|
THI CA 11
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỚI DANH XƯNG BẦN ĐẠO
Phiên
âm:
Cùng Thích tử, khẩu xưng bần
Thực thị thân bần đạo bất bần
Bần tắc thân thường phi lũ hạt
Đạo tắc tâm tàng vô giá châu
Vô giá châu, dụng vô tận
Lợi vật ứng cơ chung bất lận
Tam thân tứ trí thể trung viên
Bá giải lục thông tâm địa ấn.
Dịch
nghĩa:
* Người
Thích tử với danh xưng BẦN ĐẠO
Thân có BẦN, ĐẠO có BẦN chi!
BẦN biểu hiện áo khâu áo vá
ĐẠO không BẦN, tâm chứa NHƯ Ý châu
(1)
* Ngọc NHƯ Ý, dùng sao cho hết
Nó chứa đầy TỨ TRÍ(2), TAM THÂN(3)
Vẹn LỤC THÔNG(4), BÁT GIẢI(5)
cùng tròn
TÂM ĐỊA sáng độ sinh vô cùng số.
Chú thích:
(1) Như Ý Châu:
Xem trang 36 thi ca 8.
(2)
Tứ trí: Thành sở tác trí, Bình đẳng tánh trí, Diệu quán sát
trí, Đại viên cảnh trí.
(3)
Tam Thân: Pháp thân, Báo thân, Hóa thân.
(4)
Lục Thông: Thiên nhãn thông - Thiên nhĩ thông - Tha tâm
thông - Thần túc thông - Túc mạng thông - Lậu tận thông.
(5)
Bát Giải: Nói đủ: Bát Giải thoát. Tám đối tượng sở quán của
người Tiểu thừa tham thiền.
TRỰC CHỈ
Người đạo
sĩ trong đạo Phật hoặc cũng có hàng đạo sĩ không phải đạo
Phật, thường tự xưng BẦN ĐẠO. Bần đạo là cái từ khiêm
tốn nhúng nhường, về kiến thức, đạo hạnh và phước đức...của
một đạo sĩ. Nhưng theo tác giả Chứng Đạo Ca thì người đạo sĩ
của Phật giáo phải là người giàu chứ không được nghèo. Người
đạo sĩ phải phát hiện Như Ý châu vô giá của mình để lợi vật
ứng cơ trên đường sự nghiệp.
Người đạo
sĩ "Thân bần", "Khẩu bần" có lợi hơn. Nhưng tâm thì không
thể "bần". "Thân bần", "Khẩu bần", hạn chế ngã mạn cống cao
để tiến tới diệt trừ cái "bản ngã", vĩ đại tiềm phục trong
A-lại-gia thức của con người muôn thuở. Đạo tâm không thể "bần",
cần có đủ những chất lượng như: Tam thân, tứ trí, bát giải,
lục thông....và nhị đế dung thông tâm địa ấn nữa. Được vậy,
mới thuyết pháp độ sinh, lợi mình, lợi người, mới là vị "thầy"
đúng nghĩa của người "bần tăng" trong dòng thích tử. Cho nên
người Thích tử:
..."Khẩu
xưng BẦN, ĐẠO bất bần"
Cái Bần của
người Thích tử nghèo biểu hiện mặc áo chấp "phước điền y".
BẦN để làm ruộng phước cho chúng sanh, chớ không
BẦN để than van, cầu cạnh, để "quyên tởi" quá nhiều cách
ấy.
Theo ý chí
của tác giả Chứng Đạo Ca, Huyền Giác thì BẦN ĐẠO của
dòng họ Thích, là con người thân BẦN, khẩu BẦN
còn tâm ý phải là đại phú, phải phát hiện NHƯ Ý châu
vốn có của mình thì sự nghiệp mình mới rạng rỡ, mới xứng
đáng ít nhất là "trung lưu chi sĩ" đó là cơ hội, là điều
kiện..."Báo Phật ân đức của mình".
THI CA 12
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ CHỦNG TÁNH CĂN CƠ
Phiên âm:
Thượng sĩ nhất quyết nhất thiết
liễu
Trung hạ đa văn đa bất tín
Đản tự hoài trung giải cấu y
Thùy năng hướng ngoại khoa tinh tiến?
Dịch
nghĩa:
* Rồi tất
cả, khỏi tu không cầu chứng
Đó là hạng Đại thừa, Thượng sĩ tối lợi căn
Diệt KIẾN TƯ diệt sạch hết cái TRIỀN
Rồi tất cả, mà khỏi để tâm tu chứng
* Bậc Trung hạ, những căn cơ thấp kém
Học thì nhiều, học trích cú tầm chương
Luôn mồm khoe, học vị với văn bằng
Cởi áo bẩn, còn không biết đường mở nút!
TRỰC CHỈ
Đứng bên "bình
đẳng môn" thì Phật tánh ai cũng có như ai. Đứng bên "sinh
diệt môn": thì vấn đề CHỦNG TÁNH, CĂN CƠ, góp phần
rất quan trọng cho sự "nhất quyết" "nhất thiết liễu" của
người tu hành. Phải cương quyết, phải nhất quyết, quyết định
cho mình một hướng đi, một mục đích đến mà không thể do dự,
phân vân bán nghi bán tín, bởi vì NGHI là một trong "Tư
hoặc", trong "Thập sử", trong "Ngũ cái".
Một khúc gỗ
ở thượng nguồn, muốn trôi đến biển cả phải vượt qua năm điều
cấm kỵ: không được trôi tắp hai bờ. Không để cho người vớt.
Không theo nước xoáy mà trôi. Không vướng vào cồn đảo. Tự nó
không ruỗng mục bên trong. Phải thẳng tắp mà trôi mới ra
biển được. Chần chờ, do dự "không nhất quyết" thì không đến
đích giải thoát giác ngộ được. Vì còn vướng, còn "tắp" chưa
chịu trôi!
Học theo
kiểu tầm chương trích cú, học hiểu để ngâm phong vịnh nguyệt,
uốn ba tấc lưỡi nói chuyện trên mây, trên "trời" để dọa hù
những người cả tin nhẹ dạ. Với cuộc sống của tự mình, việc
làm, chuyện nói rặt mùi ám chướng u mê. Hở môi ra thì khoe
khoang học vị văn bằng. Chạm mặt với phiền não đành nằm gác
tay lên trán mà chịu đựng cho lương tâm hành hạ. Miệng oang
oang nói về Cực lạc, Thiên đường, lòng u uẩn đắm chìm trong
A tỳ ngục.
Đó là cái
học của kẻ "hạ lưu". Dưới nhãn quan của tác giả Chứng Đạo
Ca, vấn đề Chủng Tánh Căn Cơ, người Thích tử phải lưu tâm
bồi dưỡng nó.
THI CA 13
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VẤN ĐỀ THỊ PHI
Phiên âm:
Tùng tha báng, nhậm tha phi
Bả hỏa thiêu thiên đồ tự bì
Ngã văn kháp tự ẩm cam lộ
Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì
Dịch
nghĩa:
* Tốt và
xấu nhà nhà đều có
Thị với phi, chốn chốn "hưởng" đồng nhau
Mặc tâng khen, mặc phỉ báng, đừng nao
Họ tự bỏng bằng ngọn lửa đốt trời trong tay ho
* Lời phỉ báng, nghe như ru, như gió thoảng
Ngọt như cam lồ, mát tợ xuân phong
Tìm đâu ra ! Bực bội với u sầu ?
Nó tan biến trong cảnh giới "bất tư nghì" giải thoát
TRỰC
CHỈ
Thị phi,
nhơn ngã, hỉ nộ, ái ố... suốt ngày ở đâu cũng có, nhà nhà
đều có. Hay dở, khen chê, tốt xấu, xứ nào cũng có. Tất cả
những cái đó, muốn cho nó trở thành không có, thì: Một,
không nghe. Hai, nghe mà không để dạ, không tư duy về nó,
thì tự nó "tiêu dung".
"Tiêu
dung đốn nhập bất tư nghì"
Đó là việc
có thật. Mọi người đều có thể thí nghiệm bằng cuộc sống của
mình, trong trường hợp mình "lỡ" bị thị phi ập đến.
Người tu
hành rất cần "chánh niệm" để kịp thời đối phó với nghịch
cảnh, nếu có. Trường hợp bị phỉ báng, thị phi, ta nhớ: Họ tự
bỏng bằng ngọn lửa đốt trời trong tay ho. Miệng họ tự ô uế
trước, vì máu họ ngậm để phun người. Quán chiếu và tư duy
như vậy, người tu sẽ nhẹ nhõm ngay, cơn bực tức sẽ hạ tức
thời, nếu chánh niệm đến kịp lúc.
Người chân
tu nghe thị phi như gió thoảng, như ru hời, ngọt như cam lồ,
mát như xuân phong, tỉ tê như nhạc thính phòng, nỉ non như
tiếng sáo Trương Lương....là chuyện có thật. Đó là ý thú của
câu và của người:
"Kiến sắc
phi can sắc
Văn thanh bất nhị thanh
Sắc thanh vô quái ngại
...Thị đáo pháp vương thành"
"Ngã văn kháp tự ẩm cam lộ
Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì
Là chuyện
có thật của người chân tu, biết tu, thường giữ được..."Chánh
niệm" và chánh định trong đời sống tu hành.
Tu mà không
đem lại kết quả, không hóa giải được vô minh phiền não,
không có chút an lạc nào trong đời sống hiện tại là "Tu sai"
cần phải sửa.
Hy vọng kết
quả ở đời sau, sau khi chết càng sai nghiêm trọng.
THI CA 14
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ SỰ HỦY BÁNG
Phiên âm:
Quán ác ngôn thị công đức
Thử tắc thành ngô thiện tri thức
Bất nhân sáng báng khởi oan thân
Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực
Dịch
nghĩa:
* Lời sĩ
nhục ta nghe như răn dạy
Người dạy ta là thiện tri thức của ta
Nhờ ân sư mà đạo lực kiên cường
Lòng thánh thiện, ta thọ dụng vô vàn an lạc
* Câu hủy báng ta không quan tâm để dạ
Kết oan cừu nào có lợi chi
Để chứng minh sức TỪ, NHẪN vô sanh
Hãy mở rộng cửa lòng bao la như biển
TRỰC CHỈ
Người nói
được cái xấu, dở của ta, người đó đáng là THIỆN HỮU TRI
THỨC. Lời hủy báng, sỉ nhục nếu ta có đạo lực, chánh
niệm vững vàng thì sự kiện đó làm cho ta tăng thêm nghị lực
trên bước đường hành đạo. Cho nên:
"Quán ác
ngôn thị công đức"
Đó là điều
có thật đối với người chân tu thực học, nghe sỉ nhục, hủy
báng mà giận mà thù thì làm sao tỏ rõ được sức TỪ BI,
NHẪN NHỤC và VÔ SANH của một Thích tử. Phải biểu
lộ và chứng tỏ sức: TỪ, NHẪN, VÔ SANH của đạo Phật
qua những "ác ngôn" những "sáng báng" mà không được khởi "oan
thân". Cái thấy của người chứng đạo, quan niệm vấn đề là như
thế.
"Nhiêu,
nhiêu, nhiêu thiên tai vạn họa nhất tề tiêu"
"Nhẫn, nhẫn, nhẫn oan gia trái chủ tùng thử tận"
"Mặc, mặc, mặc vô hạn thần tiên tùng thử đắc"
THI CA 15
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
ĐỊNH HUỆ LÀ NHÂN TỐ
QUYẾT ĐỊNH
QUẢ BỒ ĐỀ NIẾT BÀN
Phiên âm:
Tông diệc thông, thuyết diệc thông
Định tuệ viên minh bất trệ không
Phi đản ngã kim độc đạt liễu
Hằng sa chư Phật thể giai đồng
Dịch
nghĩa:
Chánh giáo
giỏi, thuyết giáo hẳn là sâu sắc
Định tuệ tròn, sẽ không vướng CÓ và KHÔNG
Không riêng tôi, có được sự kiện này
Hằng sa Phật, ĐỒNG THỂ không ngoài chân lý ấy
TRỰC CHỈ
Thiền định,
trí tuệ và sự thông minh là ba môn rất cần phải có của một
tu sĩ Phật giáo.
Chỉ có
thông minh thôi, sẽ trở thành "Thế trí biện thông" tài tình
cho lắm thì cũng chỉ là người giỏi phục vụ cho ăn, mặc, ở,
ngủ...suốt đời, mà khó có một ngày bằng lòng trọn vẹn. Người
ta phải "chịu đựng" và "chịu đựng"....
THIỀN
ĐỊNH đối với tu sĩ
Thích tử không thể thiếu. Thiền định quan trọng với tu sĩ ví
như chất muối quan trọng với những "đầu bếp" nêm nếm các món
thực đơn đang nấu của mình. Thức ăn không thể không có muối,
nhưng muối tự nó không thành thức ăn ngon được. Vì vậy, tu
thiền định phải là thứ định có tư duy, phát sanh trí tuệ.
Nhận thức chân lý trong lúc định cũng như lúc xuất định, ấy
là định đúng. Trái lại, định để đi vào vô tri vô giác như
tượng gỗ đá là định không có tuệ, đó là định sai lầm, vô ích.
Khác hơn định vô tri vô giác, người thiền định bằng cách
tưởng tượng. Vận dụng trí tưởng tượng: Rằng ta đến cõi trời,
ta vào động tiên, ta gặp đức Phật v..v.Đấy cũng là một thứ
định không tuệ. Thứ định này sai lạc sẽ không đem lại kết
quả mà còn nguy hiểm cho hệ thần kinh. Thứ định này càng sâu
thì "lậm" càng nặng, có dẫn đến bịnh "tâm thần" loạn trí mà
người bị "lậm" tưởng mình đang sinh hoạt giao du với thần
thánh, Phật trời...
Định dẫn
đến vô tưởng, vô tri giác sẽ rơi vào bệnh chấp KHÔNG,
chối bỏ vạn vật hiện hữu.
Định để mà
tưởng tượng, xuất hồn đi đây đó, gặp thánh, gặp Phật....sẽ
rơi vào bệnh chấp CÓ, cảnh giới do hoang tưởng mà tự
thấy.
Thiền định
của đạo Phật, ĐỊNH là NHÂN, TUỆ là
QUẢ. Tuệ phải là "tuệ" do chánh định, chánh niệm, chánh
kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn,
chánh mệnh. Đối tượng tư duy quán chiếu là chân lý cuộc đời.
Do vậy, với
cái thấy của người chứng đạo:
"Định tuệ
viên minh bất trệ không...."
THI CA 16
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ CHÁNH PHÁP CỦA NHƯ
LAI
Phiên âm:
Sư tử hống, vô úy thuyết
Bách thú văn chi giai não liệt
Hương tượng bôn ba thất khước uy
Thiên long tịch thính sanh hân duyệt
Dịch
nghĩa:
Tiếng PHÁP
chánh, tựa tiếng gầm sư tử
Bách thú nghe, như vỡ óc xé tim gan
Lời Như Lai, lời vô úy trong trời người
Hương tượng khiếp, còn nói chi nai và chó chóc
TRỰC CHỈ
Pháp âm của
Phật thuyết thường được ví tiếng gầm của sư tử (sư tử hống)
hoặc "hải triều" hoặc "chuyển pháp luân". Những từ đó dùng
chỉ chân lý có một sức "uy hùng" như tiếng gầm của chúa sơn
lâm, sức "áp đảo" như tiếng "gào" của sóng biển, sức "đè bẹp"
như sức cán sỏi của "hủ lô".
Chánh pháp
phá tà thuyết dễ như ánh sáng chiếu bóng tối, phá mê tín dị
đoan huyền hoặc siêu hình dễ như "hủ lô" cán sỏi....
Chỉ có
người trí, hàng chư thiên (tức hạng người có gieo trồng
thiện nhân, có phước đức) nghe, sanh tâm hoan hỉ và hưởng
được an lạc, ngay trong cuộc sống.
THI CA 17
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
SANH TỬ BẤT TƯƠNG CAN
Phiên âm:
Du giang hải, thiệp sơn xuyên
Tầm sư phỏng đạo vị tham thiền
Tự tùng nhận đắc tào khê lộ
Liễu tri sanh tử bất tương can
Dịch
nghĩa:
Tôi đi khắp
núi, sông, rừng, duyên hải
Để tầm sư hỏi đạo, học tham thiền
Cho đến ngày, tôi tiếp nhận chỉ thú TÀO KHÊ
Sự sanh tử, chẳng đáng gì để tâm dính dáng.
TRỰC CHỈ
Là con
người không ai dám xem nhẹ vấn đề sinh tử. Ai cũng lo âu, sợ
hãi canh cánh suốt cuộc đời.
Với tuệ
giác vô thượng của đức Phật mà người đạo sĩ tu học, có quán
chiếu tư duy, nhận thức được chân lý thì sự sinh tử không
phải là việc đáng sợ hãi, đáng để tâm ôm ấp, để rồi khổ đau
vì nó, mà cuối cùng cũng không tránh khỏi. Thế là "lỗ lã", "thiệt
thòi". Tìm lý do ? Chỉ vì "chấp", vì bệnh chấp ngã, chấp
pháp của con người. Đáng lý con người được hưởng sự tự tại,
giải thoát ngay trong cuộc sống, thế mà mất hết !
Từ khi tác
giả Chứng Đạo Ca tiếp nhận chỉ thú TÀO KHÊ:
"Ung dung
không làm lành
"Vội vàng không tạo ác
"Bằng bặc không thấy nghe
"Thênh thang tâm không dính"
Do vậy, vấn
đề sinh tử chẳng dính vào được. Há chẳng phải:
"Sanh tử
bất tương can ?"
THI CA 18
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ ĐẠI THỪA THIỀN
Phiên âm:
Hành diệc thiền, tọa diệc thiền
Ngữ mặc động tĩnh thể an nhiên
Túng ngộ phong đao thường thản thản
Giả nhiêu độc dược dã nhàn nhàn
Dịch
nghĩa:
Tu THIỀN
tọa, không phải ngồi mới "tọa"
Thiền cả đi, khi đứng lúc cần nằm
Dẫu gươm đao dọa dẫm vẫn bình tâm
Phải độc dược, cố giữ lòng thanh thản.
TRỰC CHỈ
Xét cho kỹ
mọi sinh hoạt ở đời, người ta sẽ thấy THIỀN là một
môn luyện tập thuộc phạm trù nội tâm, một phương pháp điều
TÂM hiệu quả. Do vậy, người ta ứng dụng hầu hết mọi
lãnh vực, mọi ngành nghề. Thiếu chất THIỀN khó mà
phát triển tài năng kể cả hai mặt: sinh lý và tâm lý. Muốn
đánh trúng chỗ nhược của đối phương, người võ sĩ phải thiền.
Nấu ăn thật ngon, người đầu bếp phải có thiền. Phát minh một
khoa học, một vật lý, một dược liệu mới, nhà bác học phải có
thiền...Đó là thế gian THIỀN.
Ở lãnh vực
"tôn giáo", còn có ngoại đạo thiền, tiểu thừa thiền.
"Hành
diệc thiền, tọa diệc thiền
"Ngữ mặc động tĩnh thể an nhiên..."
Đấy thuộc
ĐẠI THỪA THIỀN. Tại sao Đại thừa thiền có một phong
thái xem thường những đe dọa, chết chóc ? Chừng nào THIỀN
GIẢ giải đáp được câu hỏi đó thì mới hiểu được rằng
ĐI, ĐỨNG, NGỒI, NẰM, đều không rời THIỀN của Đại
thừa THIỀN.
Than ôi !
"Duy
chứng nãi tri nan khả trắc
"Kính lý chiếu hình khán bất nan
"Thủy trung tróc nguyệt tranh niêm đắc".
THI CA 19
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ SINH TỬ
Phiên âm:
Kỷ hồi tử, kỷ hồi sinh
Sinh tử du du vô định chỉ
Ngã sư đắc kiến Nhiên Đăng Phật
Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên
Dịch
nghĩa:
Việc sinh
tử kể sao cho cùng số...
Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi
Bổn sư ta vô lượng kiếp phát tâm lành
Làm tiên nhẫn nhục, tu hành từ thời NHIÊN ĐĂNG cổ
Phật.
TRỰC CHỈ
Ham sinh sợ
tử là việc bình thường. Bởi vì người đời quan niệm rằng "đời
có một lần". Một lần sinh ra. Một lần thi đỗ. Một lần kết
hôn và đáng sợ nhất, một lần chết. Cuối cùng chết là hết !
Dưới nhãn
quan của người chứng đạo: vạn pháp không có cái gì mất hẳn.
Vạn pháp là hiện tượng vô thường nhưng chúng duyên sanh từ
bản thể chân thường. Vì vậy, việc sinh tử không thể luận
kiếp số, không có sự chấm dứt dòng sinh tử. Dòng sinh tử tử
sinh cứ trôi mãi không có bến bờ dừng trụ.. Nó "hằng" mà "chuyển".
"Chuyển" trong cái "hằng".
"...Tử
rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi"
Không phải
chỉ có con người mới tử sinh vô cùng vô tận về kiếp số. Qua
cái thấy của người chứng đạo, Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
của ta cũng vậy, chư Phật trong mười phương ba đời cũng cùng
thọ dụng một chân lý.
"...Việc
sinh tử kể sao cho cùng số..."
THI CA 20
CÁI THẤY CỦA
NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ THÚ VUI CỦA THIỀN GIẢ
Phiên âm:
Nhập thâm sơn trụ lan nhã
Sầm ngâm u thúy trường tòng hạ
Ưu du tĩnh tọa dã tăng gia
Khuých tịch an cư thật tiêu sái !
Dịch
nghĩa:
Vào rừng
thẳm, trụ am thanh tĩnh mịch
Dưới cội tùng, bên gộp đá bóng râm che
Làm Tăng quê, vui sâu trong tĩnh tọa, trong êm đềm
Cảnh lặng lẽ, an lành sao nói hết..!
TRỰC CHỈ
Là con
người, ai cũng như ai. Ngày ngày lo toan sinh kế, phục vụ
bản thân gia đình, thừa ra đóng góp phần cho xã hội. Ngoài
những ngày giờ làm việc mệt nhọc, mỗi người dành cho mình
một cách "giải trí", một "thú vui". Thú vui xem phim, thú
vui đọc sách, thú vui đánh cờ, thú vui câu cá, thú vui ca
nhạc.
Dưới mắt
người chứng đạo, người đạo sĩ cũng có thú vui, một thú vui
khác tất cả thú vui của người thường. Thú vui của đạo sĩ,
người thường nghe có thể không thấy có gì vui. Vì người ta
không thưởng thức nổi cái hương vị giải thoát thâm trầm, sâu
kín, mầu nhiệm của tâm hồn người đạo sĩ.
Nói một
cách khẳng định rằng, người đạo sĩ có thực tu, tu đúng chánh
pháp, người đạo sĩ đó thưởng thức trọn vẹn cái vui "vô vi"
mà người thường không có cơ hội thưởng thức. Thú vui VÔ VI
muốn thưởng thức nó, còn có cách là phải theo dấu chân của
người trước đã đi qua.
"Vào rừng
thẳm, trụ am thanh tĩnh mịch
"Dưới cội tùng, bên gộp đá bóng râm che
"Làm Tăng quê, vui sâu trong tĩnh tọa, trong êm đềm
"Cảnh lặng lẽ, an lành sao nói hết..!"
Xem Tiếp
|