|
(do Ðại Hựu thiền sư trích từ sách vở của các bậc cổ đức rất
hay, chớ xem thường)
Khẩu quyết niệm Phật của
Thảo Am thiền sư
Có ai mà chẳng niệm nổi A
Di Ðà Phật, thế mà lại khó niệm. Có ai mà chẳng nguyện sanh
Tây phương Cực Lạc, nhưng rất ít kẻ được vãng sanh! Ấy là do
người niệm Phật chưa nắm được bí quyết vậy. Niệm Phật phải
cho thật chân thành, thiết tha, chỉ nghĩ đến một chữ CHẾT mà
thôi. Trong mỗi niệm luôn nhớ một chữ CHẾT thì tự nhiên lãnh
đạm đối với các cảnh duyên, tình ái cũng tự mỏng nhẹ. Ðến
lúc đấy (lúc chết) thì danh lợi, thế lực, giàu có cũng chẳng
biết dùng để làm gì! Ðến chừng ấy, có muốn thấy nghe hay
biết cũng chẳng được; tứ đại đều đã chia lìa cả thì còn
nương dựa vào đâu? Cô hồn vô chủ làm sao được tự do đây!
Khi ấy, chẳng thấy Di Ðà,
chỉ sợ gặp la sát. Khi ấy, chẳng sanh Tịnh Ðộ, sợ lạc vào
thai lừa. Ví dù không có ác nghiệp cũng chẳng tránh khỏi
phải sanh trở lại vào nhân đạo. Dẫu có nhân lành cũng chưa
từng tránh khỏi phải thọ phước báo cõi trời dễ hết. Chớ bảo
tự mình làm chủ! Nghiệp quả kéo lôi, thật khó trốn tránh.
Chớ bảo sanh tử vốn là không! Thức tâm chưa tận thì hoàn
toàn vẫn ở trong luân hồi. Chớ nên xem nhẹ điều này vì việc
[sẽ xảy ra trong] ngày mai, hôm nay còn chẳng biết được! Chớ
có xem thường điều ấy đến nỗi luống uổng đời này, rồi phải
trầm luân vĩnh viễn. Trong hết thảy mọi sự, không có gì [quan
trọng] bằng sanh tử đại sự cho nên chẳng còn bận tâm gì đến
hết thảy các sự khác. Coi hết thảy thời đều như là lúc đang
lâm chung thì thời nào cũng là thời niệm Phật. Niệm Phật như
thế mới là tâm khẩn thiết; tâm khẩn thiết như vậy mới được
sanh về Tịnh Ðộ. Phải chí tử hạ thủ công phu thì mới thành
tựu Tịnh nghiệp. Có thường nghĩ đến lúc chết thì tâm mới
thiết tha. Phải như vậy mới có thể đạt đến thành Phật; đấy
mới là bí quyết niệm Phật chơn thành.
Hổ Khê tôn giả khai thị
a. Phàm là người tu Tịnh
Ðộ thì rõ ràng là phải chống cự với sanh tử, chứ chẳng thể
nói xuông rồi thôi. Phải nghĩ đến vô thường vùn vụt, thời
gian chẳng đợi ai. Phải nên dốc chí thực hiện thì mới được;
chứ còn nếu nửa tiến, nửa lùi, dường như tin, tựa hồ ngờ,
mặc cho may rủi thì còn làm được việc gì, làm sao thoát khỏi
luân hồi nổi! Nếu đã tin biết được thì từ ngày nay trở đi
phải phát đại dũng mãnh, phát đại tinh tấn, đừng quan tâm là
hiểu hay chẳng hiểu, [chớ nệ là] kiến tánh hay không kiến
tánh, cứ chỉ chấp trì một câu Nam Mô A Di Ðà Phật giống hệt
như nương tựa vào một tòa núi Tu Di dù có bị lay lắc vẫn
chẳng động. Chuyên tâm, nhất ý để tham niệm hay quán niệm,
ức niệm, thập niệm, hoặc niệm thầm, niệm rõ tiếng, hệ niệm,
lễ niệm. Niệm đâu tâm theo đấy, luôn nhớ, luôn niệm. Sáng
cũng niệm, tối cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm; tâm
niệm chẳng để luống qua. Niệm Phật chẳng rời tâm, ngày ngày,
giờ giờ chẳng buông bỏ, miên miên mật mật như gà ấp trứng
thường giữ cho hơi nóng liên tục. Ðấy chính là tịnh niệm
liên tục, lại dùng thêm trí quán chiếu thì liền biết được
rằng Tịnh Ðộ chính là tự tâm. Ấy mới là công phu của bậc
thượng trí tu tấn.
Giữ được định như thế, chủ
yếu là thực hành như thế để làm chỗ dựa an ổn. Ví dù có gặp
cảnh khổ, vui, thuận, nghịch hiện tiền vẫn chỉ niệm A Di Ðà
Phật, không hề có một niệm đổi khác tấm lòng, không hề có
một niệm tâm thối đọa, không hề có một niệm tạp tưởng tâm.
Cho đến hết đời, vĩnh viễn không có niệm khác, quyết định
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu quả có thể dụng
công như vậy thì sanh tử nghiệp chướng, vô minh trong bao
kiếp sẽ tự nhiên tiêu sạch, trần lao tập lậu tự nhiên sạch
hết không còn sót. Chẳng lìa bổn niệm, tận mặt thấy đức A Di
Ðà. Công thành hạnh mãn, nguyện lực hỗ trợ nên lúc mạng
chung quyết sẽ sanh trong thượng phẩm.
b. Ðiều cốt yếu trong sự
tu hành chơn tín là cầu sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới:
Chuyên chú tâm ý vào một niệm, trì một câu A Di Ðà Phật. Chỉ
có một niệm này là bổn sư của mình. Chỉ có một niệm này
chính là hóa Phật. Chỉ có một niệm này là vị tướng quân mạnh
mẽ phá tan địa ngục. Chỉ có một niệm này là gươm báu chém
tan các tà. Chỉ có một niệm này là đèn sáng soi tan tăm tối.
Chỉ một niệm này là thuyền lớn để vượt đại khổ hải. Chỉ một
niệm này là phương cách tốt lành để thoát sanh tử. Chỉ một
niệm này là đường tắt thoát khỏi tam giới. Chỉ một niệm này
là bổn tánh Di Ðà. Chỉ một niệm này để thấu đạt Duy Tâm Tịnh
Ðộ. Chỉ nên ghi nhớ một câu A Di Ðà Phật trong tâm niệm, chớ
để lạc mất. Niệm niệm thường hiện tiền, niệm niệm chẳng rời
tâm. Vô sự cũng niệm như thế. Hữu sự cũng niệm như thế. An
vui cũng niệm như thế. Bịnh khổ vẫn niệm như thế. Sống cũng
niệm như thế. Chết cũng niệm như thế. Một niệm phân minh
chẳng mê như thế thì cần phải hỏi ai để tìm đường về nữa!
Liên Trì đại sư khai thị
a. Vọng niệm là bịnh; niệm
Phật là thuốc. Bịnh lâu thì một viên thuốc chẳng trị hết nổi.
Vọng niệm chất chứa thì chẳng thể nào vừa niệm đã trừ hết
được nổi. Lý lẽ nhất định như vậy. Ðừng lo ngại những vọng
niệm khác tơi bời [khởi lên], chỉ quý ở chỗ niệm Phật tinh
chuyên, khẩn thiết. Từng chữ phân minh; câu, câu nối tiếp.
Dốc sức chấp trì thì mới có phần xu hướng được, nghĩa là: do
sức chơn thật tích tụ lâu ngày nên đến một ngày nào đó sẽ
chợt rỗng rang [khai ngộ]. Ví như mài chày làm kim, luyện
sắt thành gang, quyết định chẳng dối. Tuy có lắm môn để nhập
đạo, nhưng chỉ có một môn này là đường vắn tắt nhất, chẳng
thể coi thường, chớ có coi thường.
b. Ðạo này chí huyền,
chí diệu, lại rất mực giản dị. Vì giản dị nên bị bậc cao
minh xem thường! Sanh tử chẳng lìa nhất niệm mà thậm chí
muôn pháp thế gian, xuất thế gian cũng chẳng ngoài nhất niệm.
Nay đem cái niệm ấy niệm Phật thì sẽ thiết tha, tinh chuyên,
chơn thật xiết bao! Nếu xét kỹ tận nguồn nhất niệm ấy thì nó
chính là tự tánh Di Ðà, chính là ý của Tổ Sư tự phương Tây
đến (**). Ví dù chẳng ngộ được, nhưng nương niệm
lực ấy mà vãng sanh Cực Lạc, vượt ngang sanh tử, chẳng bị
luân hồi nữa thì cuối cùng sẽ đại ngộ vậy. Xin buông bỏ muôn
duyên, trong mười hai thời niệm niệm khăng khăng. Ðấy chính
là là điều tôi rất mong mỏi.
c. Sự hiếu thế gian có
đến ba, hiếu xuất thế gian chỉ có một. Cái hiếu thế gian gồm:
Một là thừa hoan hầu hạ, dùng thức ngon lành dâng lên mẹ
cha. Hai là đỗ đạt làm quan, dùng tước lộc để vinh hiển mẹ
cha. Ba là tu đức trau hạnh để thành thánh, thành hiền nhằm
làm rạng rỡ mẹ cha. Thế gian gọi ba điều ấy là hiếu vậy. Sự
hiếu xuất thế gian là khuyên cha mẹ trai giới, tu đạo, nhất
tâm niệm Phật, cầu nguyện vãng sanh, vĩnh biệt tứ sanh (không
còn sanh trong bốn loài: noãn, thai, thấp, hóa), mãi mãi
thoát khỏi lục đạo, gởi thân trong thai sen, thân cận Phật
Di Ðà, đắc bất thối chuyển. Người con báo hiếu coi việc ấy
là trọng đại nhất.
Khi xưa, tôi vừa chớm biết
nhập đạo, song thân đã khuất, do thương cảm bèn viết bài văn
tự trách bất hiếu để bày tỏ nỗi bi hận. Nay thấy trong chúng
tại gia, xuất gia có đủ điều may mắn càng bội phần cảm khái,
lệ nhỏ ròng ròng. Cúi đầu, rập đầu xin khuyên: Người chăm
sóc, phụng dưỡng cha mẹ cho được yên ổn là hiếu. Người lập
thân hành đạo để cha mẹ nở mặt là đại hiếu. Người khuyên cha
mẹ dùng pháp môn niệm Phật cầu được vãng sanh Tịnh Ðộ là đại
hiếu nhất trong những người đại hiếu. Tôi sanh muộn, vừa
nghe được Phật pháp thì mẹ cha đã khuất, đau đớn thấu trời,
tuy muốn đáp đền vẫn không làm cách nào được. Xin thưa cùng
mọi người: khi cha mẹ còn tại thế nên sớm khuyên niệm Phật.
Ngày cha mẹ mất nên lễ Phật, tụng kinh ba năm. Nếu chẳng làm
được như vậy thì hoặc là suốt cả một năm hay trong bốn mươi
chín ngày cũng được. Hiếu tử muốn báo cái ân cù lao, không
thể không biết đến điều này.
d. Phàm là người học
Phật chẳng cần bàn đến hình dạng trang nghiêm, chỉ quý ở chỗ
chơn thật tu hành. Cư sĩ tại gia chẳng nhất thiết phải áo dà,
khăn đạo. Người để tóc cứ mặc thường phục niệm Phật, chẳng
nhất thiết phải khua mõ, gõ khánh. Người thích yên tịnh cứ
yên lặng niệm Phật, chẳng bắt buộc phải quây quần lập hội.
Người ngại việc có thể tự đóng cửa niệm Phật, chẳng cần phải
đến chùa nghe kinh. Người biết chữ có thể tuân theo giáo
pháp niệm Phật. Ngàn dặm thiêu hương chẳng bằng ngồi yên
trong nhà niệm Phật. Cúng dường tà sư chẳng bằng hiếu thuận
cha mẹ niệm Phật. Kết giao rộng rãi với bè bạn ma chẳng bằng
một mình thanh tịnh niệm Phật. Gởi tiền kho cho kiếp sau
(1) chẳng bằng hiện tại làm phước niệm Phật. Hứa
nguyện, cầu đảo chẳng bằng hối lỗi đích thân niệm Phật. Tập
tành học theo sách vở ngoại đạo chẳng bằng một chữ không
biết mà niệm Phật. Vô tri bàn xằng lẽ Thiền chẳng bằng chắc
thật trì giới, niệm Phật. Mong cầu yêu quỷ linh ứng chẳng
bằng chánh tín nhân quả niệm Phật.
Nói tóm lại, đoan tâm diệt
ác niệm Phật như vậy thì gọi là thiện nhân. Nhiếp tâm dứt
trừ tán loạn để niệm Phật như vậy thì gọi là hiền nhân. Ngộ
tâm đoạn hoặc niệm Phật như thế thì gọi là thánh nhân.
e. [Ðại sư ] bảo ông Châu
Tây Tông: “Bịnh của ngài đã đến nỗi này, thật là rất nguy.
Nên đem hết những điều muốn nói viết hết ra giao cho lịnh
lang và tôn đường, để trong dạ chẳng còn vướng víu điều gì,
nhất tâm chánh niệm. Nếu bình nhật đã tin tưởng nổi pháp môn
Niệm Phật thì nên lấy con mắt trong tâm soi chiếu bên trong;
bốn chữ Phật danh vằng vặc ngời ngời, chẳng gián, chẳng đoạn.
Dẫu ngày hôm nay hay ngày mai bị chết cũng được, hoặc là
chẳng chết mà sống mãi đến một trăm hai mươi tuổi cũng xong.
Ðây là lời khẩn yếu; bằng hữu bấy lâu quen biết chính là chỗ
này. Mọi sự khác đều nhỏ nhặt, chẳng phải bận tâm đến. Chớ
có vì tham sống sợ chết đến nỗi hỏng đại sự. Rất quan trọng
đấy!”
f. Bảo Vương Ðại Trác:
“Ðối với căn bịnh của ngài thì mọi sự ngoài thân kể cả tứ
chi, trăm đốt xương trong thân này đều nên dốc lòng buông bỏ,
khiến cho rỗng không chẳng còn có một vật gì! Nếu chẳng thể
buông bỏ hết thì hãy tạm buông bỏ để đợi đến sau này. Chẳng
chế ngự được lửa vọng tưởng thì nên niệm Phật nhiều tiếng để
đè ép nó. Vinh hoa, phú quý thế gian chẳng qua là sự trong
phút chốc; ách nạn, khổ não chẳng qua cũng là sự trong phút
chốc; trong khoảnh khắc đã biến thành không. Vả lại, mọi sự
đều do các duyên trước kia, sức người chẳng làm gì được! Tận
tình buông bỏ hết, nhất tâm niệm Phật hết sức thiết tha.
Cổ nhân có nói: “Bịnh
là lương dược của chúng sanh”. Vì thế, người mắc bịnh
phải nên sanh lòng hoan hỉ lớn lao. Ðối với hết thảy những
điều chẳng như ý, chớ khởi phiền não. [Cổ nhân] còn bảo:
‘Sanh tử hữu mạng’ nên người mắc bịnh phải nên sanh [ý
tưởng] đại giải thoát, mặc kệ sống chết chớ sanh sợ hãi.
Thêm nữa, quá khứ như huyễn, hiện tại như huyễn, vị lai như
huyễn; cứ tận tình buông bỏ, chỉ giữ chánh niệm mà thôi.
Trong khi bịnh nên ngàn vạn nhẫn nại, lòng chớ mong sớm được
lành bịnh; đấy lại chính là kế hay để chóng được hết bịnh!
Một phen đã ôm lòng nóng nảy thì bịnh càng nặng thêm. Nhớ kỹ,
nhớ kỹ!”
Hám Sơn đại sư khai thị
* Ðiều quan trọng thứ nhất
trong việc tu hành là đối với sanh tử tâm phải khẩn thiết.
Ðối với sanh tử tâm chẳng khẩn thiết sao lại dám nói là niệm
Phật đã thành khối? Vả lại, chúng sanh từ vô lượng kiếp đến
nay, niệm niệm vọng tưởng, tình căn che lấp kỹ, thường ngày
chưa từng phản tỉnh. Nay muốn dùng cái tâm tin tưởng hời hợt
để đoạn sanh tử nhiều kiếp thì khác nào giọt nước làm sao
dập tắt nổi đống củi đang cháy, há có lý này chăng?
Nếu quả thật đương nhân
đối với sanh tử, tâm thật khẩn thiết, niệm niệm như cứu đầu
đang bị cháy, chỉ sợ một phen mất thân người thì vạn kiếp
khó có lại được. Nên giữ chặt một câu niệm Phật này, nhất
định muốn chống cự lại các vọng tưởng. Trong hết thảy xứ,
niệm niệm hiện tiền, chẳng còn bị vọng tưởng lôi kéo, che
chướng. Hạ công phu siêng nhọc như thế thì lâu ngày thuần
thục, tự nhiên tương ứng. Có như vậy thì dẫu chẳng cầu được
thành một khối mà vẫn tự nhiên kết thành một khối. Ðiều này
cũng giống như người uống nước, nóng, lạnh tự mình biết,
chẳng thể nói cho người khác biết được. [Niệm Phật được
thành tựu] hoàn toàn là do mình ra sức. Nếu chỉ niệm Phật
ngoài da thì dẫu nhọc nhằn bao năm tháng cũng chẳng hưởng
được gì.
* Mỗi ngày trừ hai thời
công khóa, chỉ đem một câu A Di Ðà Phật đặt ngang nơi ngực,
niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê. Chẳng nghĩ gì đến
hết thảy việc đời, chỉ lấy một câu Phật hiệu làm mạng căn
của chính mình. Cắn chặt [câu niệm Phật] nơi hàm răng quyết
chẳng buông bỏ; thậm chí ăn uống, cử động: đi, đứng, nằm
ngồi, trong mọi lúc một câu niệm Phật này luôn hiện tiền. Hễ
gặp phải cảnh thuận, nghịch, vui, giận, phiền não, hay lúc
tâm chẳng yên bèn đem một tiếng niệm Phật khởi lên một phen
thì liền thấy phiền não tiêu diệt ngay lập tức. Do niệm niệm
phiền não chính là gốc khổ sanh tử nên nay ta dùng niệm Phật
để tiêu diệt phiền não thì chính là Phật đã độ thoát nỗi khổ
sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu diệt được phiền não thì mới có
thể dứt sạch sanh tử, chứ không có pháp nào khác! Nếu niệm
Phật đến khi làm chủ được phiền não thì sẽ làm chủ được mộng
mị. Nếu đã kiểm soát được mình trong khi mộng mị thì trong
khi bịnh khổ cũng sẽ tự chủ được. Nếu đã tự chủ được trong
khi bịnh tật thì lúc mạng sắp lâm chung sẽ liền biết được
chỗ mình sẽ sanh về. Ðiều này chẳng có gì là khó làm, chỉ
cốt luôn một dạ nghĩ đến sanh tử khẩn thiết, chỉ cần dựa vào
một mình câu niệm Phật chứ không còn suy nghĩ chi khác. Lâu
ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, được đại thọ dụng.
 Ngẫu
Ích đại sư khai thị
Công phu niệm Phật quý tại
tâm tin chơn thật.
Ðiều cốt yếu thứ nhất là
tin rằng ta là Phật chưa thành, A Di Ðà Phật là vị Phật đã
thành. Thể của ta và Phật không hai.
Kế đó, tin Sa Bà thật sự
là khổ, cõi An Dưỡng thật đáng nương về. Ưa, chán rành rành.
Tiếp đó, tin nhất cử, nhất
động hiện tại đều có thể hồi hướng cõi Tây phương. Nếu chẳng
hồi hướng thì dẫu là sự lành bậc thượng cũng chẳng được vãng
sanh. Nếu biết hồi hướng thì tuy trót lầm lỡ tạo ác hạnh
nhưng mau mau đoạn trừ cái tâm tương tục, khởi lòng ân cần
sám hối; nhờ sức sám hối cũng được vãng sanh. Huống hồ là
trì giới, tu phước, các thứ thắng nghiệp, há chẳng đủ để
trang nghiêm Tịnh Ðộ ư?
Chỉ vì tín lực chẳng sâu
nên nghiệp thù thắng bị chìm trong hữu lậu. Nếu lại toan bỏ
pháp này, tính tu pháp khác thì thật là lầm lạc quá sức vậy.
Chỉ càng phải nên tin chơn thật hơn, hết thảy hành động
chẳng cần phải thay đổi.

Triệt Ngộ thiền sư khai thị
* Hết thảy pháp môn lấy
minh tâm làm cốt yếu, hết thảy hạnh môn lấy tịnh tâm làm
điều quan yếu, mà pháp thiết yếu để minh tâm lại không chi
bằng Niệm Phật. Nhớ Phật, niệm Phật thì ngay hiện tại hoặc
trong tương lai sẽ nhất định thấy Phật, chẳng cần nhờ đến
phương tiện mà tự được tâm khai. Như vậy, Niệm Phật chẳng
phải là điều cốt yếu để minh tâm hay sao?
Hơn nữa, pháp thiết yếu để
tịnh tâm cũng không chi bằng Niệm Phật. Một niệm tương ứng
với một niệm Phật. Niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật.
Thanh châu bỏ vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong;
Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể chẳng thành
tâm Phật. Như vậy, Niệm Phật chẳng phải là điều thiết yếu để
tịnh tâm sao? Một câu Phật hiệu gồm đủ cả hai thứ quan yếu:
Ngộ và Tu. Ngộ thì tin vào đấy, Tu là chứng trong đấy. Tín
giải tu chứng gồm trọn các thừa Ðại, Tiểu; cốt tủy các kinh
không chi chẳng được thâu trọn [trong pháp Niệm Phật này].
Như vậy, một câu Di Ðà chẳng phải là đạo trọng yếu nhất hay
sao?
* Cái tâm một niệm hiện
tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức là chơn;
trọn ngày chẳng đổi, trọn ngày tùy duyên. Hễ chẳng duyên
theo Phật giới để niệm Phật giới thì sẽ niệm cửu giới. Chẳng
niệm tam thừa thì niệm lục phàm. Chẳng niệm nhân thiên thì
niệm tam đồ. Chẳng niệm quỷ, súc sanh thì niệm địa ngục. Hễ
đã có tâm thì chẳng thể vô niệm. Lấy vô niệm làm bản thể cho
cái tâm thì chỉ có mình đức Phật làm được. Từ bậc Ðẳng Giác
trở xuống, hết thảy đều là hữu niệm; hễ khởi lên một niệm
thì ắt lạc vào mười giới. Lại chẳng có niệm nào ra khỏi mười
giới vì chẳng có chi ra ngoài mười pháp giới vậy. Mỗi một
niệm khởi lên là cái duyên của một lần thọ sanh. Ðã biết rõ
lý này mà chẳng niệm Phật thì thật là chưa từng có vậy.
* Cái quý trọng nhất trong
đời không gì hơn tinh thần. Cái đáng mến tiếc nhất trong đời
không chi hơn ngày tháng. Một niệm tịnh thì Phật giới duyên
khởi, một niệm nhơ chính là cái nhân sanh ra cửu giới. Cứ
móng khởi một niệm thì thành ra chủng tử của thập giới, há
chẳng nên trân trọng hay sao? Ngày hôm nay đã qua, mạng cũng
theo đó mà giảm. Một tấc thời quang chính là một tấc mạng
quang, chẳng đáng mến tiếc sao? Ðã biết tinh thần đáng trân
trọng, chẳng nên lãng phí cho nên niệm niệm chấp trì danh
hiệu Phật; chẳng để quang âm trôi qua phí uổng nên khắc khắc
huân tu tịnh nghiệp. Nếu như bỏ qua danh hiệu Phật, tu các
thánh hạnh tam thừa khác thì cũng còn là lãng phí tinh thần
giống như là đem cái nỏ ngàn cân để bắn chuột cống; huống hồ
là còn gây tạo cái nghiệp sanh tử lục phàm nữa ư?
Nếu như bỏ qua Tịnh nghiệp
để riêng nhận lấy Quyền Thừa Tiểu Quả thì cũng còn là luống
uổng quang âm, cũng giống như là đem như ý bảo châu đổi lấy
một bữa cơm, manh áo, huống hồ là chấp lấy quả thiên nhân
hữu lậu! Trân trọng thế ấy, nuối tiếc thế ấy thì tâm chuyên
nơi Phật sẽ dễ cảm, hạnh siêng mà nghiệp dễ tinh, chắc chắn
sẽ được sanh Tịnh Ðộ, tận mặt gặp gỡ Phật Di Ðà. Khi ấy,
vâng lời Phật khai thị, đích thân hầu cận đấng Từ Tôn, diệu
ngộ tự tâm, thâm chứng pháp giới, kéo dài một niệm thành cả
kiếp, rút ngắn cả kiếp dài dặc thành một niệm. Niệm lẫn kiếp
viên dung, được đại tự tại, chẳng đáng tiếc nuối, trân trọng
hay sao!
* Một người nghèo túng xa
trông thấy một xâu tiền, toan đến lượm lấy, thì hóa ra là
con rắn liền đứng phắt qua một bên. Lại có một người khác đi
đến cầm lấy xâu tiền đem đi. Ðấy là tiền chẳng phải là rắn
mà thấy là rắn là do nghiệp cảm vời, do duy tâm sở hiện vậy.
Tiền thấy là rắn là do nghiệp cảm trong tâm hóa hiện, mà
thấy rắn là tiền há cũng chẳng phải là do nghiệp cảm trong
tâm biến hiện đó ư? Thấy tiền là rắn chỉ là vọng kiến do
biệt nghiệp của một người tạo ra. Thấy rắn là tiền chính là
bởi vọng kiến của nhiều người đồng phận. Ðối với vọng kiến
của một người thì dễ biết được cái vọng ấy; còn với vọng
kiến của nhiều người thì khó lòng hay biết nổi! Ðem cái dễ
biết để sánh với cái khó biết thì cái khó biết đó cũng là dễ
biết. Rắn đã là rắn, mà tiền cũng là rắn. Suy theo đây thì
thấy: Căn thân bên trong, cảnh giới bên ngoài, từ một phương
đến mười phương và bốn đại bộ châu, tam thiên đại thiên thế
giới đều cũng như rắn nơi đống tiền. Chỉ có điều con rắn duy
tâm sở hiện ấy lại cắn được người, tiền duy tâm sở hiện ấy
lại cũng có thể hưởng dụng được. Chớ bảo duy tâm là không có
ngoại cảnh; sự uế khổ của Sa Bà cũng như sự vui trong sạch
nơi cõi An Dưỡng đều chỉ do tâm biến hiện, nhưng gặp phải sự
uế khổ chỉ do tâm đã biến hiện ra ấy thì bị bức bách lớn và
đối với cảnh an vui trong sạch cũng do tâm biến hiện ấy, ta
lại có thể hưởng dụng lớn lao. Uế khổ lẫn tịnh lạc đều chỉ
là do tâm biến hiện thì sao chẳng bỏ cái uế khổ duy tâm,
chọn lấy cái tịnh lạc duy tâm mà lại đành cam chịu tám khổ
nung nấu trong suốt bao kiếp dài lâu vậy.
* Ðiều trọng yếu trong
cuộc sanh tử của chúng ta chỉ là hai thứ lực. Một là tâm vấn
vít nhiều mối, nặng nề vướng lấy, đó là tâm lực. Hai là như
người mắc nợ, chủ nợ nào mạnh hơn sẽ lôi đi trước; đấy là
nghiệp lực.
Nghiệp lực rất lớn, tâm
lực còn lớn hơn: Do nghiệp không có tự tánh, hoàn toàn nương
vào tâm; vì tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển được
nghiệp nên chỉ có tâm lực là nặng. Do nghiệp lực nên có thể
lôi đi luân hồi; nhưng nếu dùng tâm trân trọng để tu Tịnh
nghiệp thì Tịnh nghiệp mạnh. Tâm trọng, nghiệp cường thì chỉ
còn hướng thẳng đến Tây phương, nên mai sau khi báo hết mạng
tận sẽ nhất định sanh về Tây phương, chẳng sanh vào chốn
khác! Giống như cây to, tường lớn, lúc bình thường đã
nghiêng về Tây thì đến ngày nào đó ngã xuống, chúng sẽ quyết
định chẳng đổ sang chỗ khác.
* Cái tâm năng niệm nơi
một niệm hiện tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn
vọng tức là chơn, trọn ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến.
Một câu Phật hiệu ta niệm đó toàn là từ đức mà lập danh:
Ngoài đức chẳng có danh, dùng danh để chiêu đức; ngoài danh
không đức, ngoài tâm năng niệm chẳng hề có riêng vị Phật
được niệm, cũng không có riêng cái tâm năng niệm. Năng, sở
chẳng hai, chúng sanh và Phật y hệt như nhau, vốn lìa tứ cú,
vốn tuyệt bách phi, vốn trọn hết thảy, vốn chứa hết thảy,
dứt tuyệt đối đãi một cách viên dung chẳng thể nghĩ bàn.
Hành giả Liên tông nên từ nơi đây mà tin nhập.
* Hết thảy chúng sanh bổn
lai là Phật. Chơn tâm vốn có, vọng tánh vốn không. Tánh vốn
sẵn đủ hết thảy pháp lành. Chỉ vì chạy theo cái duyên mê
nhiễm đã lâu, chưa đoạn được cái vọng vốn không, chưa chứng
được cái chơn vốn sẵn có, trọn chưa hề tu gốc lành nên Phật
[trong tâm mình] là vị Phật chưa thành. Nay muốn đoạn cái
vọng vốn không, chứng cái chơn vốn có, tu cái lành vốn sẵn
trọn đủ, thành được quả Phật mình sẵn có, ngộ được tịnh
duyên, xét tìm con đường thật thẳng tắt, thật nhanh, chí đốn,
chí viên thì không chi bằng một hạnh Trì Danh Niệm Phật. Do
cái tâm năng niệm vốn là toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức
chơn nên đức Phật được niệm cũng vốn là toàn đức lập danh,
toàn danh tức đức. Ngoài tâm năng niệm không có riêng một vị
Phật được niệm; ngoài đức Phật được niệm, không có riêng cái
tâm năng niệm. Năng, sở đều mất; tâm, Phật nhất như. Trong
niệm niệm, điều phục trọn vẹn, đoạn trừ trọn vẹn ngũ trụ
phiền não, chuyển biến trọn vẹn, diệt trừ trọn vẹn ba tạp
nhiễm chướng, phá trọn vẹn ngũ ấm, siêu xuất trọn vẹn ngũ
trược, thanh tịnh trọn vẹn bốn cõi [Tịnh Ðộ], niệm trọn vẹn
tam thân, tu trọn vẹn vạn đức, chứng trọn vẹn bổn chơn, viên
thành Vô Thượng Diệu Giác. Một niệm đã như vậy thì niệm niệm
cũng như thế. Chỉ cần niệm niệm được liên tục như thế thì sẽ
chế phục, đoạn trừ, tu chứng chẳng thể nghĩ bàn được. Lấy
cái tâm toàn là Phật này để niệm vị Phật của toàn tâm thì sẽ
thật sự được toàn phần oai đức thần lực của quả Phật nơi tự
tâm ngầm gia bị cho. Một câu Phật hiệu chẳng tạp lẫn duyên
khác thì mười niệm thành tựu, nhanh chóng vượt qua nhiều
kiếp. Chẳng tin điều này thì khác gì gỗ đá! Bỏ pháp này đi
tu pháp khác thì nếu không phải là cuồng cũng là si. Biết
còn nói gì được, biết còn nói gì đây!
* Trong lúc lúc niệm Phật,
chẳng nên có ý tưởng chi khác. Chẳng có tưởng gì khác thì
chính là Chỉ. Trong lúc niệm Phật cần phải rành rẽ phân minh;
rành rẽ phân minh chính là Quán. Trong một niệm đủ cả Chỉ,
Quán; chẳng phải là có Chỉ và Quán riêng biệt! Chỉ chính là
nhân của Ðịnh, Ðịnh là quả của Chỉ. Quán là nhân của Huệ,
Huệ là quả của Quán. Một niệm chẳng sanh rành rẽ phân minh
là Tịch mà Chiếu. Rành rẽ phân minh, một niệm chẳng sanh
chính là Chiếu mà Tịch. Có thể làm được như vậy thì chắc
chắn không nghiệp nào chẳng thành. Thành được như vậy thì là
Thượng Phẩm. Một người cho đến trăm ngàn vạn ức người tu như
thế đều sẽ thành tựu như thế. Lẽ đâu người niệm Phật lại
chẳng lưu tâm hay sao?
Triệt
Ngộ thiền sư khai thị
* Hết thảy pháp môn lấy
minh tâm làm cốt yếu, hết thảy hạnh môn lấy tịnh tâm làm
điều quan yếu, mà pháp thiết yếu để minh tâm lại không chi
bằng Niệm Phật. Nhớ Phật, niệm Phật thì ngay hiện tại hoặc
trong tương lai sẽ nhất định thấy Phật, chẳng cần nhờ đến
phương tiện mà tự được tâm khai. Như vậy, Niệm Phật chẳng
phải là điều cốt yếu để minh tâm hay sao?
Hơn nữa, pháp thiết yếu để
tịnh tâm cũng không chi bằng Niệm Phật. Một niệm tương ứng
với một niệm Phật. Niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật.
Thanh châu bỏ vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong;
Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể chẳng thành
tâm Phật. Như vậy, Niệm Phật chẳng phải là điều thiết yếu để
tịnh tâm sao? Một câu Phật hiệu gồm đủ cả hai thứ quan yếu:
Ngộ và Tu. Ngộ thì tin vào đấy, Tu là chứng trong đấy. Tín
giải tu chứng gồm trọn các thừa Ðại, Tiểu; cốt tủy các kinh
không chi chẳng được thâu trọn [trong pháp Niệm Phật này].
Như vậy, một câu Di Ðà chẳng phải là đạo trọng yếu nhất hay
sao?
* Cái tâm một niệm hiện
tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức là chơn;
trọn ngày chẳng đổi, trọn ngày tùy duyên. Hễ chẳng duyên
theo Phật giới để niệm Phật giới thì sẽ niệm cửu giới. Chẳng
niệm tam thừa thì niệm lục phàm. Chẳng niệm nhân thiên thì
niệm tam đồ. Chẳng niệm quỷ, súc sanh thì niệm địa ngục. Hễ
đã có tâm thì chẳng thể vô niệm. Lấy vô niệm làm bản thể cho
cái tâm thì chỉ có mình đức Phật làm được. Từ bậc Ðẳng Giác
trở xuống, hết thảy đều là hữu niệm; hễ khởi lên một niệm
thì ắt lạc vào mười giới. Lại chẳng có niệm nào ra khỏi mười
giới vì chẳng có chi ra ngoài mười pháp giới vậy. Mỗi một
niệm khởi lên là cái duyên của một lần thọ sanh. Ðã biết rõ
lý này mà chẳng niệm Phật thì thật là chưa từng có vậy.
* Cái quý trọng nhất trong
đời không gì hơn tinh thần. Cái đáng mến tiếc nhất trong đời
không chi hơn ngày tháng. Một niệm tịnh thì Phật giới duyên
khởi, một niệm nhơ chính là cái nhân sanh ra cửu giới. Cứ
móng khởi một niệm thì thành ra chủng tử của thập giới, há
chẳng nên trân trọng hay sao? Ngày hôm nay đã qua, mạng cũng
theo đó mà giảm. Một tấc thời quang chính là một tấc mạng
quang, chẳng đáng mến tiếc sao? Ðã biết tinh thần đáng trân
trọng, chẳng nên lãng phí cho nên niệm niệm chấp trì danh
hiệu Phật; chẳng để quang âm trôi qua phí uổng nên khắc khắc
huân tu tịnh nghiệp. Nếu như bỏ qua danh hiệu Phật, tu các
thánh hạnh tam thừa khác thì cũng còn là lãng phí tinh thần
giống như là đem cái nỏ ngàn cân để bắn chuột cống; huống hồ
là còn gây tạo cái nghiệp sanh tử lục phàm nữa ư?
Nếu như bỏ qua Tịnh nghiệp
để riêng nhận lấy Quyền Thừa Tiểu Quả thì cũng còn là luống
uổng quang âm, cũng giống như là đem như ý bảo châu đổi lấy
một bữa cơm, manh áo, huống hồ là chấp lấy quả thiên nhân
hữu lậu! Trân trọng thế ấy, nuối tiếc thế ấy thì tâm chuyên
nơi Phật sẽ dễ cảm, hạnh siêng mà nghiệp dễ tinh, chắc chắn
sẽ được sanh Tịnh Ðộ, tận mặt gặp gỡ Phật Di Ðà. Khi ấy,
vâng lời Phật khai thị, đích thân hầu cận đấng Từ Tôn, diệu
ngộ tự tâm, thâm chứng pháp giới, kéo dài một niệm thành cả
kiếp, rút ngắn cả kiếp dài dặc thành một niệm. Niệm lẫn kiếp
viên dung, được đại tự tại, chẳng đáng tiếc nuối, trân trọng
hay sao!
* Một người nghèo túng xa
trông thấy một xâu tiền, toan đến lượm lấy, thì hóa ra là
con rắn liền đứng phắt qua một bên. Lại có một người khác đi
đến cầm lấy xâu tiền đem đi. Ðấy là tiền chẳng phải là rắn
mà thấy là rắn là do nghiệp cảm vời, do duy tâm sở hiện vậy.
Tiền thấy là rắn là do nghiệp cảm trong tâm hóa hiện, mà
thấy rắn là tiền há cũng chẳng phải là do nghiệp cảm trong
tâm biến hiện đó ư? Thấy tiền là rắn chỉ là vọng kiến do
biệt nghiệp của một người tạo ra. Thấy rắn là tiền chính là
bởi vọng kiến của nhiều người đồng phận. Ðối với vọng kiến
của một người thì dễ biết được cái vọng ấy; còn với vọng
kiến của nhiều người thì khó lòng hay biết nổi! Ðem cái dễ
biết để sánh với cái khó biết thì cái khó biết đó cũng là dễ
biết. Rắn đã là rắn, mà tiền cũng là rắn. Suy theo đây thì
thấy: Căn thân bên trong, cảnh giới bên ngoài, từ một phương
đến mười phương và bốn đại bộ châu, tam thiên đại thiên thế
giới đều cũng như rắn nơi đống tiền. Chỉ có điều con rắn duy
tâm sở hiện ấy lại cắn được người, tiền duy tâm sở hiện ấy
lại cũng có thể hưởng dụng được. Chớ bảo duy tâm là không có
ngoại cảnh; sự uế khổ của Sa Bà cũng như sự vui trong sạch
nơi cõi An Dưỡng đều chỉ do tâm biến hiện, nhưng gặp phải sự
uế khổ chỉ do tâm đã biến hiện ra ấy thì bị bức bách lớn và
đối với cảnh an vui trong sạch cũng do tâm biến hiện ấy, ta
lại có thể hưởng dụng lớn lao. Uế khổ lẫn tịnh lạc đều chỉ
là do tâm biến hiện thì sao chẳng bỏ cái uế khổ duy tâm,
chọn lấy cái tịnh lạc duy tâm mà lại đành cam chịu tám khổ
nung nấu trong suốt bao kiếp dài lâu vậy.
* Ðiều trọng yếu trong
cuộc sanh tử của chúng ta chỉ là hai thứ lực. Một là tâm vấn
vít nhiều mối, nặng nề vướng lấy, đó là tâm lực. Hai là như
người mắc nợ, chủ nợ nào mạnh hơn sẽ lôi đi trước; đấy là
nghiệp lực.
Nghiệp lực rất lớn, tâm
lực còn lớn hơn: Do nghiệp không có tự tánh, hoàn toàn nương
vào tâm; vì tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển được
nghiệp nên chỉ có tâm lực là nặng. Do nghiệp lực nên có thể
lôi đi luân hồi; nhưng nếu dùng tâm trân trọng để tu Tịnh
nghiệp thì Tịnh nghiệp mạnh. Tâm trọng, nghiệp cường thì chỉ
còn hướng thẳng đến Tây phương, nên mai sau khi báo hết mạng
tận sẽ nhất định sanh về Tây phương, chẳng sanh vào chốn
khác! Giống như cây to, tường lớn, lúc bình thường đã
nghiêng về Tây thì đến ngày nào đó ngã xuống, chúng sẽ quyết
định chẳng đổ sang chỗ khác.
* Cái tâm năng niệm nơi
một niệm hiện tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn
vọng tức là chơn, trọn ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến.
Một câu Phật hiệu ta niệm đó toàn là từ đức mà lập danh:
Ngoài đức chẳng có danh, dùng danh để chiêu đức; ngoài danh
không đức, ngoài tâm năng niệm chẳng hề có riêng vị Phật
được niệm, cũng không có riêng cái tâm năng niệm. Năng, sở
chẳng hai, chúng sanh và Phật y hệt như nhau, vốn lìa tứ cú,
vốn tuyệt bách phi, vốn trọn hết thảy, vốn chứa hết thảy,
dứt tuyệt đối đãi một cách viên dung chẳng thể nghĩ bàn.
Hành giả Liên tông nên từ nơi đây mà tin nhập.
* Hết thảy chúng sanh bổn
lai là Phật. Chơn tâm vốn có, vọng tánh vốn không. Tánh vốn
sẵn đủ hết thảy pháp lành. Chỉ vì chạy theo cái duyên mê
nhiễm đã lâu, chưa đoạn được cái vọng vốn không, chưa chứng
được cái chơn vốn sẵn có, trọn chưa hề tu gốc lành nên Phật
[trong tâm mình] là vị Phật chưa thành. Nay muốn đoạn cái
vọng vốn không, chứng cái chơn vốn có, tu cái lành vốn sẵn
trọn đủ, thành được quả Phật mình sẵn có, ngộ được tịnh
duyên, xét tìm con đường thật thẳng tắt, thật nhanh, chí đốn,
chí viên thì không chi bằng một hạnh Trì Danh Niệm Phật. Do
cái tâm năng niệm vốn là toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức
chơn nên đức Phật được niệm cũng vốn là toàn đức lập danh,
toàn danh tức đức. Ngoài tâm năng niệm không có riêng một vị
Phật được niệm; ngoài đức Phật được niệm, không có riêng cái
tâm năng niệm. Năng, sở đều mất; tâm, Phật nhất như. Trong
niệm niệm, điều phục trọn vẹn, đoạn trừ trọn vẹn ngũ trụ
phiền não, chuyển biến trọn vẹn, diệt trừ trọn vẹn ba tạp
nhiễm chướng, phá trọn vẹn ngũ ấm, siêu xuất trọn vẹn ngũ
trược, thanh tịnh trọn vẹn bốn cõi [Tịnh Ðộ], niệm trọn vẹn
tam thân, tu trọn vẹn vạn đức, chứng trọn vẹn bổn chơn, viên
thành Vô Thượng Diệu Giác. Một niệm đã như vậy thì niệm niệm
cũng như thế. Chỉ cần niệm niệm được liên tục như thế thì sẽ
chế phục, đoạn trừ, tu chứng chẳng thể nghĩ bàn được. Lấy
cái tâm toàn là Phật này để niệm vị Phật của toàn tâm thì sẽ
thật sự được toàn phần oai đức thần lực của quả Phật nơi tự
tâm ngầm gia bị cho. Một câu Phật hiệu chẳng tạp lẫn duyên
khác thì mười niệm thành tựu, nhanh chóng vượt qua nhiều
kiếp. Chẳng tin điều này thì khác gì gỗ đá! Bỏ pháp này đi
tu pháp khác thì nếu không phải là cuồng cũng là si. Biết
còn nói gì được, biết còn nói gì đây!
* Trong lúc lúc niệm Phật,
chẳng nên có ý tưởng chi khác. Chẳng có tưởng gì khác thì
chính là Chỉ. Trong lúc niệm Phật cần phải rành rẽ phân minh;
rành rẽ phân minh chính là Quán. Trong một niệm đủ cả Chỉ,
Quán; chẳng phải là có Chỉ và Quán riêng biệt! Chỉ chính là
nhân của Ðịnh, Ðịnh là quả của Chỉ. Quán là nhân của Huệ,
Huệ là quả của Quán. Một niệm chẳng sanh rành rẽ phân minh
là Tịch mà Chiếu. Rành rẽ phân minh, một niệm chẳng sanh
chính là Chiếu mà Tịch. Có thể làm được như vậy thì chắc
chắn không nghiệp nào chẳng thành. Thành được như vậy thì là
Thượng Phẩm. Một người cho đến trăm ngàn vạn ức người tu như
thế đều sẽ thành tựu như thế. Lẽ đâu người niệm Phật lại
chẳng lưu tâm hay sao?
Ba
điều tối quan trọng lúc lâm chung
(Lâm chung tam đại yeáu)
Ðiều bi thảm nhất trong
thế gian thật không chi bằng cái chết, nhưng khắp cả người
đời, có ai may mắn thoát được nổi? Vì vậy, người hữu tâm
muốn lợi mình lợi người thì chẳng thể không sớm lo liệu.
Thật ra, một chữ CHẾT vốn chỉ là giả danh. Do kỳ hạn của quả
báo chiêu cảm từ [các nhân] đời trước đã tận nên bỏ tấm thân
này rồi lại thọ cái thân khác vậy. Kẻ chẳng biết Phật pháp
thì thật chẳng biết tính toán cách nào, chỉ đành mặc cho
nghiệp xoay chuyển. Nay đã được nghe pháp môn Tịnh Ðộ phổ độ
chúng sanh của đức Như Lai thì phải nên tín, nguyện niệm
Phật, sắp sẵn tư lương vãng sanh, hầu mong thoát được cái
huyễn khổ luân hồi sanh tử, chứng sự vui chơn thật Niết Bàn
thường trụ.
Nếu ai có cha, mẹ, anh, em
và các quyến thuộc mắc phải trọng bịnh, bịnh tình khó bề
thuyên giảm thì nên phát tâm hiếu thuận, từ bi, khuyên họ
niệm Phật cầu sanh Tây phương và trợ niệm cho họ để mong
người bị bệnh nhờ đó sau khi chết liền được sanh về Tịnh Ðộ.
Sự lợi ích như thế kể sao cho xiết? Nay tôi nêu lên ba điều
trọng yếu để làm căn cứ hòng thành tựu sự vãng sanh cho
người lâm chung; lời lẽ tuy thô vụng nhưng ý vốn lấy từ kinh
Phật. Nguyện người thấy nghe, gặp được nhân duyên này sẽ đều
cùng làm theo. Ba điều trọng yếu là:
* Một là khéo chỉ dạy, an
ủi, khiến sanh chánh tín.
* Hai là cả nhà thay phiên
niệm Phật để giúp tịnh niệm.
* Ba là hết sức tránh xao
động, khóc lóc, kẻo làm hỏng việc.
Nếu có thể tuân hành theo
ba pháp này thì quyết định sẽ tiêu trừ được túc nghiệp, tăng
trưởng Tịnh nhân, được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương.
Một phen đã được vãng sanh thì sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu
sanh thoát tử, dần dần tấn tu ắt sẽ đạt tới quả Phật viên
thành mới thôi. Sự lợi ích như vậy hoàn toàn nhờ vào sức trợ
niệm của quyến thuộc. Có làm được như thế mới là hiếu chơn
thật đối với cha mẹ, mới thật là chơn đễ (5) đối
với anh em trai, chị em gái, mới thật là chơn từ đối với con
cái, mới thật là chơn nghĩa, chơn huệ đối với bằng hữu và
đối với mọi người; dùng những điều ấy để vun bồi thêm cái
nhân Tịnh Ðộ của mình. Xin thưa với những người cùng tin
tưởng là cứ lâu ngày chày tháng sẽ nào có khó gì mà chẳng
tập thành lề thói được. Nay tôi sẽ trình bày từng điều một
để lúc lâm chung khỏi bối rối vậy.
a. Ðiều thứ nhất là khéo
chỉ bày, an ủi, khiến sanh chánh tín: Thiết tha khuyên người
bịnh buông xuống hết thảy, chỉ nhất tâm niệm Phật. Nếu như
cần phải giao phó việc gì thì phải mau giao phó. Giao phó
xong thì chẳng đếm xỉa đến nữa, chỉ nghĩ ta nay theo Phật
vãng sanh cõi Phật; tất cả sự giàu vui, quyến thuộc thế gian,
các thứ trần cảnh đều là chướng ngại, thậm chí khiến mình
mắc hại. Vì thế, chẳng nên sanh tâm niệm quyến luyến. Phải
biết là một niệm chơn tánh của chính mình vốn chẳng có chết.
Cái chết vừa nói đó chỉ là xả thân này để lại thọ cái thân
khác mà thôi. Nếu chẳng niệm Phật thì sẽ phải thuận theo
nghiệp lực thiện, ác để lại thọ sanh trong nẻo lành, dữ. Nếu
như trong lúc lâm chung, nhất tâm niệm Nam Mô A Di Ðà Phật
thì do tâm niệm Phật chí thành sẽ quyết định cảm được Phật
phát đại từ bi, đích thân tiếp dẫn khiến mình được vãng sanh.
Ðừng nghi rằng: mình là nghiệp lực phàm phu, làm sao chỉ do
niệm Phật trong một thời gian ngắn lại có thể thoát khỏi
sanh tử, vãng sanh Tây phương? Nên biết rằng: vì đức Phật
đại từ bi nên kẻ tội nhân thập ác, ngũ nghịch rất nặng lúc
lâm chung, tướng địa ngục hiện ra mà nếu có thiện tri thức
dạy cho niệm Phật bèn hoặc niệm mười tiếng hoặc chỉ một
tiếng thì cũng được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây phương.
Hạng người ấy chỉ niệm mấy câu còn được vãng sanh, sao còn
ngại mình nghiệp lực nặng, niệm Phật ít ỏi nên sanh lòng
nghi nữa ư? Phải biết là chúng ta vốn có chơn tánh, chơn
tánh của ta và chơn tánh của Phật chẳng hai; chỉ vì ta hoặc
nghiệp còn sâu nặng nên chẳng thọ dụng được! Nay đã quy mạng
nơi Phật như con nương về cha chính là trở về với cái ta vốn
sẵn có, chứ nào có phải là điều gì bên ngoài đâu!
Hơn nữa, xưa kia, đức Phật
đã phát nguyện: “Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu của ta
mà chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng được vãng
sanh thì chẳng lấy ngôi Chánh Giác”. Vì thế, hết thảy
chúng sanh lúc lâm chung phát tâm chí thành niệm Phật cầu
sanh về Tây phương thì không một ai là chẳng được ngài rủ
lòng từ tiếp dẫn. Ngàn vạn phần chẳng được hoài nghi nữa!
Hoài nghi chính là tự mình lầm lạc, họa ấy chẳng nhỏ. Vả lại,
lìa cõi khổ não này sanh về thế giới vui vẻ ấy là điều hết
sức khoái ý cho nên phải sanh tâm hoan hỷ, ngàn vạn phần
chẳng được sợ chết. Dẫu sợ chết cũng tránh khỏi cái chết,
lại còn mất phần vãng sanh Tây phương nữa vì tâm mình trái
với tâm Phật vậy. Dẫu Phật sẵn lòng đại từ bi cũng vô phương
cứu tế người chẳng nương theo lời dạy của Phật!
Vạn đức hồng danh của Phật
A Di Ðà giống như lò luyện lớn lao; tội nghiệp trong nhiều
kiếp của chúng ta như một mảnh tuyết trong hư không. Nghiệp
lực phàm phu do bởi niệm Phật nên nghiệp liền tiêu diệt,
giống như mảnh tuyết bám vào bên lò lửa lớn liền bị tiêu hết
chẳng còn gì nữa. Vả lại, nếu nghiệp lực đã tiêu thì bao
nhiêu thiện căn sẽ tự nhiên tăng trưởng thù thắng; sao lại
còn ngờ chẳng được vãng sanh, Phật chẳng đến tiếp dẫn nữa ư?
Chỉ dạy, an ủi ngọn ngành,
uyển chuyển như thế khiến cho bịnh nhân tự mình sanh tâm
chánh tín. Ðấy chính là những điều cần phải khai thị cho
bịnh nhân. Còn như những việc chí thành, tận hiếu mà ta phải
nên làm thì cũng chỉ chú trọng ở những điểm ấy; chẳng nên
thuận theo thói tục cầu thần, tìm thuốc. Mạng lớn đã sắp hết
thì làm sao quỷ thần, thuốc men giữ cho khỏi chết được! Nếu
đã nhọc lòng vì những sự vô ích như thế thì đối với một sự
niệm Phật sẽ bớt thành khẩn, làm sao cảm thông đức Phật được!
Nhiều kẻ lúc cha mẹ lâm chung chẳng tiếc tiền của, thỉnh vời
nhiều thầy thuốc đến khám. Ðấy là mua tiếng hiếu, cốt ý muốn
được người đời khen mình tận hiếu đối với cha mẹ; nào hay
thiên, địa, quỷ thần xét soi tường tận nỗi lòng mình. Vì vậy,
đối với những sự tống táng cha mẹ mà quá sức phô trương thì
nếu chẳng mắc tai trời cũng ắt bị vạ người. Kẻ làm con chỉ
nên chú trọng đến nơi thần thức của cha mẹ sẽ sanh về. Lời
xưng tụng của thế nhân chẳng đáng cho kẻ sáng mắt nhếch mép
cười, lẽ đâu mình lại dốc lòng mong mỏi, thật chỉ khiến cho
mình phải mắc vào cái lỗi bất hiếu to lớn mà thôi!
b. Thứ hai là cả nhà thay
phiên niệm Phật để giúp tịnh niệm. Trước đó, đã giáo hóa
bịnh nhân khiến họ sanh chánh tín; nhưng vì tâm lực người
bịnh ấy yếu ớt, chưa kể đến hạng người lúc còn khỏe mạnh
chưa bao giờ niệm Phật, cho nên chẳng dễ niệm liên tục lâu
được. Cho đến giờ đây lấy niệm Phật làm việc chánh thì cũng
hoàn toàn nhờ vào người khác trợ niệm thì mới có thể có sức.
Vì vậy, quyến thuộc trong nhà nên cùng phát tâm hiếu thuận,
từ bi, vì người ấy trợ niệm Phật hiệu. Nếu bịnh tình còn
chưa đến nỗi sắp chết vào bất cứ lúc nào thì nên chia ban
niệm Phật. Nên chia thành ba ban, mỗi ban hạn định mấy người.
Ban đầu tiên niệm Phật ra tiếng, ban thứ hai và thứ ba niệm
thầm. Niệm một tiếng đồng hồ thì ban thứ hai niệm tiếp; ban
thứ nhất, ban thứ ba niệm thầm. Nếu có việc gì cần làm thì
nên lo liệu trong lúc niệm thầm; còn trong lúc trực ban trọn
chẳng nên bỏ đi. Ban thứ hai niệm xong, ban thứ ba niệm tiếp.
Xong rồi lại trở lại từ đầu. Niệm một tiếng, nghỉ hai tiếng;
[như vậy thì niệm] suốt cả ngày đêm thì cũng không mệt nhọc
lắm. Phải biết là mình chịu giúp người đạt được Tịnh niệm
vãng sanh thì mình cũng sẽ được hưởng báo có người trợ niệm.
Chớ có nói là chỉ vì cha mẹ nên mới phải tận hiếu như vậy,
mà đối với người dưng cũng phải nên vun bồi ruộng phước của
mình, trưởng dưỡng thiện căn của mình thì mới đúng là cái
đạo tự lợi, chẳng uổng làm người. Thành tựu một người được
vãng sanh Tịnh Ðộ chính là thành tựu một chúng sanh làm Phật.
Công đức thế ấy há nghĩ lường nổi ư!
Ba ban liên tục, tiếng
niệm Phật chẳng ngớt. Nếu sức bịnh nhân niệm nổi thì nương
vào đó mà niệm nho nhỏ theo. Chẳng niệm nổi thì lắng tai
nghe kỹ, tâm không có niệm gì khác thì tự có thể tương ưng
với Phật vậy. Tiếng niệm Phật chẳng nên quá to; to thời tổn
hơi, khó niệm lâu được; cũng chẳng thể quá nhỏ khiến bịnh
nhân chẳng nghe được rõ. Chẳng nên niệm quá mau, cũng chẳng
nên quá chậm. Quá mau bịnh nhân niệm theo chẳng nổi mà nghe
cũng chẳng rõ. Quá chậm thì chẳng tiếp hơi nổi nên cũng khó
có ích. Nên niệm chẳng cao, chẳng thấp, chẳng rề rà, chẳng
gấp gáp; từng chữ phân minh, từng câu rành mạch khiến từng
chữ, từng câu lọt tai thấu dạ bịnh nhân; nhờ vậy mà họ có
sức niệm.
Về pháp khí dùng cho việc
niệm Phật, chỉ nên dùng dẫn khánh (6), còn các
thứ khác đều chẳng nên dùng. Tiếng dẫn khánh trong trẻo
khiến tấm lòng người nghe thanh tịnh. Tiếng mõ trầm đục
chẳng thích hợp cho việc trợ niệm khi lâm chung. Thêm nữa,
nên niệm bốn chữ Phật hiệu. Lúc bắt đầu thì niệm vài câu sáu
chữ; rồi sau đó chỉ niệm bốn chữ A Di Ðà Phật, chẳng niệm
Nam Mô. Do ít chữ dễ niệm nên bịnh nhân sẽ để tâm niệm theo
hoặc nhiếp tâm lắng nghe, đều tốn ít tâm lực. Quyến thuộc
trong nhà niệm như vậy mà thỉnh thiện hữu ở ngoài đến cũng
niệm như vậy. Dù nhiều người hay ít người đều phải niệm như
thế, chẳng nên niệm một chốc, lại nghỉ một chốc rồi mới lại
niệm tiếp khiến bịnh nhân niệm Phật gián đoạn. Nếu ăn cơm
thì nên ăn vào lúc thay phiên, đừng để tiếng niệm Phật gián
đoạn.
Như lúc bịnh nhân sắp tắt
hơi thì cả ba ban cùng niệm cho đến tận sau khi đã tắt hơi
hẳn rồi mới lại chia ba ban niệm suốt ba tiếng đồng hồ nữa.
Sau đấy, mới ngưng niệm để lo liệu, sắp đặt mọi việc. Trong
lúc niệm Phật, chẳng để cho bè bạn đến trước bịnh nhân thăm
hỏi, vỗ về. Ðã có lòng đến thăm thì hãy cùng đại chúng niệm
Phật mấy thời. Ấy mới là tấm tình yêu mến chơn thật, có ích
cho bịnh nhân. Còn nếu cứ theo thói tục thường tình thì
chính là đã xô người xuống biển. Tình ấy tuy đáng cảm, nhưng
[để xảy ra] sự ấy mới thật là đau đớn. Toàn là cậy vào người
chủ chốt hiểu rõ đạo lý, bảo trước với người đến thăm để
khỏi tổn thương tình cảm, lại tránh di hại cho bịnh nhân bị
phân tâm mà chẳng được vãng sanh vậy.
c. Thứ ba là kiêng dè xáo
động, khóc lóc để khỏi làm hỏng đại sự Lúc người sắp chết
chính là lúc phân biệt giữa thánh phàm, người, quỷ, [tình
trạng khác nào] ngàn cân [treo] đầu sợi tóc; cần phải hết
sức cẩn thận, chỉ nên dùng Phật hiệu khai thị, dẫn dắt thần
thức người ấy chứ chẳng nên tắm rửa, thay áo, hoặc dời chỗ
nằm. Người ấy nằm như thế nào, cứ để yên người đó nằm trong
tư thế ấy, chẳng nên có chút dời động. Cũng chẳng nên đối
với việc ấy mà sanh bi cảm hoặc đến nỗi khóc lóc. Ấy là do
khi đó [người chết] thân chẳng tự chủ được; mỗi một sự lay
động là toàn thân lẫn chân tay đều bị đau đớn như bị cắt
chặt, giằng xé. Hễ đau đớn thì sanh tâm sân hận nên tâm niệm
Phật bị ngưng dứt. Do sanh tâm sân hận nên phần nhiều bị đọa
vào độc loại, đáng sợ hãi thay. Nếu [người chết] thấy [thân
quyến] buồn đau, khóc lóc thì tâm mến luyến phát sanh nên
tâm niệm Phật cũng bị ngừng nghỉ. Vì mang tâm ái luyến mà ra
đi nên đến nỗi đời đời, kiếp kiếp chẳng được giải thoát. Lúc
ấy, điều có lợi nhất thì không chi bằng nhất tâm niệm Phật;
điều tai hại nhất không chi bằng vọng động, khóc than. Nếu
như vọng động, khóc than đến nỗi [người chết] sanh lòng sân
hận cùng mến luyến thì có muốn sanh Tây phương, cả vạn
trường hợp cũng chẳng được một.
Thêm nữa, người sắp chết
hơi nóng rút dần từ dưới lên trên là tướng siêu sanh, còn
hơi nóng từ trên rút xuống dưới là tướng đọa lạc. Vì vậy, có
thuyết:
Ðảnh thánh, nhãn thiên
sanh
Nhân tâm, ngạ quỷ
phúc
Súc sanh tất cái ly,
Ðịa ngục cước phản xuất
Nhưng nếu cả nhà chí thành
trợ niệm thì người chết ắt tự có thể sanh thẳng về Tây
phương; chẳng nên rờ rẫm thăm dò khiến cho khi thần thức
người chết chưa rời khỏi xác, nhân đấy bị đau đớn, tâm sanh
phiền đau nên chẳng được vãng sanh. Lỗi họa ấy thật là vô
lượng vô biên. Xin các thân hữu đều phải khẩn thiết niệm
Phật, chẳng cần dò xem nóng lạnh ở chỗ nào. Làm con nên lưu
tâm điều này mới là thật hiếu. Nếu cứ thuận theo các thói
tục thế gian thì há chẳng phải là xô người thân xuống bể khổ
chẳng thương xót gì chăng, chỉ cốt mong một lũ vô tri vô
thức xúm lại khen mình đã có thể tận hiếu ư? Hiếu như vậy
thì có khác chi là yêu mến la sát nữ. Kinh dạy: “La sát
nữ ăn thịt người, bảo: ‘Vì ta yêu ngươi nên ăn thịt ngươi’.
Kẻ vô tri hành hiếu khiến cho người thân mất vui được
khổ, há chẳng phải là giống hệt cái tình yêu người của la
sát nữ hay sao? Tôi nói ra lời này, chẳng phải là không đếm
xỉa đến tình người mà chỉ là muốn cho ai nấy đều thấy rõ
thực tế, đều mong cho người chết vãng sanh, kẻ sống được
phước. Chỉ vì do đáp ứng tấm lòng chơn thành của con hiền,
cháu thảo thương yêu người thân nên chẳng nệ lời lẽ dường
như quá khích. Người thương yêu người thân thật sự khá nên
lượng thứ cho.
Thuyết: Ðảnh thánh,
nhãn sanh thiên... là nói về khi người đã tắt hơi, toàn
thân đã lạnh, chỉ còn đảnh đầu nóng thì ắt đã siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử. Nhãn sanh thiên là nếu mắt
cùng trán còn nóng thì sanh trong thiên đạo. Chỗ ngực còn ấm
thì sanh nhân đạo. Riêng bụng còn nóng thì sanh ngạ quỷ.
Riêng đầu gối còn nóng thì sanh làm súc sanh. Riêng bàn chân
còn nóng thì sanh địa ngục. Ðấy là do hai nghiệp thiện, ác
đã tạo của người ấy lúc còn sống đến giờ đây cảm hiện như
thế, chứ chẳng thể dựa vào thế lực nào để làm giả ra như vậy
được. Khi đó, nếu bệnh nhân có thể chí thành niệm Phật, lại
thêm sức của quyến thuộc và bạn lành trợ niệm sẽ quyết định
có thể đới nghiệp vãng sanh, siêu phàm nhập thánh vậy. Chẳng
cần phải để ý thử sờ xét nghiệm, đến nỗi làm hỏng việc. Mong
mỏi lắm thay!
 Hiện
đời được phước
Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:
“Hoặc có kẻ bảo cầu sanh Tịnh Ðộ là việc sau khi chết, chẳng
biết là có lợi ích gì lớn lao cho ngay khi đang còn sống
chăng? Phàm Phật dạy người, không điều gì là chẳng lành. Ðã
lấy việc cầu sanh Tịnh Ðộ làm tâm thì hễ ý nghĩ đến điều gì,
miệng nói đến điều gì, thân làm ra điều gì, không gì là
chẳng lành. Trong đời hiện tại, người ấy đáng coi là bậc
quân tử, là đại hiền, được người kính trọng, được thần nhân
phù trợ, phước duyên được tăng, thọ mạng được vĩnh viễn.
Kế đến là khống chế được
nghiệp duyên, chẳng còn chuyên chí vào cõi này; do vậy, ác
duyên giảm bớt; bởi đấy, thiện duyên càng tăng. Giả sử có kẻ
chẳng biết lễ nghĩa, chẳng sợ hình phạt, chỉ cậy vào khí lực,
chỉ chuyên chú theo đuổi cái lợi thế gian, nhưng nếu chỉ tạm
biết lấy Tịnh Ðộ làm tâm thì ắt cũng tự giảm bớt lỗi mình.
Tuy tất cả việc làm của kẻ ấy chưa thể đều phù hợp với lễ
nghĩa hết cả nhưng cũng trở nên khá gần với lễ nghĩa vậy, lẽ
đâu phải chịu vướng trong hình phạt hay sao? Nếu như ai nấy
đều được như vậy thì dần dần có thể thoát khỏi bầy tiểu nhân,
trọn quy về quân tử, đối với những người quen biết trong xóm
đều xem như người lành.
Do những lẽ ấy, há còn dám
bảo: tuân theo giáo pháp của Phật, lấy Tịnh Ðộ làm tâm là vô
ích đối với cuộc sống hiện tại hay chăng?”
Các sự lành hỗ trợ
Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:
“Cúng Phật, trai tăng, tạo tháp, dựng chùa, niệm tụng, lễ
sám, hiếu dưỡng cha mẹ, kính anh trọng em. Trong vòng họ
hàng, không ai chẳng hòa mục. Xóm giềng làng nước đối đãi tử
tế với nhau. Thờ vua thì dốc lòng son vì nước. Làm quan thì
nhân từ, lợi dân. Làm bề trên thì khéo làm cho mọi người an
vui. Làm kẻ dưới thì siêng gắng phục vụ bề trên. Hoặc là chỉ
giáo kẻ ngu mê, hoặc phù trợ người cô quả, yếu đuối, hoặc
cứu người đang bị tai nạn cấp bách, hoặc huệ thí kẻ bần cùng,
hoặc dựng cầu, đào giếng; hoặc thí cơm, cấp thuốc, hoặc giảm
sự tiêu xài của chính mình để làm lợi người khác. Hoặc dùng
tiền của làm lợi người khác, giảm bớt chi dùng của chính
mình, hoặc dạy người làm lành, hoặc giúp thiện, ngăn ác. Cứ
tùy nghi mà làm hết thảy việc lành thế gian hay xuất thế
gian, chẳng nệ lớn, nhỏ, ít, nhiều; hoặc là chỉ dùng một
tiền đem cho người hoặc là cho một vốc nước đỡ khát. Ðối với
mỗi việc lành dẫu nhỏ nhoi cũng đều khởi niệm rằng: Nguyện
đem thiện duyên này hồi hướng Tây phương, nhờ các điều thiện
hỗ trợ quyết sẽ được vãng sanh”.
Mười điều mất mát nếu
chẳng tu
Phật dạy pháp tu hành
đường tắt khiến hết thảy chúng sanh mau siêu sanh tử; nhưng
người chướng nặng chẳng chịu tấn tu thì sẽ chịu mười điều
mất mát:
Một, chẳng tin lời Phật.
Hai, chẳng tuân thánh giáo.
Ba, chẳng tin nhân quả.
Bốn chẳng trọng cái linh
tâm của mình.
Năm, chẳng cầu tiến lên.
Sáu chẳng thân thiện hữu.
Bảy, chẳng cầu giải thoát.
Tám, cam chịu luân hồi.
Chín, chẳng sợ ác đạo.
Mười, cam làm loài ma.
Ngược lại, tu hành thì
được mười thứ lợi ích thù thắng.
Mười thứ tín tâm
Muốn hết sạch sanh tử, tu
hành Tịnh nghiệp thì nên phát mười thứ tín tâm; niệm niệm
chẳng quên thì sẽ quyết sanh về Tịnh Ðộ, đắc bất thối chuyển.
Một: tin
pháp của Phật đã nói là lời chân thành phát xuất tự miệng
vàng, chơn thật chẳng dối.
Hai: tin
rằng phàm phu còn mê thì thức thần chẳng diệt, xoay vần
trong sáu nẻo chẳng ngơi.
Ba: tin
rằng tu hành trong cõi này nếu chưa được đạo quả thì chẳng
tránh khỏi bị luân hồi.
Bốn: tin
rằng nếu chưa thoát khỏi luân hồi thì dẫu sanh lên trời vẫn
chẳng tránh khỏi bị đọa lạc.
Năm: tin
rằng chúng sanh sanh về thế giới Cực Lạc sẽ vĩnh viễn chẳng
thoái chuyển.
Sáu: tin
chúng sanh phát nguyện, nguyện sanh Tịnh Ðộ sẽ quyết định
vãng sanh.
Bảy: tin
rằng một phen xưng danh hiệu Phật sẽ diệt được tám mươi ức
kiếp sanh tử tội nặng.
Tám: tin
người niệm Phật sẽ được thần thông quang minh của A Di Ðà
Phật nhiếp thủ chẳng hề buông bỏ.
Chín: tin
người niệm Phật luôn luôn được hằng sa chư Phật trong mười
phương thế giới cùng dùng thần lực hộ niệm.
Mười: Tin
là khi đã sanh về Tịnh Ðộ sẽ có thọ mạng vô lượng, trong một
đời sẽ chứng đắc Vô Thượng Bồ Ðề.
Chẳng thể tin tưởng sâu sa
vào mười điều trên, lại còn sanh nghi hoặc thì dẫu có niệm
Phật vẫn chẳng được vãng sanh.
Hiếu dưỡng cha mẹ
Ngài Trường Lô Trách thiền
sư soạn văn khuyên hiếu thuận gồm một trăm hai mươi thiên.
Một trăm thiên đầu giảng rõ hiếu dưỡng ngọt bùi là sự hiếu
thế tục. Hai mươi thiên sau giảng rõ: khuyên cha mẹ tu Tịnh
Ðộ là sự hiếu xuất thế. Cái hiếu của thế gian một đời là hết;
cái hiếu xuất thế không lúc nào tận. Không có điều hiếu nào
lớn bằng việc làm cho cha mẹ được vãng sanh Tịnh Ðộ! Cha mẹ
còn sống mà chẳng khuyên lơn như vậy được thì một mai cha mẹ
khuất bóng rồi, dẫu đau lòng tận lực hậu lễ cũng nào có ích
gì?
Quán Kinh trước sau hai
lượt dạy hiếu dưỡng cha mẹ là Tịnh nghiệp, chính là ý này.
Lại nói: Khi cha mẹ tin biết niệm Phật là lúc trồng hoa sen.
Lúc nhất tâm niệm Phật là lúc hoa sen ló khỏi mặt nước. Niệm
Phật thành công là lúc hoa nở thấy Phật vậy. Người hiếu tử
xét thấy khi cha mẹ sắp vãng sanh bèn đem các việc lành cha
mẹ đã làm được trong cả đời soạn sẵn thành một bài, luôn
luôn đọc lên khiến mẹ cha hoan hỷ. Lại khuyên cha mẹ khi nằm,
ngồi đều hướng về Tây để chẳng quên Tịnh Ðộ. Bày tượng Di Ðà,
thiêu hương, gõ khánh, niệm Phật chẳng dứt. Lúc [cha mẹ] xả
báo, lại càng dụng tâm, chớ có than khóc làm cha mẹ mất
chánh niệm. Cha mẹ được sanh Tịnh Ðộ hưởng các điều khoái
lạc, há chẳng phải là việc tốt lành sao! Hiếu dưỡng cả một
đời chính là lúc này đây. Nhắn những kẻ con hiếu cháu thuận
chớ quên điều ấy!
   
|