì thế, chỉ
có người lòng tin chắc niệm Phật, không phân
biệt kẻ đạo người tục, không hỏi nam nữ,
giàu nghèo, không hỏi tạo tội có nặng nhẹ,
chỉ cần có lòng tin làm gốc, nếu thành tựu
thì vạn bệnh đều lành, không cần thuốc thang
ở thế gian, muôn thiện đều tự thành; không
nhờ vào kinh sách thế gian mà sớm thành tựu
muôn thiện vì nó không phải là khả năng của
mình là được, cũng không phải do sức tu hành
của mình mà được. Nếu y cứ vào kinh văn,
người tu từ phàm phu đến sơ địa phải trải
qua một Đại A Tăng kỳ kiếp. Nếu nhờ năng lực
của Tam Bảo không phải trải qua nhiều kiếp.
Y Kinh văn nói: Người nghe nói danh hiệu
Phật A Di Đà cho đến một niệm một lòng hoan
hỉ dũng mãnh, chí tâm hồi hướng liền được
vãng sanh, ở vào vị Bất Thối.
Kinh Pháp Hoa
nói: "Đối với người có trí, xin đem thí dụ
để giải rõ: Ỏ trong thế gian chỉ có mẹ có
thể làm cho thân con được yên ổn. Còn xuất
thế gian chỉ có Chư Phật có thể làm cho
chúng sanh thoát khỏi khổ ba cõi, được sanh
về tịnh độ, thấy Phật, nghe pháp." Y theo
kinh thì Phật có lòng từ bi, hỉ xã. Từ là
ban vui, bi là cứu khổ. Chẳng luận người
chịu khổ hay các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh thọ khổ đều cứu tế bình đẳng, nếu còn
hỏi loài nào thì không gọi là Đại Bi. Như
người mẹ ở thế gian đối với con có các thứ
khổ đều không nài lao nhọc. Chư Phật là đấng
Đại bi, không hỏi oán thân, đạo tục, nam nữ,
bình đẳng đồng đều cứu khổ hết.
Những khổ đó là
gì? Là khổ của thế gian và khổ của địa ngục.
Dù khổ trăm ngàn muôn vạn bội, Chư Phật đều
cứu hết huống là những khổ nhỏ trong con
người, nếu các Ngài không đến cứu là cùng
lời dạy trong kinh trái ngược nhau. Những
người đang thọ khổ cần phát tâm sám hối, làm
các hạnh giới, tạo các công đức, các khổ mau
trừ thì lòng tin mới thành tựu, sanh tử từ
đây chấm dứt. Người không tin lời Phật dạy
thì khổ không thể dứt. Trong các thứ tin,
trước phải tin Tam Bảo, năng lực Tam Bảo rất
bình đẳng và rộng lớn, trong thế gian không
cần hỏi giàu nghèo, nam nữ chỉ có lòng cung
kỉnh Tam Bảo thì tự nhiên dự được một phần
giải thoát khổ đau. Muốn được giải thoát chỉ
có lòng tin nơi Tam Bảo là then chốt, nếu
không có lòng tin không khác gì người mù và
điếc. Nên biết người niệm Phật mỗi tiếng
không dứt, không bệnh nào chẳng lành, không
tội nào không dứt, chắc chắn khỏi lo sợ,
cũng không thối chuyển, mỗi ngày trong tầm
mắt tự nhiên mở tỏ, mỗi việc làm đều hợp với
kinh giáo, đi đứng nằm ngồi tâm đức không
tán loạn, cũng không mất oai nghi.
Người niệm Phật
dù nghe nhiều Kinh Luận đều cùng tâm hạnh
tương ưng tăng thêm lòng vui vẻ, tiếp dẫn
những người có lòng tin, như mẹ cứu con
không từ mệt nhọc. Người không có lòng tin
cần nên ngậm miệng, không nên mở lời làm cho
người khác chê bai chán pháp, chẳng những
chê bai người mà còn chê bai Đức Phật. Trong
kinh A Di Đà, khi Đức Thích Ca Mâu Ni nói
pháp môn Tịnh Độ vì tất cả chúng sanh mà nói.
Sáu phương Chư Phật đều biết kinh này khó
tin, e rằng chúng sanh đời sau nghi chê, nên
hiện tướng lưỡi rộng dài để minh xác văn
kinh này không dối trá. Gần đây, các hành
giả sanh nhiều nghi hoặc và chê bai, chính
vì việc ấy, nên Chư Phật có lời huyền ký,
biết trong đời mạt pháp, chúng sanh không
tin. Nếu có người nào có lòng tin thì tất cả
Chư Phật cùng nhau hộ niệm. Tự mình không
tin lời Phật dạy, là tự mình không được căn
lành và không thể ở vị bất thối. Đây là lời
nói của Phật A Di Đà: "Nếu chúng sanh không
tạo Tịnh Nghiệp là tự mình làm chướng ngại
đường vào cõi Thánh." Tất cả các kinh đều do
Phật nói ra, nếu người nào tự tu hành đúng
theo giáo lý, thì Chư Thiện thần luôn luôn
hộ trợ, làm cho người ấy sanh lòng kính tin,
tu hành không bỏ, Chư Phật sẽ hộ trợ vị ấy
theo bổn nguyện lực. Người nghe mà không tin
bị đọa thẳng vào địa ngục, không có ngày ra,
đâu chẳng phải điều lầm to cho cả một đời
sao?
Nếu người đọc
kinh văn Tịnh độ, lắng lòng xét kỹ chắc chắn
sẽ cùng kinh giáo tương ưng, dùng pháp niệm
Phật trì giới để đoạn trừ phiền não. Chỉ cần
có lòng tin sâu chắc chí thành không lui sụt,
mỗi niệm tiếng Phật không dứt, không cần hỏi
kẻ đạo người tục, giàu có, bần hàn, xấu tốt,
nam nữ, có tội nặng hay nhẹ, chỉ cầu làm cho
lòng tin thành tựu chắc có kết quả mong muốn.
Nếu không có lòng tin, dù chư Phật có từ bi
như cha mẹ cũng không thể cứu nổi, không thể
vãng sanh. Chỉ có lòng tin thành tựu thì Chư
Phật thường còn không mất, cũng không lui
sụt. Tin Phật là bậc Đại Thánh tối tôn tối
thượng, nên dù chúng sanh ở quá khứ hiện tại
và vị lai, không cần hỏi tâm thiện ác nhiều
ít Phật đều biết rõ. Nếu có người tin Phật
Đại từ bi có thể cứu chúng sanh trong ba
thời, dù có tạo nhiều ác nghiệp tội chướng
mà phát lòng ăn năn chừa lỗi, Phật đều biết
rõ và đều cứu độ đúng lúc, như người mẹ thấy
con ở chỗ dơ bẩn đói lạnh quyết lòng cứu
giúp chẳng bao giờ xa lìa. Dù đứa con không
có lòng báo hiếu, mẹ vẫn không nài khó nhọc
lo cho con cả cuộc đời, huống chi Đức Phật
là bậc đầy lòng Đại Từ Bi thì lòng cứu khổ
to lớn hơn cha mẹ ngàn muôn bội. Không phải
chỉ có cứu khổ ở thế gian, mà còn cứu khổ
lớn sanh tử. Cho nên, thế gian có lòng tin
thì Phật liền cứu, cũng không hỏi tội nặng
nhẹ.
Kinh Pháp Hoa
nói: "Tất cả chúng sanh đều là con ta, ta là
cha của chúng nó, các người nhiều kiếp bị
các khổ thiêu đốt, ta đều cứu giúp ra khỏi
ba cõi." Đức Phật cứu độ không luận đạo tục,
nam nữ, giàu nghèo, già trẻ, tốt xấu, sang
hèn và tội nặng nhẹ, chỉ cần có lòng tin, có
lòng hối lỗi, lòng tin thành tựu, niệm danh
hiệu Phật không dứt là Phật đến cứu. Trong
kinh nói: "Tất cả chư Phật đều đến hộ niệm,
đều được chẳng thối chuyển. Pháp hy hữu khó
tin này chỉ cần lòng tin, không luận người
có tội, hoặc người nữ không được vãng sanh.
Chỉ luận có lòng tin hay không, nếu giới
hạnh thành tựu đều được vãng sanh, chẳng
phải là khó tin, chẳng phải là ít có. Thiện
nam và thiện nữ nào có thể tin chẳng dối trá
chẳng luận tội có nặng nhẹ, các bệnh đều trừ,
các bệnh đều dứt, chẳng luận xa gần, chỉ giữ
lòng tin, tâm mau dứt nghi hoặc, liền biết
niệm Phật như mẹ cứu con nên gọi là pháp hy
hữu khó tin. Khi nói kinh này rồi hằng hà sa
chư Phật ở sáu phương, mỗi vị đều hiện tướng
lưỡi rộng dài, chứng minh cho biết chúng
sanh trong ba đời nghe Phật dạy đều được
vãng sanh. Nên gọi là pháp hy hữu khó tin.
Kinh nói: "Niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật
diệt được 80 ức kiếp tội sanh tử. Tất cả Chư
Phật đều hộ niệm.”
Lòng Từ Bi của
Chư Phật là bình đẳng cứu khắp chúng sanh
chẳng luận kẻ đạo người tục biết hối lỗi hồi
hướng phát nguyện chắc Phật cứu không hề sai
sót, nên chúng sanh có lòng tin niệm Phật
được thành tựu thì không có tội nào không
diệt hết, không có bệnh nào là không lành,
không có khổ nào là không trừ, không có nổi
lo nào mà không vui mừng. Nếu có người nghe
liền hối lỗi rồi học, thực hành niệm Phật
thì năng lực của Phật sẽ gia hộ.
Người có lòng
tin mới biết Thân nghiệp không được sát sanh
trộm cướp, dâm dật, cũng không được đánh đập
hại tất cả chúng sanh, cũng không được ăn
mặc lòe loẹt, trang sức trau dồi, gấm vóc
lụa là, muôn hồng nghìn tía, quần áo đẹp
xinh, khêu gợi lòng người, làm chướng đạo
nghiệp dễ bị chìm vào biển khổ. Cũng làm cho
người khởi ái tâm. Người mặc áo đẹp trang
sức lòe loẹt làm động lòng người. Người tu
hành không nên trang điểm lòe loẹt, chỉ ăn
mặc giản dị. Riêng thân có 3 điều phải giữ
gìn không sát sanh, trộm cướp và tà dâm.
Về khẩu nghiệp,
không được uống rượu, ăn thịt, ăn ngũ vị tân,
không được nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi
hai chiều, nói lời hung ác. Nếu giữ khẩu
nghiệp thanh tịnh là đối với đạo Phật tương
ưng, nếu gia tâm niệm Phật thì được sáu
phương Chư Phật hộ niệm. Về ý nghiệp thì
không được tham, sân, si vì nó là ba độc, bỏ
tham sân si chuyên tâm niệm Phật chắc thoát
khỏi tam giới./.
Lời Bạt
Trăng sáng đầy
trời không qua phách quế (mặt trăn), sóng
dậy đầy sông nguồn gốc bắc ở thương minh (nguồn
sông), dùng muôn pháp là tâm công chỉ còn ở
nhất niệm, ngàn xe họp bánh đường chẳng
ngoài tổng trì, đủ diệu môn tối thắng để
thoát luân hồi thật thẳng tắt, chỉ có pháp
môn niệm Phật căn cứ từ cõi Phật A Di Đà
hiện từ thuyền vớt chúng sanh vô lượng kiếp,
pháp môn Tịnh độ mở tự tánh pháp giới kết vô
giá hội, đồng về trong rừng cây báu cõi Cực
lạc.
Thời Đông Tấn,
Đại sư Huệ Viễn Kiết Bạch liên xã, 123 xã
chúng đều được tam muội, đồng được vãng sanh,
đặc biệt 18 vị cao hiền hiển bày chơn tôn,
bi trí cùng làm, thánh phàm đều nhiếp hết,
đem thuốc của Đại y vương chữa lành các bệnh
chúng sanh,như mặt nhật huệ ở trên không,
bóng tối ngàn năm mau dứt, biến thế giới
thành hoàng kim, người được vãng sanh vị ở
bất thối, ngồi hoa sen thấy Phật chứng quả
vô sanh. Như cửu khúc minh châu tuy nhỏ
bằng một tất tơ mà có thể biết mùi vị của
dòng nước trăm sông, muốn khô bể nghiệp cần
phải niệm Phật A Di Đà. Nếu tâm luôn luôn hệ
niệm Đức Phật kia thì không nhọc khảy móng
tay Tây Phương cũng đến.
Có bài kệ rằng:
Duy Tâm Tịnh
độ phải thừa đương.
Tự tánh Di
Đà mỗi chỗ thường
Không khổ
không lo là Cực lạc.
Đừng thương
đừng ghét ấy Tây phương
Hà sa công
đức xưa nay đủ.
Diệu bửu
trang nghiêm, chẳng thể lường
Chuyên niệm
chủ nhân Vô Lượng Thọ
Thấy nghe
thanh sắc lộ đường đường./. |
|
|
|
|