|
CHƯƠNG I: NHÂN DUYÊN
PHÁT KHỞI NIỆM PHẬT
^
Ðại sư Liên Trì nói
rằng: “Một niệm siêu ba cõi, một lời ngang với Thánh hiền,
thật là diệu dụng bất khả tư nghị, điều ấy chỉ có trong kinh
A Di Ðà mà thôi vậy!”. Kinh này là nhân duyên phát khởi pháp
môn trì danh niệm Phật. Ðức Thích Ca Mâu Ni quán thấy hết
thảy chúng sinh vốn xưa nay là Phật, ai ai cũng có đầy đủ
tri kiến Phật, chỉ vì vọng tưởng vô minh che đậy nên không
thể thấy được tự tánh Như Lai; tuy bị mê mờ, luân hồi trong
ba cõi sáu đường nhưng Phật tánh vốn có ấy vẫn không bị mất
đi. Như kho bảo châu chôn ở trong nhà, viên minh châu buộc
trong chéo áo chưa từng tán mất. Cho nên Ðức Phật chỉ bày
pháp môn niệm Phật là muốn khiến cho hết thảy chúng sinh
phát tâm niệm Phật, mà ngộ nhập được tri kiến Phật vốn có
ấy.
Các Ðức Phật ra đời chỉ
vì một đại sự nhân duyên là “khai thị cho chúng sinh ngộ
nhập tri kiến Phật”. Trong Kinh Pháp Hoa, Phật bảo với ngài
Xá Lợi Phất rằng: “Này Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là chư Phật
Thế Tôn, vì một nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Chư Phật
Thế Tôn muốn cho hết thảy chúng sinh khai tri kiến Phật, đắc
thanh tịnh giải thoát mà hiện ra nơi đời; muốn chỉ cho chúng
sinh thấy tri kiến Phật mà xuất hiện nơi đời; muốn cho chúng
sinh ngộ tri kiến Phật mà xuất hiện nơi đời; muốn cho chúng
sinh nhập tri kiến Phật mà xuất hiện nơi đời”. Tri kiến Phật
tức là Bồ đề tứ trí (Thành sở tác trí, Diệu quan sát trí,
Bình đẳng tánh trí, Ðại viên cảnh trí) của chư Phật, cũng
tức là ba đức (Pháp thân, Niết bàn, Giải thoát) đang ẩn tàng
trong chúng sinh. Chư Phật ngộ Phật tri kiến mà thành đẳng
chánh giác; chúng sinh vì mê nên phải luân hồi trong sinh
tử. Nên biết mê và ngộ tuy có khác nhau nhưng Phật và chúng
sinh xưa nay bình đẳng. Kinh Kim Cang nói rằng: “Pháp bình
đẳng ấy không có cao thấp”. Tức là: Chúng sinh vốn đầy đủ
tri kiến Phật bằng chư Phật không khác.
Hai chữ “tri kiến” là
nói theo căn tánh. Căn tánh tức là Phật tánh. Tánh này
thường ở đầu cửa sáu căn; ở mắt thời gọi là thấy, ở tai thời
gọi là nghe, ở mũi thời ngửi, ở lưỡi thời nếm, ở thân thời
xúc chạm (cảm giác), ở ý thời gọi là biết, nay chỉ đưa ra ý
căn và nhãn căn nên gọi là tri kiến (thấy biết), thật ra thì
sáu tánh này chỉ là một tánh. Như Kinh Lăng Nghiêm nói, vốn
chỉ là một tinh minh nhưng phân thành sáu hòa hợp. “Cái
biết” của Phật là thật biết, không có cái gì mà chẳng biết;
“cái thấy” của Phật là thật thấy, không có cái gì mà chẳng
thấy. Nay chúng sinh do mê lầm nơi vọng tưởng chấp trước nên
cái thấy biết trở thành vọng kiến vọng tri (không phải là
cái thấy biết chân thật).
Cổ đức có nói rằng: “Biết bao con chim đã
mê lầm lót ổ trên một đám
mây trắng giăng
ngang miệng vực”. Nên biết vọng niệm không có tự
tánh, toàn thể tức chân, Phật vì chúng sinh mà khai mở, mà
chỉ thị khiến chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật, như chỉ cho
biết trong nhà vốn đã có kho báu, viên minh châu vốn có sẵn trong chéo
áo, hà tất cầu tìm.
Ðức Thích Ca Mâu Ni khai
thị pháp môn niệm Phật tức là muốn cho hết thảy chúng sinh
thâu nhiếp lục căn, khiến được tịnh niệm tương tục, xưng
niệm “Nam Mô A Di Ðà Phật”, niệm đến cảnh giới tâm cảnh đều
vắng lặng thì Phật tánh sẽ tự hiển hiện, thành tựu tự tánh
Di Ðà và hoàn thành giai đoạn nhân duyên xuất thế này.
Pháp môn niệm Phật còn
gọi là pháp môn Tịnh độ, lại được gọi là “Liên Tông”, lại
được gọi là “Tịnh Tông”. Lòng từ của Ðức Thích Ca Mâu Ni
thật là vô hạn, Ngài quán xét căn cơ của chúng sinh ở cõi Ta
bà mà ban cho pháp môn tối thắng này. Thấy căn tánh của
chúng sinh chỉ có tu trì theo pháp môn niệm Phật này, là
pháp môn dễ nhất, lại dễ đắc độ, nên không ai đặt vấn đề mà
tự thân thuyết (vô vấn tự thuyết), đó là cuốn Kinh A Di Ðà
mà chúng ta trì tụng hằng ngày. Ngài tự nói cho Xá Lợi Phất
biết rằng: “Từ đây hướng về phía Tây trải qua 100.000 ức cõi
Phật, có một thế giới tên là Cực lạc, nước Cực lạc ấy có
Phật hiệu là A Di Ðà hiện đang thuyết pháp”. Cực lạc là y
báo, Di Ðà là chánh báo. Vì để muôn đời trì danh hiệu Phật
nên Ðức Thích Ca đã nói ra pháp môn vi diệu này. Pháp môn
này thượng, trung, hạ căn đều có thể hành trì, tứ sinh lục
đạo đều được siêu thoát, lợi ích của nó thật là không thể
nghĩ bàn vậy.
Trong Kinh A Di Ðà, Ðức
Phật giải thích hai chữ “Cực lạc” rằng: “Xá Lợi Phất! Nước
ấy vì sao có tên là Cực lạc? Vì những chúng sinh sinh về
nước ấy không có các khổ não, chỉ có an vui, cầu gì được nấy
nên gọi Cực lạc”. Trên đây là nói rõ các thứ trang nghiêm y
báo chánh báo của cõi Tây phương, hầu phát khởi tín ngưỡng
của chúng sinh; thứ đến là khuyến cáo chúng sinh mỗi người
hãy nên phát nguyện, nguyện cầu vãng sinh Tây phương Cực
lạc. Kinh rằng: “Này Xá Lợi Phất! Khi chúng sinh nghe đến
cõi nước Cực lạc hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy. Vì
sao? Vì được ở cùng chư thiện tri thức”. Cuối cùng là chí
thành khuyên bảo nên trì danh hiệu Phật A Di Ðà để được nhất
tâm bất loạn. Kinh rằng: “Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam
tín nữ nghe nói đến Phật A Di Ðà mà chấp trì danh hiệu hoặc
một ngày, hai ngày... cho đến bảy ngày được nhất tâm bất
loạn thời người ấy lúc lâm chung được Phật A Di Ðà cùng các
Thánh chúng tay nâng kim đài hiện ra trước mặt, người ấy lúc
lâm chung tâm không điên đảo tức được vãng sinh về thế giới
Cực lạc”.
Như những điều đã dẫn
trên đây thì cốt yếu của Kinh A Di Ðà là Ðức Phật muốn
khuyến phát tín nguyện hạnh. Người tu pháp môn niệm Phật nên
lấy tín nguyện hạnh để làm tư lương cho lộ trình vãng sinh
nước Cực lạc. Nếu như đầy đủ được ba món tư lương này thì
chắc chắn hành giả được lên ngôi cửu phẩm. Nên biết: Có vãng
sinh được hay không hoàn toàn đều do nơi hành giả có hay
không có tín nguyện; phẩm vị cao thấp là do ở chỗ hành trì
cạn hay sâu. Tín nguyện hạnh này như đỉnh ba chân, thiếu một
thời không đứng được. Tôi thường khuyến khích mọi người nên
tu trì pháp môn Tịnh độ, đối với ba món tư lương này, mỗi
món thêm một chữ, gọi là: Tín tất phải thâm tín (tin
sâu); nguyện tất phải thiết nguyện (nguyện thiết
tha); hành tất phải thật hành. Nếu được như thế thì
chắc chắn cầm chiếc vé vãng sinh Tây phương Cực lạc.
I. Tin sâu,
sơ lược có bốn: 1/ Tin Ðức Thích Ca Như Lai đã viên mãn tam
giác (tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn), tứ trí.
2/ Tin cõi Tây phương Cực lạc là thực có, do Ðức Phật A Di
Ðà đại từ đại bi làm giáo chủ, lúc còn ở nhân địa tu hành đã
phát đại 48 hoằng thệ nguyện, nguyện sau khi tinh cần tu vạn
hạnh thành tựu được công đức trang nghiêm chứ không phải là
hư ảo. 3/ Tin chư Phật ở sáu phương đều xuất ra tướng lưỡi
dài rộng che khắp tam thiên đại thiên thế giới tán thán pháp
môn Tịnh độ, là công đức không thể nghĩ bàn. Chư lịch đại
Thánh hiền hoằng dương pháp môn Tịnh độ là tu hành bằng con
đường tắt trong các con đường tắt, cho đến muôn kinh vạn
luận nơi đâu cũng chỉ rõ ràng. Thánh hiền xưa nay ai ai cũng
đề xướng pháp môn Tịnh độ, quyết định là những lời chân thật
không phải dối lừa.
4/ Tin rằng cõi Ta bà ngũ trược là do chiêu cảm ác nghiệp
của chúng sinh; cõi Cực lạc thanh tịnh sạch đẹp, thành tựu
do những tịnh nghiệp của chúng sinh. Niệm Phật được thanh
tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý, khi tịnh nghiệp đã thành thì
vãng sinh Tịnh độ là phù hợp với nhân quả chớ không phải là
hư cuống. Quả thật lúc đầy đủ bốn niềm tin này thì cho dù ai
đó nói có pháp môn nào đó siêu việt hơn, khuyên ta tín
ngưỡng ta cũng không đổi ý. Bởi vì ta đã tin tưởng vào pháp
môn niệm Phật là pháp môn tối thắng hơn hết, đây chính là
tin sâu.
II. Nguyện thiết tha,
lược có bốn loại:
1.- Nguyện không phụ
tánh linh của mình. Tánh này là
Phật tánh tự nhiên mà mỗi chúng sinh đều có đủ. Chỉ vì do
phiền não mê lầm, kết nghiệp trói buộc mà phải luân hồi
trong biển khổ sinh tử. Nay may mắn được sinh làm người,
được nghe Phật pháp, lại được nghe đến danh hiệu Phật A Di
Ðà, công đức bổn nguyện tín ngưỡng sâu xa nên tự phát
nguyện, nguyện suốt đời thọ trì pháp môn niệm Phật để cầu
liễu sinh thoát tử, cầu vãng sinh Tịnh độ, cầu thành Phật
đạo để không cô phụ tánh linh.
2.- Nguyện ly khổ đắc
lạc. Chúng ta theo nghiệp mà sinh
vào thế giới Ta bà năm trược này, bị các khổ, tam khổ, bát
khổ, vô lượng chúng khổ nói không cùng tận. Nay thử đem Ta
bà, Cực lạc so sánh. Ta bà có tam khổ: 1/ Khổ khổ;
tức là chúng sinh trong năm đường (ngũ thú chúng sinh) chịu
thân sinh tử này đã là khổ mà lại còn phải chịu bao nhiêu
cái khổ bức bách nên gọi là khổ khổ (cái khổ này chồng lên
cái khổ kia). 2/ Hoại khổ; từ trời Lục Dục cho đến
trời Tam Thiền tuy có lạc thọ, nhưng cái lạc ấy không trường
cửu, rốt cuộc cũng bị tán hoại nên gọi hoại khổ. 3/ Hành
khổ; từ trời Tứ Thiền trở lên tuy không còn khổ lạc
nhưng vẫn phải bị hành ấm thiên lưu, chưa đắc tự tại giải
thoát, lúc hết quả báo cõi trời thì vẫn phải bị đọa lạc nên
gọi hành khổ. Và chúng sinh ở cõi Cực lạc chỉ thọ những sự
thư thái an vui của thân tâm mà không có khổ khổ; chỉ thọ
những sự an vui của chánh báo trang nghiêm mà không có hoại
khổ; chỉ thọ những sự an vui của tam muội tịch diệt mà không
có hành khổ.
Lại thế giới Ta bà có
tám khổ: 1/ sinh là khổ, 2/ già là khổ, 3/ bệnh là khổ, 4/
chết là khổ, 5/ thương yêu mà phải xa lìa là khổ,
6/ ghét nhau mà phải ở
cùng là khổ, 7/ mong cầu không được là khổ, 8/ năm ấm
không hòa hợp là khổ. Và chúng sinh ở cõi Cực lạc thì chỉ có
cái vui hóa sinh hoa sen mà không có cái khổ của thai sinh;
chỉ có niềm vui của tướng đẹp sáng ngời mà không có cái khổ
của sự suy thoái vì thời gian; chỉ có niềm vui tự tại mà
không có cái khổ của bệnh tật; chỉ có niềm vui của sự thọ
mạng mà không có cái khổ của tứ đại phân ly; chỉ có niềm vui
của sự đoàn tụ mà không có cái khổ của sự thương yêu mà phải
xa lìa; chỉ có cái vui của sự thương yêu mà không có cái khổ
của sự oán ghét mà phải sống chung; chỉ có niềm vui của sự
cầu gì được nấy mà không có cái khổ dục bất như ý; chỉ có
niềm vui của năm ấm được điều hòa mà không có sự khổ lúc
phiền não bừng lên. Hai cõi một uế một tịnh, khổ lạc khác
nhau trời vực nên thiết nguyện vãng sinh ly khổ đắc lạc.
3.- Nguyện mau được
lên ngôi cửu phẩm không
còn thoái chuyển.
Tu hành ở cõi Ta bà này khó tiến mà
lại rất dễ thoái thất, là vì hoàn cảnh xấu ác, duyên chướng
đạo nhiều, duyên trợ đạo ít. Hoặc ban đầu thì tinh tấn sau
lại giải đãi, hoặc là công hạnh chưa thành, khi duyên đời
hết đổi báo thân khác không nhớ việc tu hành đời trước nên
không thể tiếp tục, đời sau lại tạo nghiệp mới ắt phải thoái
đọa. Những khó khăn của sự tu hành ở cõi Ta bà, như Bồ Tát ở
quả vị thập tín, đã phát đại tâm mà còn tiến lên thoái xuống
huống hồ phàm phu. Có tín tâm tu hành phải trải qua một vạn
kiếp, khi tín tâm đầy đủ, thiện căn thành thục mới chứng
được sơ trụ (một trong thập trụ), được quả vị bất thoái. Và
pháp môn niệm Phật vừa được vãng sinh là chứng liền tam bất
thoái (vị bất thoái, hành bất thoái, niệm bất thoái). Kinh A
Di Ðà nói rằng: “Những chúng sinh được sinh lên Cực lạc đều
là A bệ bạt trí (bất thoái địa) nên quyết định cầu vãng sinh
Tịnh độ, nguyện chứng bất thoái chuyển.
4.- Nguyện chính mắt
thấy Phật A Di Ðà. Bởi vì khó mà
tự thân thấy được chư
Phật xuất thế, thí như hoa Ưu đàm, 3000 năm mới nở
một lần. Người xưa than thở: “Lúc Phật xuất thế con còn trầm
luân, nay được thân người Phật đã diệt độ; hận cho thân này
nhiều nghiệp chướng,
không thấy được thân sắc vàng của Như Lai”. Chúng ta
sinh nhằm vào thời mạt pháp, Phật Thích Ca đã diệt độ, Phật
Di Lặc lại chưa sinh nên muốn tự thân
thấy Phật nghe pháp thật là việc khó vô
cùng. Thí như đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa đáng thương biết bao, đã
không cha mẹ lại thêm nghèo đói thì cuộc đời cô độc
của nó nguy hiểm đến thế nào? Nay ở thế giới Cực lạc Ðức A
Di Ðà từ tôn đang thuyết pháp,
thương nhớ chúng sinh như
mẹ thương con. Chúng ta quyết tâm niệm Phật cầu sinh
Tịnh độ, nguyện thấy Phật
A Di Ðà, cho dù trải qua kiếp số nhiều như cát bụi
nguyện này không bao giờ
thay đổi. Cho dù lúc lâm chung hoặc trời Ðế Thích
tiếp dẫn ta lên cõi trời Ðao Lợi, hoặc vua trời Ðại Phạm đón
rước ta sinh lên cõi trời Sơ thiền ta cũng nhất định không
đi, huống gì là những
đường ác thú khác.
Lại
nữa, không những chỉ nguyện sinh Tây phương mà thôi đâu, ta còn
phải nguyện sinh lên
thượng phẩm thượng sinh, mong được đài vàng để sớm
thấy Phật, mau chứng vô
sinh pháp nhẫn. Như Ðại sư Hoài Ngọc chỉ chuyên tu
tịnh nghiệp. Một ngày nọ, ngài thấy Phật A Di Ðà hiện thân,
trên không trung phát ra muôn tiếng nhạc, Phật A Di Ðà tay
cầm đài bạc đến tiếp dẫn, Hoài Ngọc nghĩ: Ta một đời tinh
tấn tu hành cốt chí tâm ở đài vàng, nay chỉ được đài bạc ta
quyết không vãng sinh. Suy nghĩ thế xong thì thấy Ðức A Di
Ðà từ từ bay về hương Tây biến mất. Từ ấy trở đi Hoài Ngọc
càng thêm tinh tấn, ngày 21, Phật cùng chư Bồ Tát lại hiện
khắp cả hư không, đức A Di Ðà lần này tay cầm đài vàng đến
tiếp dẫn. Ngọc nghĩ: Nguyện ta đã trọn vậy. Bèn chắp tay
hướng về phía Tây thị tịch, lúc ấy trong không trung phát ra
muôn ngàn âm nhạc. Thái Thủ Tụng nói rằng: “Thầy tôi một
niệm lên sơ địa, trăm ngàn khí nhạc thảy đồng ca; cây hòe cổ
thụ nơi đầu ngõ, trên cành có quải một kim đài”. Chính như
Quang Minh Thiện Ðạo cũng có nói rằng: “Nguyện ngươi thế
nào, thì được thành tựu như thế ấy”.
Sức nguyện lực
thật không thể nghĩ bàn. Các thứ
trang nghiêm của thế giới Tây phương Cực lạc đều do nguyện
lực của Ðức Phật A Di Ðà mà thành tựu. Nếu niệm Phật có tín
mà không nguyện thì tín ấy chỉ là hư tín. Cho nên, có niềm
tin rồi còn cần phải phát nguyện. Phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện
lấy mười đại nguyện vương làm tư lương cho lộ trình đi về
Cực lạc. Lại nữa, Bồ Tát Phổ Hiền còn phát kệ thệ nguyện
rằng: “Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung, trừ sạch hết thảy
bao chướng ngại; tận mắt thấy Phật A Di Ðà, tức được vãng
sinh nước Cực lạc”. Là những người tu trì pháp môn Tịnh độ,
nguyện ấy không thể không khẩn thiết.
III. Thực hành,
hành tức là trì danh hiệu Phật, chuyên tu Tịnh độ. Hành ấy
quý ở chỗ chân thật, nếu có tín, nguyện mà không có thực
hành thì vẫn không được vãng sinh thế giới Cực lạc. Thí như
tin (tín) vào hạt giống có thể cho hoa kết trái, rồi cũng
mong (nguyện) hạt giống ấy cho hoa thơm trái ngọt nhưng lại
không gieo xuống đất, không chăm sóc tưới tẩm (không thực
hành) thì tất nhiên là không thể có quả để thu hoạch. Cũng
như thế, niệm Phật phải đầy đủ tín, nguyện, hạnh,
thiếu một thời không thể được. Hạnh có hai loại:
1.- Sự hành:
Là dùng cái tâm năng niệm, niệm Phật sở niệm, năng sở rõ
ràng, tâm, Phật tương ưng, tâm không rời Phật, Phật không
rời tâm, niệm niệm tương tục không gián đoạn, đi, đứng, nằm,
ngồi không rời câu “Nam mô A Di Ðà Phật”, không khởi vọng
tưởng. Tâm như hồ nước trong lắng không chút gợn
sóng, Phật như trăng mùa thu vằng vặc trên trời, trạm
nhiên bất động, đó là niệm Phật bằng sự hành.
2.- Lý hành:
Tức là rõ lý trung đạo mà hành pháp tu niệm Phật. Nghe nói
pháp môn niệm Phật rồi tin theo không chút mảy may nghi ngờ,
nguyện vãng sinh Cực lạc, chuyên tu tịnh nghiệp, không trụ ở
có, không rơi vào không, niệm mà không thấy có niệm, không
thấy ta là người niệm, Phật là người được niệm. Niệm Phật
đến lúc không còn năng sở thì tâm, Phật nhất như, tâm tức là
Phật, Phật tức là tâm, không có hai tướng cũng không thể tìm
ở có không. Nếu nói là có thì cái tâm năng niệm bản thể vốn
vắng lặng, Phật sở niệm tướng bất khả cầu. Nếu nói là không
thì cái tâm năng niệm linh thông chưa từng bị hôn tối, Phật
sở niệm sáng rỡ muôn đời. Không còn có tướng có không mà trở
về với thật tướng. Cổ đức nói kệ rằng: “Bỗng nhiên khởi niệm
niệm Di Ðà, đất bằng không gió dậy phong ba; thân tâm yên
lặng trong vô niệm, khởi lên (biết) không niệm cũng là tà”.
Ðây không chuyên tu sự tướng mà là thuần tu lý quán, sức
quán thành tựu thì sẽ biết rõ tâm, Phật tuy có hai tên gọi
nhưng bản thể chỉ là một, thấy được tự tánh Di Ðà, tâm hồn
trong lắng thì đó là niệm Phật lý hành.
Tín nguyện hạnh là ba món tư lương của hành giả trên con
đường đi đến Cực lạc. Ðã chuẩn bị đầy đủ tư lương thì vấn đề
vãng sinh nào còn có khó gì? Ðã vãng sinh Cực lạc thì không
còn khổ não, siêu vượt tam giới. Vì thế nên Ðức Thích Ca Mâu
Ni đã vì chúng sinh mà tự nói ra Kinh A Di Ðà để làm nhân
duyên phát khởi niệm Phật.
Xem tiếp
|