TIỂU DẪN
CHỨNG ĐẠO CA là tác phẩm thi ca
được viết ra, nói lên trình độ nhận thức chân lý, khả năng
thiền quán tư duy sâu sắc của tác giả đối với chánh pháp
liễu nghĩa thượng thừa của đạo Phật. Tác phẩm có năm mươi
sáu (56) thi ca, gồm hai trăm tám mươi tám câu (288). Mỗi
thi ca là một "ngọn đèn pha" cực mạnh quét sạch hết những
bóng đen tà kiến. Mỗi câu là một làn gió nhẹ, vừa mát mẻ,
vừa thổi tan những đám mây mù huyển hoặc, vu vơ, cho bầu
trời chân lý hiển lộ lồng lộng, một màu trong xanh ngăn
ngắt.
Tư tưởng ở nội dung, ngữ ngôn văn
tự qua hình thức đáng được tôn vinh là khúc ca CHỨNG ĐẠO
của con người CHỨNG ĐẠO. Do vậy, tác phẩm có cái nhan đề
CHỨNG ĐẠO CA, thiết tưởng không phải là ngôn từ cường điệu.
Tác giả Chứng Đạo Ca là Huyền Giác
Thiền Sư. Sử sách Phật giáo Trung Hoa không nói nhiều về
tông chi gia phả, chỉ nói Sư là con của gia đình họ Đới.
Sanh vào năm 665 và mất năm 713 đời nhà Đường. Quê của Sư
ở huyện Vĩnh Gia, xưa thuộc châu Ôn, nay là tỉnh Chiết
Giang ở Trung quốc. Sư xuất gia vào tuổi ấu niên, tư chất
thông minh, ham tu hiếu học, đọc nhiều kinh điển Phật đến
độ tinh thông. Những kinh điển thuộc hệ tư tưởng liễu
nghĩa thượng thừa như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại Phương
Đẳng Viên Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật,
Kinh Bát Nhã, Kinh Pháp Hoa, Kinh Niết Bàn....Sư vận dụng
một cách vô cùng thông minh, tài tình và "lợi hại" trong
việc "công phá" tà kiến ngoại lai, hiển dương chánh pháp
Đại thừa, mở đường chỉ lối cho những ai chủng tánh Đại
thừa muốn đi con đường "đại ngộ".
Bỉ nhân tôi là một hậu học cô lậu
quả văn, hữu duyên được nghiền ngẫm tác phẩm CHỨNG ĐẠO CA.
Khi đọc tôi cảm nghe như thân tâm bay bổng ra khỏi hết mọi
vướng mắc ở cõi đời, mà từ lâu mình lầm lạc, tự trói thân
để chịu cực nhọc, tự quản thúc tâm để ưu tư, sợ hãi triền
miên. Tâm đắc sâu đậm, sung sướng tràn dâng, tôi phấn đấu
vượt trở ngại: "mắt mờ". Thị lực yếu, tôi vẫn quyết chí
dịch tác phẩm CHỨNG ĐẠO CA từ Hán văn ra Việt văn bằng thể
văn có âm điệu và tiết tấu để đọc cho dễ nhớ. Rồi sau đó,
viết phần TRỰC CHỈ để bình thêm..
CHỨNG ĐẠO CA là một tác phẩm
văn học của Phật giáo Trung Hoa và cả Phật giáo Việt Nm
nữa.
CHỨNG ĐẠO CA là một giáo án,
tôi soạn để giảng cho tăng ni sinh các trường, lớp Cao
Đẳng Nội Minh.
CHỨNG ĐẠO CA là tiếng sấm
long trời để đánh thức những ai mệnh danh là đệ tử Phật mà
mãi li bì, ngủ say sưa trong mộng mị, mê tín, hoang đường.
CHỨNG ĐẠO CA là ngọn đuốc
thiêng bất diệt dành cho những chủng tánh Đại thừa tiến
bước trên lộ trình đại ngộ.
Viết tại
Thao Hối Am
ngày rằm tháng 7 năm Đinh Sửu
(1997 - 2541)
Dịch giả Thích Từ Thông cẩn bút
THI
CA 1
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm:
QUÂN BẤT KIẾN!
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức Pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một
Dịch
nghĩa: AI CÓ BIẾT!
Bậc tuyệt
học vô vi nhàn đạo
Vọng không trừ tưởng chẳng cầu chân
Tánh của vô minh và Phật tánh không hai
Phật tánh ấy! Chính là thật tánh của vô minh đấy!
Thân ảo
hóa với pháp thân cũng vậy
Ảo hóa thân là hiện tượng của Pháp thân
Biển Pháp thân ví: bản thể vô cùng
Thân ảo hóa tựa sóng mòi lao xao trên mặt nước
Nhận thức
rõ hai thân pháp hóa (1)
Chợt tỉnh ra rằng "vạn pháp giai không"
Tánh thiên chân là thật tánh của mình
Mình là Phật vốn là thiên chân Phật
Thân ngũ
uẩn chỉ là phù vân tụ tán
Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la
Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng
Nó hiện hữu với thời gian vô tận
Gọi tam
độc thực tánh không hề độc
Ví như bọt bèo, sanh diệt huyển hư
Hễ u mê thì tam độc hoành hành
Bằng tỉnh thức không sao tìm được chúng
TRƯC CHỈ
Đi con
đường đạo, thường phải qua ba giai đoạn. "Học đạo", Hành
đạo", và "Chứng đạo". Đến giai đoạn CHỨNG ĐẠO, được
gọi là con người "nhàn đạo". Người "nhàn đạo" là người đã
vượt qua giai đoạn "học đạo" và "hành đạo". Vì vậy người "chứng
đạo"còn được gọi là người TUYỆT HỌC, là người đạt
đến VÔ VI, cho nên bậc TUYỆT HỌC, VÔ VI,
NHÀN ĐẠO tức là con người CHỨNG ĐẠO.
Cái thấy
của người chứng đạo, không thấy qua cái thấy của nhục nhãn
bình thường mà thấy bằng "Tuệ nhãn". Về "cái thấy", giáo
lý đạo Phật dạy có năm cách nhìn thấy khác nhau. Dựa trên
thành quả tu chứng mà cái thấy của người học đạo, hành đạo
và chứng đạo đối với hiện tượng vạn hữu chia thành năm
cách thấy: Cái thấy qua "nhục nhãn". Cái thấy qua "thiên
nhãn". Cái thấy qua "pháp nhãn". Cái thấy qua "tuệ nhãn".
Cái thấy qua "Phật nhãn". Cái thấy qua "nhục nhãn" là cái
thấy "tầm thường". Cái thấy qua "thiên nhãn" là cái thấy "bình
thường". Cái thấy qua "pháp nhãn" là cái thấy của người "đạt
đạo", của hàng tiểu thừa THANH VĂN, DUYÊN GIÁC. Cái thấy
qua "Tuệ nhãn" là cái thấy của người CHỨNG ĐẠO, cái thấy
của căn cơ Đại thừa, của Bồ tát trên đoạn đường gần tới VÔ
THƯỢNG CHÁNH GIÁC của "Phật nhãn".
Người
CHỨNG ĐẠO, nhìn thấy thấu triệt bản chất căn nguyên của
vạn pháp. Nói cách khác, người chứng đạo nhìn hiện tượng
vạn pháp họ thấy được cái "thực tướng" của vạn pháp. Họ
biết rất kỹ rằng cái tướng thực của vạn pháp là "không có
gì". Tất cả chỉ là duyên sanh, mà duyên sanh thì như huyển,
không thật có.
Qua cái
thấy của con người chứng đạo, "vọng tưởng" đã là vọng thì
còn quan tâm, còn mơ tưởng, còn kết giao, gá nghĩa với nó
được sao? Biết nó vọng thì mình đã "không vọng". Không
vọng là đã tự "chơn" rồi. Do vậy, "vọng" không phải "trừ",
"chơn" không cầu, không cần mơ ước mà tự có.
Nước trong,
trăng hiện, mây tan, trời hiện, phiền não vô minh hết Phật
tánh hiện. Trăng vốn sẵn có trong lúc nước ao hồ vẫn đục.
Phật tánh thanh tịnh vốn có trong lúc con người biểu đầy
những phiền não vô minh đau khổ. Giác là Phật, mê là tục
tử phàm phu.
"Không trừ vọng
tưởng, chẳng cầu chân
"Thật tánh vô minh là Phật tánh".
Kinh điển
Phật thưòng đề cập "Tam thân" của con người chứng đạo.
Pháp thân là cái bản thể châu biến. Về thời gian xuyên
suốt quá khứ, hiện tại và vị lai. Về không gian khắp cùng
đông, tây, nam, bắc, tứ duy, thượng, hạ. Từ Pháp thân đó,
duyên sanh ra các hiện tượng vạn hữu. Ảo hóa thân là một
hiện tượng trong vô vàn hiện tượng "duyên sanh". Vì thế
cho nên ảo hóa thân không ngoài Pháp thân. Từ nơi Pháp
thân duyên khởi sanh ra ảo hóa thân. Ảo hóa thân và Pháp
thân không phải LÀ mà không phải KHÔNG LÀ. Đó là chân lý "Bất
tức, bất ly", trung đạo. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché không
phải đất. Đúng, nhưng không đúng trọn vẹn. Bảo rằng: lu,
hũ, chum, ché là đất. Đúng, nhưng cũng không đúng trọn vẹn.
Mà phải hiểu rằng: lu, hũ, chum, ché không "là" đất nhưng
chúng không ngoài đất. Đất không phải là lu, hũ, chum, ché,
nhưng ngoài đất không sao có lu, hũ, chum, ché.
Người
biết học đạo, hành đạo theo chánh pháp, không xem khinh
thân ảo hóa, vì biết rằng thân ảo hóa là diệu dụng duyên
khởi của Pháp thân. Thân ảo hóa và Pháp thân "bất tức mà
bất ly" như đồ gốm và đất sét của đại địa mêng mông kia
vậy.
"Ảo hóa không thân tức Pháp thân"
Nhận rõ
và thực chứng bản thể thanh tịnh châu biến, duyên sanh mầu
nhiệm của Pháp thân, bấy giờ chợt tỉnh và thấy rằng tất cả
hiện tượng vạn hữu có cùng một bản thể chung cùng, chỉ do
nhân duyên không đồng mà có sự sai khác. Dù hiện tượng vạn
hữu có ngàn sai muôn khác nhưng cái thấy của người chứng
đạo: Tất cả cùng một thể thanh tịnh không hề có sự vật này
là nguyên nhân gây đau khổ cho sự vật nọ.
"Pháp
thân giác liễu vô nhất vật".
"Vô
nhất vật" là do người
chứng đạo xử dụng tuệ nhãn, nhìn vạn pháp bên mặt Tổng.
Thấy có nhiều "vạn vật" tại vì dùng nhục nhãn nhìn vạn
pháp bên mặt Dị Biệt duyên sanh của nó.
Từ nhận
thức đó, người chứng đạo thấy rằng: "duyên sanh" vạn pháp
"vô tình", cũng như duyên sanh vạn loại "hữu tình", cùng
có chung một "bản nguyên", một cội nguồn thanh tịnh là "Thiên
chân Phật".
"Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một".
Dưới con
mắt của người chứng đạo, thân con người kết hợp bởi ngũ
uẩn, duyên sanh. Vì duyên sanh cho nên thân của phàm nhân
hay thân của thánh đức đều chung một dạng "phù du". Vì là
"phù hư" cho nên nó sanh diệt, khứ lai, tụ tán. Cái điểm
ưu việt khác hơn người của con người chứng đạo là họ thấy
rõ và biết kỹ rằng phù vân dù có sanh diệt, khứ lai, tụ
tán nhưng nó không bao giờ mất mà nó vĩnh cửu khứ lai,
sanh diệt, tụ tán trong bầu hư không vốn dĩ bất sanh bất
diệt. Dưới cái nhìn của người chứng đạo, vấn đề sinh tử
chỉ là chuyện tầm thường như vô vàn sự vật diệt sanh tan
hợp khứ lai bình thường khác.
Tham, sân,
si nhà Phật gọi chúng là "Tam độc". Vì tánh tác hại của
chúng gây cho loài người không sao kể hết những biến chứng
khổ đau cùng cực do chúng gây ra. Nhưng bình tâm mà nói.
Vận dụng tuệ nhãn mà nhìn thì "tam độc không có thực tánh.
Tam độc cũng có thể xuất hiện khiến cho con người khổ đau
cùng cực. Tam độc cũng có thể biến mất không để lại một
bóng dáng, một dấu vết xấu xa nào. Tam độc có hay không có,
tùy thuộc ở con người MÊ hay GIÁC. Thực chất của tam độc
là không có chất. Chúng như những bong bóng nổi chìm sanh
diệt của những con sóng vỗ mặt ghềnh! Hiểu rõ chân lý đó,
đối với sự tử sanh, sanh diệt của tự thân cũng như của
hiện tượng vạn pháp, người chứng đạo thấy bằng cái thấy
bình tĩnh, an nhiên, không có cái gì phải lo âu, phải sợ
hãi. Chẳng những thế, người chứng đạo còn thấy biết rõ:
Khi mình sanh ra từ đâu và lúc chết sẽ đi về đâu!
THI CA 2
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ NHƠN PHÁP
Phiên âm:
Chứng thực tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước a tỳ nghiệp
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh
Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp
Dịch nghĩa:
Chứng "thật
tướng thấy rõ cõi đời "vô tướng"
VÔ TƯỚNG đồng với 'vạn pháp giai không"
Tướng "PHÁP", "NHƠN" mà còn chẳng có gì!
A tỳ nghiệp vì gì mà hiện hữu
Đấy lẽ
thật, đây lời nói thật
Nói cho mình và hy vọng đến với ai kia
Không có ý chi dối gạt phỉnh phờ
Được phép thệ! Dù thề độc cũng xin cam chịu
TRỰC CHỈ
Người
chứng đạo quán triệt thật tướng của vạn pháp là vô tướng,
người ta sẽ không còn chấp NHƠN và PHÁP. Do
diệt bỏ ý niệm chấp mà tâm hồn thanh thoát khinh an đến độ
tự tại NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG. Vì vậ, cái gọi là nghiệp A
tỳ nếu có, cũng tự hóa giải tiệu vong. Đó là sự thật mà
đạo lý có thể chứng minh.
Nghiệp A
tỳ nếu có, nó phát nguyên từ ý niệm chấp mắc. Chấp nhơn và
chấp pháp là hai đối tượng chấp, nó sanh ra vô vàn đau khổ
và là nguyên nhân đau khổ. Tám mươi bốn ngàn trần lao
phiền não đều do hai thứ chấp NHƠN PHÁP mà ra. Thấy
biết rõ tánh chật VÔ NHƠN, VÔ PHÁP thì diệt hết khổ
nạn A tỳ trong sát na là chân lý đương nhiên vậy.
Người học
Phật, tu Phật không được THỀ. Vì thiết tha với chân
lý, vì muốn truyền trao chánh pháp trong sáng cho mọi
người con Phật, tác giả Chứng Đạo Ca phải thốt ra lời: như
cam kết, như tự THỀ để nói lên nỗi lòng thành thật
và tha thiết đối với chánh pháp.
"Được phép thệ, dù thề độc cũng xin cam nhận".
THI CA 3
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
SỰ NHIỆM MẦU CỦA
NHƯ LAI THIỀN
Phiên âm:
Đốn giác liễu Như Lai thiền
Lục độ vạn hạnh thể trung viên
Mộng lý minh minh hữu lục thú
Giác hậu không không vô đại thiên
Dịch
nghĩa:
Thoắt
chứng nhập Như Lai thiền định
Vạn hạnh tròn mà lục độ cũng châu viên
Còn mộng mơ, thấy có nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi ta bà tìm không ra dấu vết
TRỰC CHỈ
Người tu
hành, đến một lúc nào đó có thể chợt tỉnh thức và khi tỉnh
thức người ta có khả năng thể nhập, đi sâu vào. Như Lai
Thiền là thứ Thiền chỉ khi nào đến địa vị Như Lai mới có.
Thể nhập Như Lai Thiền đối với vạn pháp không cần tu mà
vạn hạnh tự nhiên đã sẵn đủ. Thể nhập Như Lai Thiền với
lục độ không cần hành mà hành một cách viên mãn rồi. Bởi
vì Như Lai Thiền là thứ Thiền viên mãn và siêu viên mãn
nữa.
Vậy
NHƯ LAI THIỀN là THIỀN như thế nào?
Đáp: Như Lai Thiền là Thiền không cần ngồi, vì nó vượt
cái cần thiết ngồi. Như Lai Thiền không cần định tâm vắng
lặng, vì nó vượt ngoài cái cần thiết định tâm vắng lặng.
Như Lai Thiền là thứ Thiền không cần gia công dụng ý để
thiền, mà thiền trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi và thiền ở
mọi nơi chốn, ở mọi thời gian. Như Lai Thiền là kết quả,
là THIỀN RỒI tất cả tám muôn bốn ngàn thứ thiền khác. .
Cho nên tỉnh thức và thể nhập Như Lai Thiền thì không đức
tốt, hạnh lành nào là không viên mãn.
Thành quả
của Như Lai thiền được đúc kết qua các tiêu chuẩn như sau:
1.
Thân vô thất
2.
Khẩu vô thất
3.
Ý vô thất
4.
Nhất thiết thân nghiệp tùy trí
tuệ hành
5.
Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí
tuệ hành
6.
Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ
hành
7.
Trí tuệ tri quá khứ vô ngại
8.
Trí tuệ tri hiện tại vô ngại
9.
Trí tuệ tri vị lai vô ngại
10.
Vô dị tưởng
11.
Vô bất định tâm
12.
Vô bất tri. Tri hỉ xả
13.
Dục vô giảm
14.
Niệm vô giảm
15.
Định vô giảm
16.
Tinh tấn vô giảm
17.
Giải thoát vô giảm
18.
Giải thoát tri kiến vô giảm
Có ngần
ấy tiêu chuẩn thì những đức tốt, hạnh lành trên cõi đời
này có cái thứ nào mà còn thiếu! "Lục độ vạn hạnh thể
trung viên", đối với con người "Đốn giác liễu Như Lai
thiền" hẳn không phải là thứ danh ngôn cường điệu.
Người đệ
tử Phật có học Phật thật, có ham tu thật và có hiểu kỹ về
Phật, người ta không thèm sợ sáu nẻo luân hồi như là: cảnh
giới địa ngục, cảnh giới ngạ quỷ, cảnh giới súc sanh, cảnh
giới người, cảnh giới A tu la, và cảnh giới trời ở ngoại
cảnh. Mà người ta chỉ quan tâm "Lục Thú" ở nội tâm. Lục
thú ở nội tâm nó trực tiếp tác động hoành hành cuộc sống
hiện tại của con người. Đó mới là đáng lo sợ.
Không sợ
sự luân hồi của lục thú nội tâm mà chỉ lo sợ sự luân hồi
lục thú ở kiếp tương lai thì quả là con người giàu tưởng
tượng! "Chẳng khác chi người chưa làm giàu mà sợ ăn cướp.
Chưa ăn cướp mà sợ ở tù!"
Vấn đề "đại
thiên thế giới, cõi Ta bà" có hay không? Vấn đề "Tây
phương Cực lạc" không hay có? Đó là vấn đề người học Phật
phải quán triệt sâu sắc.
Y cứ nền
giáo lý liễu nghĩa thượng thừa và sử dụng tuệ nhãn mà nhìn
vũ trụ vạn hữu trong pháp giới mười phương, thì pháp giới
chỉ có một. Pháp giới "nhất chân" không có hai, không có
pháp giới nào khác với pháp giới nào. Pháp giới có cùng
một bản thể "chân như" y nhau. Vì "chân" cho nên
không thể tiêu hoại cho mất đi. Vì "như" cho nên
không thể tăng bổ cho thêm nhiều. Vì "chân như" cho nên
mười phương pháp giới đồng một thể: Bất sanh, bất diệt,
bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Qua cái thấy của
tuệ nhãn, chỉ nói tuệ nhãn của người chủng tánh Đại thừa
thôi, pháp giới đã là "nhất chân" rồi. Do nghĩa đó, người
chứng đạo thấy rõ ràng:
"Còn
mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi ta bà tìm không ra dấu vết".
Người đệ
tử Phật có chánh niệm, có tư duy, có quán chiếu nội tâm sẽ
thấy rõ cái chân lý đó.
Kinh Hoa
Nghiêm đức Phật dạy:
"Nếu ai
muốn biết rõ
Mười phương Phật ba đời
Nên quán chiếu thể tánh của Pháp giới
Hết thảy do tâm mình kiến lập"
Do vậy:
"....Còn
mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi ta bà tìm không ra dấu vết".
THI CA 4
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ TỘI PHƯỚC VÀ THIỆN
ÁC
Phiên âm:
Vô tội phước, vô tổn ích
Tịch diệt tánh trung mạc vấn mịch
Tỉ lai trần kính vị tằng ma
Kim nhật phân minh tu phẩu tích
Dịch
nghĩa:
+
Tội là chi, phước lại
là chi?
Đa mang chi hai gánh nặng như chì!
Ai bắt tội? Ai là người chịu tội?
+ Thiện là chi, ác cũng lại là chi?
Sợ làm chi hai danh tự vô nghì!
Sợ cái đáng sợ! Lương tâm tự hành hạ lấy
+ Gương lòng sáng, xưa nay ta vốn có
Mặc cho bụi mờ vĩnh viễn chẳng quan tâm
Ngày hôm nay có cơ hội lau chùi
Sáng soi thấy, "phước" và "tội" không ai ban ai phạt
TRỰC CHỈ
Nền giáo
lý Phật nhằm đào tạo cho con người đức tánh tự tôn. Cái
nhân bản của con người là tối tôn và hoàn toàn trong sáng.
Con người hãy phát huy đức tánh vốn có ấy để mà sống một
cách tự tin ở khả năng, ở nơi nhân bản cao đẹp vốn có của
mình.
Người đệ
tử Phật không tôn trọng ai khác, ngoài nhân bản thanh cao
trong sáng, mà tác giả Chứng Đạo Ca gọi đó là "Bản nguyên
tự tánh thiên chân Phật" của chính con người. Vì vậy,
người đệ tử Phật, học Phật, tu theo đạo Phật không được sợ
bất cứ một thế lực "linh thiêng", một sức mạnh vô hình hay
một đấng thưởng phạt siêu nhiên nào đó, như một số người
nhẹ dạ dạ dễ tin thường sợ. Người theo đạo Phật chỉ sợ
nhân quả. Tâm não của con người là "căn cứ địa" phát xuất
và biểu hiện qua "nghiệp nhân" THIỆN hay ÁC.
Chữ "nghiệp" trong đạo Phật chỉ hành động THÂN của
KHẨU của Ý được biểu hiện cụ thể. Gieo nghiệp nhân
THIỆN sẽ gặt hái trái ngon, tốt lành. Gieo nghiệp
nhân BẤT THIỆN cũng sẽ được thu hoạch trái
không ngon, cay đắng...Nhân thế nào, quả thế ấy, như bóng
theo hình. Chung qui lại, do TÂM làm chủ hết. Tạo
nghiệp nhân thiện hay ác, sẽ tự nhận lấy quả khổ hay vui.
Hễ nhận lấy quả khổ thì người ta cho là do mắc TỘI. Nếu
nhận lấy quả vui thì người ta cho là được PHƯỚC.
TỘI hay PHƯỚC rõ ràng chỉ là kết quả của con
người gieo nhân THIỆN hay ÁC ở thời gian
trước đó mà thôi.
Đúng chân
lý mà nói thì không ai là người có quyền ban cho và không
ai là người phải chịu tội với ai cả.
Lập
trường bình đẳng của đạo Phật, biểu hiện cụ thể qua tính "bình
đẳng về nhân bản của mọi con người"
"Sáng soi
thấy: TỘI, PHƯỚC không ai ban và ai phạt".
THI CA 5
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ TĨNH TÂM VÔ NIỆM
Phiên âm:
Thùy vô niệm? Thùy vô sanh
Nhược thực vô sanh vô bất sanh
Hoán thủ cơ quan mộc nhân vấn
Cầu Phật thi công tảo vãn thành
Dịch
nghĩa:
* Ai là
người thường ước mơ vô niệm
Ai là người hằng mong đạt đến vô sanh
Vô niệm vô sanh là ước mơ cuồng vọng hảo huyền
Rất oan uổng! Hóa đá một kiếp người tràn đầy linh động.
* Để trắc nghiệm, xin hỏi, "ông Robot" người máy
Quả Bồ đề! Bao năm tháng nữa, ông thành?
Hỏi là hỏi vậy thôi, hỏi tức trả lời
Ai can đảm, đủ sức chờ "ông" giải đáp.
TRỰC CHỈ
Tu đạo
Phật, rất cần CHÁNH NIỆM mà không cần VÔ NIỆM.
Có thể nói: Có chánh niệm là có tất cả đức tốt, hạnh lành.
Có chánh niệm rất dễ thành công trên tám nẻo đường "bát
chánh". Suốt cuộc đời hóa đạo chúng sanh, đức Phật không
lúc nào rời chánh niệm. Chánh niệm nuôi lớn ngũ căn, chánh
niệm phát triển ngũ lực, chánh niệm giữ gìn thất thánh tài,
chánh niệm trưởng dưỡng thất giác chi. Chánh niệm cũng là
chất liêu bổ dưỡng để tưới tẩm, để đượm nhuần cho quá
trình phát triển của 18 pháp bất cộng của Như Lai Phật.
Tu Phật
mà mong cầu VÔ NIỆM là tu sai. Vô niệm thì còn ai
để biết, để tư duy chân lý và những gì phi chân lý!
Tu mà cầu
được vô sanh cũng là lối tu sai lạc. Trên cõi đời, có cái
gì không biến chuyển vận hành sinh diệt? Đá gỗ còn không
ra ngoài vòng vận động vô thường "hằng chuyển" sát na sanh
diệt, huống hồ là một hữu tình "tối linh ư vạn vật"!.
Mong trở
thành người VÔ NIỆM, cầu được chứng đắc VÔ SANH
là lý tưởng cuồng vọng sai lầm và không có ngày hiện thực.
Giả sử cái ngày hiện thực đến, con người VÔ NIỆM VÔ
SANH "tệ" hơn loài khoáng vật, thực vật vô tình.....Con
người hữu tình, vốn có tri giác lại trở thành người máy có
"cơ quan" điều khiển vậy thôi sao?
Việc làm
của người tu hành, tương tợ như việc làm của người huấn
luyện khỉ. Người huấn luyện khỉ có tài là "thuần hóa" được
khỉ, dạy khỉ làm trò, làm xiếc....theo ý muốn của mình.
Chứ huấn luyện khỉ làm cho "óc khỉ" trở thành chứng bệnh
phân liệt, không còn hoạt động được gì, đó không phải là
cách huấn luyện khỉ của người có tài, có trí.
Tu hành
cần có những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm không được
hiểu là những phút giây VÔ NIỆM.
VÔ
SANH là một ý niệm mà
người tu Phật phải từ bỏ dứt khoát. Vô sanh đồng nghĩa với
"đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của
ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!
THI CA 6
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
XẢ NGÃ XẢ PHÁP LÀ
THÀNH PHẬT
Phiên âm:
Phóng tứ đại mạc bả tróc
Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác
Chư hạnh vô thường nhất thiết không
Tức thị Như Lai đại viên giác
Dịch
nghĩa:
*
Thân tứ đại đừng sanh
tâm chấp đắm
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi?
Gọi là Ngã thể vẫn hư thì đời còn chi thật
* Các hành pháp luật vô thường chi phối hết
Tuệ nhãn nhìn, đương thể tức không
Hiểu sâu xa, quán chiếu tận nguồn chân
Tánh của vạn pháp, là NHƯ LAI VIÊN GIÁC
TRỰC CHỈ
Thân tứ
đại là thân kết hợp bởi bốn chất: địa, thủy, hỏa, phong.
Nó là cái thân bị lệ thuộc chi phối bởi luật vô thường như
vạn vật hiện tượng khác. Nó còn là cái kết quả của khổ và
bất an nhiều mặt. Kinh điển thường ví sự tạm bợ mong manh
vô chủ của nó qua từ "huyển thân". Ấy thế mà ở đời không
có mấy ai thấy được tánh chất huyển của nó. Trái lại người
ta rất quí trọng nó hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời. Điều
đáng nói là vì nó mà tạo nghiệp bất thiện, trong suốt cuộc
đời để phục dịch vun bồi cho nó không phút giây nhàm chán.
Ý niệm đam mê luyến ái nặng nề về thân, kinh điển gọi đó
là "chấp ngã", tức là quá tôn trọng cái thân. Rồi vì thân
mà tạo ác nghiệp, vì thân mà chịu khổ...
"Thân
tứ đại đừng sanh tâm chấp mắc
Quay trở về thể lắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi
Gọi là Ngã thể vẫn hư thì đời còn chi thật
"Phóng tứ
đại" con người sẽ nhẹ nhàng, sẽ có an lạc trong cuộc sống,
vì con người vốn có tánh vắng lặng, thanh tịnh, trong sáng,
có thể thọ dụng nó từ đời này sang đời khác vĩnh viễn
không có cạn kiệt.
Nhận thấy
được tánh chất "ngã không" thì "pháp không" không còn là
vấn đề khó biết nữa. Chủ thể nhận thức đã là vô thường, vô
ngã, khổ, bất tịnh và không, thì đối tượng nhận thức cũng
không vượt qua ngoài sự chi phối đó! Cho nên người đạt đạo
sẽ nhận thấy rõ:
"Chư
hạnh vô thường nhất thiết không".
Thấy được
tánh "giai không" của vạn pháp, thấy được tánh vô thường
của hành pháp, thì cái NĂNG TRI và SỞ TRI đó
trở thành bầu vũ trụ NHƯ LAI VIÊN GIÁC nhiệm mầu.
Lúc bấy giờ:
Ta
không cầu thành Phật
Phật cũng chẳng cầu thành ta
Ta là Phật
Phật là ta.
THI CA 7
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
LẬP TRƯỜNG VÀ LÝ TƯỞNG
CỦA MÌNH
Phiên âm:
Quyết định thuyết, biểu chân
tăng
Hữu nhơn bất khẳng nhiệm tình trưng
Trực triệt căn nguyên Phật sở ấn
Trích diệp tầm chi ngã bất năng!
Dịch
nghĩa:
* Nếu
được nói tôi lập trường thẳng thắn
Để tỏ ra lời của một chân tăng
Huynh đệ nghe, nghịch ý chẳng chung lòng
Gay gắt trách, tôi xin cam nhận hết
* Tôi
không thích ba hoa vặt vãnh
Thích học điều, Phật tổ đã đinh ninh
Diễn rõ căn nguyên "liễu nghĩa thượng thừa"
Không được vậy, tôi không còn gì để nói
TRỰC CHỈ
Quyết
định thuyết là lời nói có lập trường, có trách nhiệm, nhằm
bảo vệ mục đích và lý tưởng của mình. Lý tưởng của tác giả
là chánh pháp liễu nghĩa thượng thừa của Phật tổ đã đinh
ninh dặn dò khuyên dạy. Lập trường của tác giả là "nói
thẳng, nói thật". Nói để diễn tả chân lý, truyền bá chân
lý liễu nghĩa thượng thừa cho mọi người con Phật cùng học
hỏi, tiếp thu để hành đạo và chứng đạo. Không nói "vuốt
đuôi". Không nói để "chiếm cảm tình". Không nói kiểu "thỏa
hiệp". Không nói kiểu "phương tiện"....để rồi người nghe
không được tí nào lợi ích.
Học chánh
pháp, hành chánh pháp sống theo chánh pháp và truyền bá
chánh pháp không thể sử dụng các kiểu nói tầm thường vừa
kể. Để bảo đảm giá trị lời nói của một "chân tăng", một vị
thày đúng danh nghĩa của đệ tử mình, lời nói phải có lập
trường, phải phục vụ cho một lý tưởng giải thoát, giác ngộ
tuyệt vời cao đẹp.
Một chân
tăng, theo tác giả Chứng Đạo Ca, sẵn sàng chấp nhận cô
đơn, chấp nhận sự công kích, sự thóa mạ...của mọi người.
Hoặc sẵn sàng "không nói gì hết". Bao nhiêu ngôn ngữ
nhường hết cho....
THI CA 8
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
TÂM TÁNH LÀ NGỌC MA NI
Phiên âm:
Ma ni châu, nhân bất thức
Như Lai tàng lý thân thâu đắc
Lục ban thần dụng không bất không
Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc
Dịch
nghĩa:
Tâm trong
sáng người người ai cũng có
Nó là Ma Ni là Như Ý bảo Châu1
Chẳng mấy ai biết rỏ cái tâm nầy
Nó mầu nhiệm, thu gọn cả Như Lai tàng tánh2
Sáu thần dụng, thấy sắc mà phi sắc3
Một viên quang4, rằng không nhưng lại phi không
Nghĩa sắc không mầu nhiệm vô cùng
Chứng thật tướng mối nghi này mới mở
Chú
thích
(1) Ma Ni Châu: Dịch là
Ngọc Như Ý, Ngọc Như Ý là thứ ngọc
trong sáng màu sắc lung linh biến ảo vô cùng đẹp đẽ, như
thu hút hết cả sắc màu, cả sự sáng soi của vũ trụ vào
trong đó. Kinh Phật thường dùng ngọc Ma Ni để chỉ cho tâm
thanh tịnh trong sáng vốn có của con người.
(2) Như Lai Tàng Tánh: Chỉ bản thể bất biến tùy duyên của
vũ trụ vạn hữu. Vạn hữu ngàn sai muôn khác là diệu dụng
duyên khởi từ bản thể Như Lai Tàng mà có.Tâm là tên gọi
khác của Như Lai tàng.
(3) Sáu Thần Dụng: Sáu diệu dụng bất tư nghì của nhãn, nhĩ,
tỉ, thiệt, thân, và ý căn, khi con người hồi quang chân
tánh. Con người lúc bấy giờ chỉ xử dụng "tuệ nhãn" mà quan
sát vũ trụ vạn hữu, Nhục nhãn còn nguyên đó mà không còn
công dụng.
(4) Một Viên Quang: Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, tâm tròn
sáng, giác ngộ chân lý trọn vẹn. Đến địa vị này, con người
chỉ xử dụng "Phật nhãn" nhìn vũ trụ vạn hữu. Bốn thứ nhãn
trước kia không còn tác dụng.
TRỰC CHỈ
Con người
ai cũng có Chân Tâm. Tự thể chân tâm vốn trong sáng, thanh
tịnh, vắng lặng, nhiệm mầu. Trong Chân Tâm không có một
gợn phiền não khổ đñau bất mãn, bất bình. Cũng không có ý
niệm ta, người, thương, ghét, thân, sơ...Kinh điển Phật
thường ví Chân Tâm ấy như ngọc Ma Ni.
Ai cũng
sẵn có ngọc Ma Ni mà không biết mình có ngọc Ma Ni quý báu
ấy. Ngọc Ma Ni vô giá trong người mà không phát hiên để xử
dụng cái công dụng NHƯ Ý của ngọc. có ngọc Như Ý, con
người sẽ không còn gì để "thiếu". Phát hiện ngọc Như Ý, xử
dụng ngọc Như Ý, nhìn vạn pháp bằng "Phật nhãn" cho nên:
"Sáu thần dụng thấy sắc mà phi sắc
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không"
Vì, người
phát hiện ngọc Như Ý, xử dụng ngọc Như Ý, là người chứng
thật tướng của vạn pháp rồi.
"...
Chứng thật tướng vô nhân pháp
Sát na diệt khước A tỳ nghiệp"....
THI CA 9
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
MỐI TƯƠNG QUAN CỦA
NGŨ NHÃN VÀ NGŨ LỰC
Phiên âm:
Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực
Duy chứng nãi tri nan khả trắc
Kính lý khán hình kiến bất nan
Thủy trung tróc nguyệt tranh niêm đắc
Dịch nghĩa:
Tịnh ngũ
nhãn, sẽ kéo thêm ngũ lục
Chung môi trường mới biết được diệu dụng kia
Rủ giành trăng, đáy nước...chuyện còn khuya!
Đứng trước kính, ngắm thân hình là việc dễ!
TRỰC CHỈ
Giáo lý
đạo Phật dạy rằng, con người có khả năng và quyền xử dụng
"ngũ nhãn"." Khả năng" và "quyền" thì mọi người đều có
quyền thừa hưởng, xử dụng bình đẳng. Tuy nhiên, đây là thứ
bình đẳng có điều kiện. Mọi người phải cùng ở "môi trường
TU" thì mới cùng được ở trong "môi trường CHỨNG".
"Tịnh ngũ
nhãn" là người đạt đến giai đoạn CHỨNG. Ngũ nhãn
đoạt đến giai đoạn CHỨNG ĐẮC THANH TỊNH thì chỉ có
người tự chứng được biết. Người khác môi trường nói và kể
cho họ nghe hoặc họ bảo kể cho nghe, chẳng khác "Rủ nhau
giành trăng ở đáy nước" hy vọng gì người khác môi trường
bảo họ hiểu hoàn cảnh của riêng mình. Phải cùng đứng trong
vườn LAN HUỆ mới cùng thưởng thức được mùi hoa lan huệ.
Phải cùng đứng nơi chợ cá ươn, mới thắm thía "hương vị"
của chợ bán cá ươn.
Vì vậy,
TỊNH NGŨ NHÃN, ĐẮC NGŨ LỰC là chuyện có thực, nhưng
diễn đạt cảnh giới thanh tịnh của "ngũ nhãn" của mình cho
người khác nghe biết là điều không dễ. Bảo người khác phải
nghe và phải hiểu về cảnh giới CHỨNG ĐẮC của mình lại càng
khó, khó đến nỗi tác giả Chứng Đạo Ca ví với chuyện "Rủ
nhau giành trăng đáy nước"
Ngũ nhãn
là năm thứ mắt, nói cách khác là năm cách "tư duy" mà cùng
một cách ngó nhìn. Đó là: nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn,
tuệ nhãn và Phật nhãn.
Ngũ nhãn
thanh tịnh, con người tự có năm thứ sức mạnh , đủ sức tiến
mạnh trên con đường Bồ đề Vô thượng. Đó là:
CHÁNH TÍN, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH VÀ
TRÍ TUỆ BA LA MẬT.
Điều đó
nói với ai? Dễ có mấy người biết! Dễ có mấy người tin! Đó
là
"...Duy chứng nãi trí, nan khả trắc" Họ không tin, không
đáng trách, vì họ khác môi trường.
THI CA 10
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
NHỮNG PHÚT GIÂY TỰ NHŨ
Phiên âm:
Thường độc hành thường độc bộ
Đạt giả đồng du niết bàn lộ
Điệu cổ thần thanh phong tự cao
Mạo tụy cốt cang nhân bất cố
Dịch
nghĩa:
* Tôi
chấp nhận cô đơn trên đường đạo
Vui một mình, vui theo nhịp bước chân đi
Tôi những mong có pháp lữ chung lòng
Cùng tiến bước vào Niết bàn thường lạc
* Không như ý, tôi nguyền làm người cổ lỗ
Sống theo mình, sống với gió mát trăng thanh
Dù xương trơ, thân đét, thịt teo gầy
Không ân hận, tôi vui với lập trường kiên định ấy.
TRỰC CHỈ
Những
phút giây TỰ NHỦ của tác giả CHỨNG ĐẠO CA, HUYỀN
GIÁC, nói lên ý chí quyết liệt và xác định lập trường
kiên định của mình trên con đường hành Đạo. Thực vậy, tu
hành mà không có mục tiêu cho ý chí vương lên, không có
lập trường để định hướng cho hành động, để rồi bạ đâu theo
đó, "vui đâu chúc đó", "nghe đâu tin đó" thử hỏi một cuộc
đời như thế con người đó sẽ ra sao?
Xác
định lập trường là việc cần
Ý chí quyết liệt cũng là việc cần
Chấp nhận cô đơn cũng lại là việc cần
Nhưng
người tu hành cũng không biến mình trở thành một con người
lập dị. Lập dị mà một thói xấu trong muôn ngàn thói xấu.
Cho nên lập trường của tác giả: có thể "cô đơn", có thể "vui
một mình", nhưng rồi:
"...Tôi
những mong có pháp lữ chung lòng
Cùng tiến bước vào Niết bàn thường lạc..."
Chưa hết,
nếu ý chí đó, lập trường đó mà không được toại nguyện, vì
một lý do gì đó thì tác giả lại xác định lập trường thêm
một bước nữa: Tác giả có thể trở thành người lang thang
nơi thâm sơn cùng cốc, hoặc lê bước chốn cỏ nội hoa đồng
để được sống cho lý tưởng của mình mà mình đã vạch ra bằng
bao nhiêu nhọc nhằn trên những năm tháng dài tu học.
Tác giả
bằng lòng với cuộc sống đó:
"...Không
như ý, tôi nguyền làm người cổ lỗ
Sống theo mình, sống với gió mát trăng thanh"
Cuối cùng,
tác giả nâng lập trường lên một cấp cao hơn để "kiên định
hóa" ý chí của mình trở thành như một lời tuyên thệ:
"...Dù
xương trơ, thân đét, thịt teo gầy
Không ân hận, tôi vui với lập trường kiên định ấy"
Xem Tiếp