|
BẢY NGÀY KHAI
THỊ PHẬT THẤT
Hòa
thượng Diệu Liên
NGÀY THỨ NHẤT
Núi non
đêm ngày thanh tỉnh,
Danh hiệu
Phật rửa sạch trần tâm.
1.- Trời
cao không phụ công lao người khổ nhọc
Chư vị về chùa
Linh Nham tu Phật thất, ngày nay chỉ là ngày đầu tiên của
khóa tu. Chư vị biết niệm Phật rất tốt, song trong khi niệm
Phật cần phải giữ nhịp độ ổn định, không nên niệm cao quá,
sẽ tổn hao thần lực, cũng không nên niệm nhỏ quá, sẽ bị hôn
trầm. Nhịp độ niệm phải vừa phải, không nhanh cũng không
chậm. Vì thời gian chúng ta còn dài, chúng ta niệm Phật làm
sao phải như dòng suối tuôn chảy, êm đềm mà không gián đoạn.
Có như thế thân tâm mới an tịnh, nghiệp chướng mới tiêu trừ,
phước đức mới tăng trưởng. Nếu có thể niệm niệm không gián
đoạn thì đạo nghiệp nhất định sẽ mau thành tựu.
Cách dụng công niệm Phật phải như thế nào?
Chúng ta phải có thời gian, công phu tu tập phải trường kỳ
khổ nhọc mới có thể thành tựu, cho nên tục ngữ có câu: “Trời
cao không phụ người khổ nhọc” ý là thế. Ðây là ngày khởi
điểm của khóa tu, chư vị phải dụng công cho tốt, có như thế
những ngày còn lại mới có kết quả. Ðiều đáng sợ nhất của
người tu niệm Phật là không có tâm thành kính.
2.- Trong
cung kính ngoài mới chí thành
Phật pháp có
thành tựu hay không cũng ở tâm chí thành, cho nên người xưa
có nói: “Trong cung kính, ngoài mới chí thành”. Nội tâm nếu
có thành kính sẽ biểu hiện ra bên ngoài sự cung kính. Hiện
tại, chư vị đang chắp tay nghe khai thị, hành động chắp tay
là hành động biểu hiện cho sự cung kính của nội tâm. Nếu chư
vị có tâm thành kính, không bảo chư vị chắp tay, chư vị cũng
tự nhiên chắp tay, không bảo chư vị quỳ, chư vị cũng tự quỳ.
Chắp tay là hành động thể hiện cho sự cung kính. Nếu chư vị
thấy chắp tay là việc khó nhọc thì tạm thời có thể bỏ xuống.
Hiện tại, chúng tôi nghiêm khắc bắt chư vị chắp tay, là muốn
cho chư vị có hành động cung kính. Hành động chỉ là biểu
hiện của thân, chẳng những thân cung kính, mà miệng phải
niệm niệm rõ ràng, tai nghe rõ ràng, tâm cũng thấu suốt rõ
ràng, tâm miệng nhất như. Nếu chư vị mặc niệm, tuy miệng
không niệm, tâm phải luôn luôn niệm, tai cũng nghe rõ ràng.
Tai và tâm nhất như, niệm Phật một thời gian dài, thân tâm
sẽ an nhiên, lúc đó chư vị sẽ không còn thấy chắp tay là
việc khổ nhọc nữa.
Chắp tay chỉ
là phương tiện, song trong khi ngồi công phu, nhất định mọi
người cần phải ngồi xếp bằng, tối thiểu nhất là phải ngồi
được bán già, vì sao? Vì chân không chịu đau được thì thời
gian công phu sẽ ít, dẫn đến công phu tâm lực không tương
ưng, tâm khó an định. Vì thế, chư vị phải nhẫn nhịn chịu đau
một thời gian thì công phu mới có thể tiến bộ vào sâu được,
sự nhẫn nhịn đó cũng phải xuất phát từ tâm thành kính. Vạn
sự khởi đầu nan. Ban đầu chư vị thấy khó chịu nhưng dần dần
sẽ quen thôi, chúng ta có ý chí quyết tâm hay không đó mới
là quan trọng.
3.- Người
học đạo như kẻ chèo thuyền ngược nước
Người tu đạo
thuận duyên không có, thế nhưng chướng duyên lại nhiều. Ðơn
giản nói về thân thể thôi, nếu không được khỏe một tí, công
phu tu hành đã bỏ bê, ngồi thiền một chút đã không chịu được,
hà huống là làm công việc gì lớn, đó là do nghiệp chướng của
chúng ta từ vô thỉ đến nay. Nghiệp chướng thì dày trong khi
thiện căn lại mỏng. Chúng
ta đã tạo tác nghiệp chướng rất nhiều.
Song, người có thiện căn,
tuy biết dụng công tu hành
là khổ nhọc, biết nghiệp
chướng tuy nặng, thế nhưng họ lại không sợ chướng
ngại mà lại còn phát tâm
tu hành, để tiêu trừ nghiệp chướng, hạng người
này rất có hy vọng. Ngược
lại, người biết nghiệp chướng của mình đã nặng rồi,
thấy tu hành khó khăn, lại nản
chí, dù có gặp được thiện
duyên đi chăng nữa, cũng khó phát tâm tu hành. Do đó,
chúng ta phải xét lại mình là người có thiện căn hay không,
phải dùng trí tuệ chiếu
soi lại chính mình. Ðã biết mình là
người có nghiệp dày phước
mỏng, nếu không phát
tâm tu hành nghiệp chướng
khó mà tiêu trừ được, nghiệp chướng không tiêu trừ
làm sao dám nói đến việc
liễu sinh thoát tử.
Chư vị! Cần
phải nỗ lực tinh tấn quyết
tâm hạ thủ công phu thì không có việc gì khó. Trong thế gian
không có việc gì là khó, mà sợ lòng người không có quyết tâm.
Cho nên tục ngữ có câu: “Ðường đi khó, không khó vì ngăn
sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.
Giống như học sinh cùng học một bài văn,
thế nhưng đứa có trí thông minh, đọc hai, ba lần, thậm
chí nghe qua liền thuộc. Còn đứa không thông minh thì phải đọc đi
đọc lại ba bốn mươi lần mới có thể thuộc. Người dụng công
niệm Phật cũng như thế.
Phật pháp giảng nói ba đời nhân quả. Nếu
đời trước chư vị là người
nghe pháp nhiều, tu hành nhiều, thiện căn dày, tu
hành phước báo nhiều mà đời nay không gặp được Phật pháp,
thậm chí sinh ra một xứ
sở hoàn toàn không có Phật pháp thì thiện căn của các
bạn cũng không bao giờ bị thối chuyển, cũng không tạo tác
việc ác. Các bạn chỉ cần nhìn cảnh mùa Xuân trăm hoa đua nở,
mùa Thu lá vàng rơi lả tả, thấy được cảnh sinh diệt vô
thường của vạn vật, các bạn có thể khai ngộ, hay minh tâm
kiến tính liền. Giống như thời Phật còn tại thế, các vị nghe
Phật giảng pháp, rồi y theo pháp thập nhị nhân duyên mà ngộ
được đạo, gọi là “Duyên giác”. Còn có một số vị sinh ra đời
không gặp Phật, không được nghe pháp, thế nhưng họ nhờ vào
việc quán sát sự thay đổi vô thường của vạn vật mà ngộ được,
gọi là “Ðộc giác”, những người này có thiện căn không thể
nghĩ bàn mới được như thế.
Người có thiện
nghiệp dày, ác nghiệp mỏng, tu hành rất thuận lợi. Thế nhưng,
chúng ta ở đây toàn là những người có phước mỏng nghiệp dày,
cho nên con đường tu của chúng ta như khách lữ hành chèo
thuyền ngược nước, nếu chúng ta không vững tay chèo, không
có nỗ lực tinh tấn, chắc chắn sẽ bị nước cuốn trôi. Vì thế,
cổ đức có nói: “Người tu đạo như người chèo thuyền ngược
dòng, không tiến sẽ bị lùi”. Chúng ta phải dụng công hết
mình, thậm chí phải dùng
hết sức mình họa may mới
không bị trôi theo dòng
sông sinh tử. Người thế gian, đa phần là buông mình
theo dòng sinh tử, nên đối
với họ không còn gì phải
nói. Chúng ta là người tu
đạo, là người đang lội
ngược lại dòng sinh tử, cho nên
khó khăn rất nhiều, do đó
xin chư vị hãy dụng công, vào đây niệm Phật rồi không
nên lãng phí thời giờ.
4.- Gia công tinh tấn tiêu nghiệp chướng
Người có phước
đức nhân duyên, nếu gia công tu hành tốt, dễ dàng được cảm
ứng. Cho nên họ xưng niệm
Bồ tát Quán Thế Âm, cầu tài được tài, cầu
con được con, cầu tam
muội được tam muội, cầu Bát
Nhã được Bát Nhã, nói
chung cầu chi được nấy. Cho nên nói: “Có cầu ắt sẽ có
ứng” là vậy. Song, đối với
người không có phước đức
dù cầu nguyện bất cứ điều gì cũng không có cảm ứng.
Nói như vậy Quan Âm Bồ tát có thiên vị không? Xin thưa là
không! Bạn cầu nguyện cũng có cảm ứng. Vậy cảm ứng cái gì?
Cảm ứng nghiệp chướng tiêu trừ, một khi nghiệp chướng của
bạn tiêu trừ hết rồi, thì bạn cầu gì đều được nấy. Bằng
ngược lại, nghiệp chướng chưa tiêu trừ thì dù bạn có cầu
nguyện đến đâu cũng không có cảm ứng, một khi nghiệp chướng
được tẩy sạch, bạn không cần cầu cũng tự nhiên có cảm ứng.
Những người
lần đầu tiên vào đây dụng công tu hành, tâm lý có loạn động,
liền nghĩ: “Không hiểu tại sao ở nhà bình thường mình niệm
Phật ít thấy có vọng tưởng, tâm lý lại được định tĩnh, thế
nhưng vào đây niệm Phật, cứ một khi khởi niệm Phật lại thấy
vọng tưởng quá nhiều, tâm lý lại không an, nguyên nhân đó
xuất phát từ đâu? Chỉ vì ở nhà niệm Phật không có tập trung,
niệm Phật một cách mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng suy nghĩ cái này,
nhớ nghĩ việc kia, vọng khởi triền miên, lại thêm ngoại cảnh
ồn ào, nhộn nhịp nên khó nhận thấy được vọng tưởng. Vào đây
thì cảnh núi non yên tĩnh, nương nhờ ánh sáng từ bi của chư
Phật, tâm cảnh được sáng suốt, trí tuệ phát sinh, tự nhiên
nhận thấy được vọng tưởng tạp niệm nhiều. Chư vị nhờ vào đây
mới có cảm nhận như vậy, nếu nói ở nhà niệm Phật tốt hơn, là
chư vị không có lương tâm rồi.
5.- Phải
cầu diệu pháp xuất thế gian
Như trên vừa
nói, người niệm Quan Âm Bồ tát cầu tài được tài, cầu làm
thân trai được thân trai, cầu thân gái được thân gái... Như
vậy, chúng ta là người học Phật có phải cầu tài không? Xin
thưa là có! Nhưng tài ở đây là công đức pháp tài. Lại nữa,
có nên cầu thân trai hay thân gái không? Cũng có, nhưng cầu
trí tuệ phước đức của người nam, cầu tướng đoan chính của
người nữ, thế nhưng quan trọng hơn hết vẫn là cầu pháp xuất
thế gian.
Như Phật Ðà
“ba kỳ tu phước đức, trăm kiếp mới có tướng đoan nghiêm”. Do
đó, chúng ta phải có trí tuệ, có phước đức mới có thể độ
chúng sinh được. Có trí tuệ, có phước đức, lại phải có tướng
tốt; tướng nếu không tốt, mọi người nhìn thấy khó mà khởi
tâm cung kính. Như thời Ðức Phật còn tại thế, mọi người một
khi được nhìn thấy ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm của
Ngài, tự nhiên liền sinh tâm cung kính, Ngài rất dễ dàng hóa
độ. Cho nên người học Phật cũng có cầu nguyện, nhưng cầu
nguyện ở đây phải cầu nguyện thật tướng diệu pháp xuất thế
gian, chứ không phải cầu nguyện pháp hư vọng đối đãi của thế
gian.
6.- Lìa
tướng tu tất cả thiện pháp
Mọi người cần
phải chú ý! Tuy nói chúng ta cầu nguyện, song phải cầu như
thế nào cho hợp với Phật pháp đây? Phải cầu với nhận thức
không có tướng ngã, tướng nhân và tướng chúng sinh. Tuy là
không tướng, nhưng phải tu tất cả thiện pháp, nếu ngộ nhận
rằng, đã không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh,
từ đó không chú trọng đến nhân quả, xả bỏ tu sự mà chuyên tu
lý thì có hại cho bản thân bạn vô cùng.
Cần phải biết,
Phật pháp giảng nói nhân quả sự lý cần phải phối hợp hài hòa.
Nếu thiên lệch về lý mà phế bỏ nhân quả, không tu sự tướng
nhân quả thì không thể nào đạt được chân lý thực tiễn của
Phật pháp. Tuy là không có tướng ngã, tướng nhân, lìa tất cả
pháp, lìa tất cả tướng, nhưng đứng trên mặt sự tướng cần
phải tu tất cả các pháp. Muốn tu được tốt, chúng ta phải có
tinh tấn, thành khẩn tha thiết, trong tương lai chúng ta sẽ
cảm ứng quả báo vô vi. Quả báo vô vi thì không sinh, không
diệt, đó mới chính là Phật pháp thiết thực. Nếu lấy tâm hữu
tướng tu hành tất cả các pháp thì
sẽ cảm ứng quả báo hữu
vi. Tất cả quả báo hữu vi đều là vô thường, sinh diệt.
Tu thiện cảm ứng quả báo thiện, một khi hưởng hết rồi lại
hoàn không. Tạo ác nghiệp phải thọ ác báo, quả khổ thọ rồi
cũng trở nên không. Tất cả đều vô thường sinh diệt.
Chánh nhân vô
thường, cho nên “sinh” vẫn mãi mãi sinh, “chết” cũng vĩnh
viễn chết. Chánh nhân đã như vậy, sinh không ngừng, chết
cũng không đoạn, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, mãi mãi
chịu khổ không cùng tận. Chúng ta phải tu hành thôi, tại sao
phải tu? Chỉ có tu thì chúng ta mới có trí tuệ Bát Nhã thấu
rõ các pháp vốn không có sở hữu, tuy không có sở hữu, nhưng
phải luôn tu hành sự tướng cho viên tròn, tôi không bảo chư
vị phải lìa xa chúng sinh trong thế gian để mà tu, vì Phật
pháp vốn không xa lìa thế gian. Ðức Phật Bổn Sư cũng là
chúng sinh, từ chúng sinh mà thành tựu đạo quả. Do đó, chúng
ta không thể xa lìa chúng sinh trong thế gian mà tu hành
được. Ngược lại còn phải rộng kết thiện duyên với họ mới có
thể độ được họ. Chư vị có hiểu không?
7.- Có
không trong mộng đều là hư giả
Phật pháp
giảng “vô ngã” có thật là vô ngã không? Nếu tất cả các pháp
đều là vô ngã rồi thì tu hành làm gì? Nếu đã là vô ngã thì
tạo nghiệp ác ai là người thọ khổ địa ngục? Nếu quả thật vô
ngã, tu phước tu thiện ai là hưởng thọ? Cho nên nói “hữu ngã”
mới có thể thông được, nếu nói “vô ngã”, Ðức Phật giảng nhân
quả “nhân” ai tạo, “quả” ai hưởng?
Như vậy làm
sao giảng cho chư vị tiếp thọ được đạo lý vô ngã đây? Vì đây
là đạo lý không dễ dàng gì nghe qua có thể hiểu được. Nay
xin đơn cử thí dụ cho chư vị hiểu được. Chư vị! Chúng ta ai
cũng có nằm mộng. Trong mộng tất cả chúng sinh hữu tình, đại
địa vô tình, chung quy có hay không? Nếu có thì không thể
nói là không được. Tuy nói có, song tất cả là hư giả, huyễn
hóa không có thật. Nếu tất cả trong mộng đều là thật, khi
nằm mơ bạn thấy mình mua vé số trúng, khi tỉnh dậy, bạn có
phát tài hay là không? Trong mộng vui không có, khổ cũng
không. Trong giấc mơ bạn thấy mình bị rắn cắn, sợ quá liền
thức dậy, bạn thấy thân thể mình có bị rắn cắn hay không?
Trên giường có con rắn nào không? Ðó chẳng qua tự ý thức của
bạn khởi vọng tưởng mới thấy có thật, nói theo góc độ Duy
thức học thì những hình ảnh đó hoàn toàn do Ðộc Ðầu Ý Thức
tạo nên, tất cả đều là hư giả không có thật, như vậy bạn làm
sao nhận cái giả cho là thật được? (Lời chú giải của người
dịch: Ý thức là thức thứ sáu trong tám loại thức tâm vương,
thức này tác dụng rộng sâu hơn năm thức trước và làm chủ năm
thức trước. Thức này duyên với các tâm sở, căn bản phiền não
và tùy khởi phiền não mà tạo nên nghiệp. Vì nó có tác dụng
suy đoán, phân biệt và quyết định đưa đến thể hiện hành động
cụ thể của thân và miệng, hoặc bằng hành động tình cảm như:
Yêu ghét, tham muốn... Về suy nghĩ làm việc phải thức này
đứng đầu, còn tính toán tạo việc ác thức này cũng hơn các
thức còn lại. Cho nên trong Duy thức có nói: “Công vi thủ,
tội vi khôi”, chính là nói đến hoạt dụng của thức này vậy.
Thức này có đủ ba tính: Thiện, ác và vô ký. Khi nó duyên với
51 món tâm sở thì nó được chia thành hai loại: Ðộc đầu ý
thức và Ngũ câu ý thức. Ý thức độc đầu là ý thức hoạt động
độc lập, không cộng tác với năm thức trước. Ý thức độc đầu
lại được chia thành năm loại: 1. Ý thức tán vị là ý
thức phát khởi trong trạng thái phân tán. 2. Ý thức trong
mộng là hoạt động trong trạng thái mê ngủ hoặc nằm chiêm
bao. Vì trong mộng mị, người ta thường nghĩ rằng thế giới
trong mộng là thế giới có thật, thật ra những cảnh tượng đó
chỉ là những phát hiện của chủng tử độc ảnh trong kho chứa A
lại da thức. 3. Ý thức cuồng loạn là ý thức phát khởi
khi điên loạn. 4. Ý thức trong định là ý thức trong
trạng thái thiền định, ý thức này chỉ có những người tu
thiền định mới có kinh nghiệm. 5. Ý thức tán loạn là
ý thức bị loạn động phát khởi. Chúng ta làm việc quá sức,
cũng gọi là trạng thái lơ đãng, hoảng hốt... (Hòa thượng
Diệu Liên đang nói đến loại thứ hai của ý thức độc đầu).
Theo bạn,
những cảnh tượng trong mộng có hay là không? Nếu nói có thật,
thì trong mộng có sợ hãi, lúc tỉnh dậy tâm cũng vẫn còn sợ
hãi, trong mộng vui sướng lúc tỉnh dậy tâm cũng còn vui
sướng, như vậy cứu cánh có hay là không? Kỳ thật “chẳng có
cũng chẳng không”. Nói có nói không đều rơi vào biên kiến,
không còn trung đạo. Từ góc độ tục đế mà nói thực tại của
vạn vật vừa có lại vừa không. Nhưng đứng từ góc độ chân đế,
phải xa lìa thực tại, lìa ngôn ngữ thì đó mới là cứu cánh.
Nếu chư vị có thể hiểu được bản chất thực tại, lý giải được
tính không hữu thật tướng của vạn pháp, trì danh với cái
nhận thức như thế chắc chắn vãng sinh thượng phẩm.
Phật pháp nói
tất cả đều vô ngã, là muốn nói tất cả vạn vật không có tướng
hay một cái ngã cố định, vì bản chất của vạn vật là duyên
sinh, do nhiều yếu tố hợp lại mà thành không có gì gọi là
thật ngã. Nếu bạn không hiểu được điều đó thì chứng tỏ bạn
là người kém phước đức trí tuệ. Vì vậy, bạn phải tu phước và
trí tuệ, một khi phước trí viên mãn bạn sẽ nhận thức được
vạn vật là hư giả, thế gian là mộng huyễn. Trong kinh có nói:
“Vô ngã thì không có người tạo và người thọ, nghiệp thiện
nghiệp ác cũng đều không”. Do đó, kính khuyên chư vị đối với
Phật pháp hãy đọc nhiều, nghe nhiều, suy tư cho sâu, siêng
năng lễ bái và niệm Phật cho nhiều thì nhất định đến một
ngày nào đó quý vị tự nhiên sẽ đại ngộ.
8.- Cuộc
sống Ta Bà tất cả đều là mộng
Chư vị! Khi
chúng ta ngủ nằm mộng liền sực tỉnh, khi tỉnh rồi thì những
cảnh mộng không có thật nữa. Song hằng ngày tuy chúng ta
thức nhưng tất cả đều như nằm mộng, có lúc nào là thật sự
tỉnh đâu! Thật thương thay cho chúng ta, đã bao kiếp sống
như mộng, mà cứ ngỡ mình đang tỉnh, khổ đau chúng ta thọ
nhận không ngừng mà vẫn chưa có ngày nào sực tỉnh. Nói thì
như vậy, thế nhưng là người tu hành chúng ta không nên sợ
khổ đau, mà phải luôn luôn dụng công niệm Phật. Một khi
chúng ta được vãng sinh đến thế giới Tây phương rồi, đến lúc
đó chúng ta mới thật sự tỉnh. Thế giới Ta Bà tất cả vốn là
giả danh, mộng huyễn, bản lai của nó vốn không có khổ vui,
mà khổ vui đó do chúng ta tạo nên rồi trở lại thọ nhận lấy
nó. Do vui khổ mà chúng ta đã tạo ra biết bao nhiêu tội
chướng. Ðến một lúc nào đó chúng ta tỉnh ngộ rồi mới nhận
được tất cả đều không.
Chúng ta phải
thấy tất cả mọi vật trên thế gian không có cái gì trường tồn
bất diệt, không có gì là có ngã, tất cả như mộng như huyễn.
Có nhận thức như thế mới có đầy đủ nhân duyên thành Phật.
Nếu thấy tất cả đều là thật thì mãi mãi chịu khổ đau. Tại
sao? Vì thấy tất cả vạn vật trên thế gian đều là thật, tất
nhiên là thấy không biến đổi, không dao động thì làm sao có
thể dụng công tu hành và cũng làm sao có thể thành Phật được.
Ðó là đạo lý quan trọng mà mọi người cần phải giác ngộ. Hiện
tại, chúng ta đã biết và đang tu thì làm sao chúng ta phải
chứng được đạo lý vô ngã đó. Có như thế mới có thể phóng hạ
vạn duyên thành tâm niệm Phật, cầu phước đức chân thật.
Không nên nhàn rỗi, tán gẫu, suy nghĩ tà vạy, chỉ thêm mang
nghiệp chứ không có lợi ích gì. Phải giác ngộ vạn pháp là vô
ngã, chân thật dụng công tu niệm Phật, có như thế đời nay
mới mong được giải thoát. Cổ đức có nói: “Thân này đời nay
không độ, biết có khi nào độ được thân”.
(xem tiếp) NGÀY THỨ HAI
|