|
|
|

Ấn
Quang Ðại Sư - Liên Tông Thập Tam Tổ
Ấn Quang Ðại Sư, húy
Thánh Lượng, biệt hiệu Thường Tàm, người khoảng cuối Thanh
sang kỷ nguyên Dân Quốc, con nhà họ Triệu ở Thiểm Tây.
Thuở bé ngài học Nho, lớn lên lấy việc duy trì đạo Khổng
làm trách nhiệm, nên theo thuyết của Hàn Dũ, Âu Dương Tu
bài bác Phật pháp. Sau bị bịnh mấy năm, tự xét biết lỗi
lầm, liền cải hối tâm niệm trước.
Niên hiệu Quang Chữ thứ
bảy đời Thanh, vừa sang hai mươi mốt tuổi, căn lành thành
thục, ngài xuất gia với Ðạo Thuần Hòa Thượng tại chùa Liên
Hoa Ðộng ở núi Chung Nam. Ít lâu sau, lại được duyên thọ
Ðại Giới nơi chùa Song Khê, huyện Hưng An với luật sư Ấn
Hải Ðịnh.
Ngài từng bị đau mắt khi
sanh ra vừa sáu tháng, sau tuy lành bịnh nhưng mục lực đã
suy kém. Mắt vừa hơi đỏ thì chỉ nhìn thấy cảnh vật lờ mờ.
Lúc thọ giới Cụ Túc, vì ngài cẩn thận và viết chữ khéo nên
được cử làm chức Thơ Ký. Do viết chữ quá nhiều, đôi mắt
lại phát đỏ như huyết. Lúc trước nhân khi phơi kinh được
xem bộ Long Thơ Tịnh Ðộ, biết rõ công đức niệm Phật, nên
kỳ thọ giới này, ban đêm sau khi chúng an nghỉ, ngài vẫn
ngồi niệm Phật. Ban ngày cho đến lúc viết chữ, tâm cũng
không rời Phật. Nhờ đó tuy đôi mắt phát đỏ, vẫn có thể
gắng gượng biên chép. Khi giới đàn vừa mãn bịnh đau mắt
cũng được lành. Do đây, ngài biết công đức niệm Phật không
thể nghĩ bàn! Và nhân duyên này cũng là đầu mối khiến ngài
quy hướng Tịnh Ðộ và khuyên người niệm Phật. Từ đó, Ðại Sư
tiến bước trên đường tu học trải qua các danh lam: Tư
Phước Tự, Long Tuyền Tự, Viên Quảng Tự và sau cùng đến
chùa Pháp Võ ở Phổ Ðà Sơn.
Trong thời gian ấy, khi
thì tham học, lúc duyệt Tam Tạng Kinh, khi lại nhập thất,
nên ngài ngộ sâu đến Thượng Thừa, lý sự đều vô ngại. Ðại
Sư kiến thức cao siêu, làm việc cẩn mật, nên hai phen được
Hóa Văn Hòa Thượng và Ðế Nhàn Pháp Sư mời làm đồng bạn đến
đế đô thỉnh ba tạng kinh cho Pháp Võ Tự ở Phổ Ðà Sơn và
Ðầu Ðà Tự tại Ôn Châu. Cảm mến hạnh đức, Hóa Văn Hòa
Thượng thỉnh ngài về ở lầu Tàng Kinh tại chùa Pháp Võ để
tĩnh tâm tu niệm. Tính đến cuối đời nhà Thanh, trong hơn
ba mươi năm xuất gia, Ðại Sư trước sau mai danh ẩn tích,
không thích cùng người tới lui giao tiếp để hôm sớm yên tu,
cầu chứng Niệm Phật tam muội.
Nhưng chuông trống tuy
đánh bên trong, tiếng thanh vẫn vang ra ngoài. Cao Tăng dù
muốn ẩn mình, Thiên Long cũng đưa duyên phổ hóa. Niên hiệu
Trung Hoa Dân Quốc năm đầu, cư sĩ Cao Hạc Niên nhân khi
hành hương đến chùa Pháp Võ, lúc trở về đem vài bài văn
của Ðại Sư đăng lên Phật Học Tòng Báo ở Thượng Hải, dưới
đề tên là Thường Tàm. Tuy chưa biết đó là ai, nhưng văn tự
Bát Nhã đã khiến cho độc giả phát khởi căn lành, nhiều
người đua nhau dò hỏi hỏi chỗ ở. Lúc ấy, Ðại Sư vừa đúng
năm mươi hai tuổi. Mấy năm sau, tung tích cũng bị người
tìm biết được; lần lượt kẻ vượt bể lên non cầu lời khai
thị, người mượn tin hồng nhạn hỏi lối nam châm. Cư sĩ Từ
Uất Như sưu tập văn tín của ngài in thành bộ Ấn Quang Pháp
Sư Văn Sao, tái bản và tăng đính nhiều lượt, truyền bá cả
trong đến ngoài nước.
Ban sơ, khi Từ cư sĩ đem
mẹ lên núi cầu xin quy y, Ðại Sư còn bền giữ chí ẩn tu
không chịu chấp nhận, bảo sang quy y với Ðế Nhàn Pháp Sư ở
chùa Quán Tông tại Ninh Ba. Ðến năm Dân Quốc thứ tám, cư
sĩ Châu Mạnh Do đem quyến thuộc lên núi, ba bốn phen đảnh
lễ cầu khẩn, xin thâu làm đệ tử tại gia. Ðại Sư quán xét
cơ duyên, lý khó khước từ, bất đắc dĩ phải chấp thuận.
Tính đến năm ấy, ngài được năm mươi chín tuổi, mới thâu đệ
tử quy y lần đầu. Từ đó, hàng thiện tín kẻ viết thư cầu
làm đệ tử, người lên non xin được quy y, tất cả đều y giáo
phụng hành, ăn chay niệm Phật. Trong một đời giáo hóa, đệ
tử tại gia của Ðại Sư, từ hạng quyền quý giàu sang, danh
nhơn học sĩ đến kẻ thôn dã thường dân, số lên đến gần ba
trăm ngàn người. Có nhiều vị niệm Phật tu hành được sanh
về cõi Cực lac.
Ðại Sư trì giới tinh
nghiêm, giữ mình rất kiệm ước. Ðồ phục dụng tốt đẹp, cùng
thức ăn uống ngon quí người đem đến dâng, nếu không từ
khước được cũng chuyển tặng cho những vị xuất gia khác.
Còn phẩm vật thông thường thì đều chuyển giao cho nhà kho
của chùa để đại chúng cùng thọ hưởng. Bao nhiêu số tiền
của dân tín cùng dường riêng cho mình, ngài đều đem in
kinh sách, hoặc cứu tế các nạn tai, hay giúp vào những cơ
quan từ thiện. Riêng mình chỉ giữ phần cơm thô, áo vải đến
trọn đời. Ðại Sư tánh không thích phô trương, có vài Phật
tử mến khi ngài còn bé qua giai đoạn xuất gia và ra đời
hoằng hóa, viết thành tuyệt ký, rồi gởi đến xin hiệu chính
để ấn tống lưu truyền rộng ra. Ngài đều khước từ, gởi
nguyên bản trả lại, khuyên xin vì mình mà dẹp bỏ đi. Hai
vị hiển quan: Ðào Tại Ðông và Hoàng Hàm Chi có viết thư
đem đạo hạnh của Ðại Sư trình lên Tổng Thống Trung Hoa Dân
Quốc. Ngài được Từ Tổng Thống phong tặng tấm biển đề "Ngộ
Triệt Viên Minh", sai đoàn đại biểu đem đến tận chùa Phổ
Ðà, cùng hiến dâng nhiều hương hoa phẩm vật. Hàng đạo tục
nghe thấy đều ngợi khen, song riêng ngài vẫn thản nhiên
dường không hay biết. Ðại Sư có ba điểm đặc biệt khác hơn
những vị xuất gia đương thời. Một là không lãnh làmtrụ trì
tự viện lớn, vì cho mình kém đức, e chướng ngại đến sự
thanh tu. Hai là không thâu đệ tử xuất gia, vì xét thấy
vào thời mạt pháp đã sâu, người xứng đáng với bổn phận
xuất gia rất ít, nên không muốn gây nhiều hệ lụy. Ba là
không quyên mộ khuyến hóa, bởi thẹn thấy nhiều kẻ vì lợi
danh mà làm mất sự thanh khiết của nhà tu.
Về duyên hoằng hóa, Ðại
Sư quán xét vào thời mạt vận đạo đức lần suy, nhơn căn hầu
hết đều kém yếu; phần đông chỉ ở trình độ giữ Tam Quy Ngũ
Giới, niệm Phật ăn chay mà thôi. Như thế cũng gọi là đã có
nhiều căn lành rồi. Còn hạng siêu xuất thì thật ra tuyệt
ít. Vì thế, đại khái ngài chỉ khuyên giữ trọn luân thường,
tin chắc nhân quả, lánh dữ làm lành, tín nguyện niệm Phật,
cầu sanh Tây Phương. Người đáng chiết phục, dù bậc Thiền
túc cự Nho, đạt quan danh sĩ, cũng thẳng thắn chỉ trích;
kẻ đáng nhiếp thọ, tuy hạng sơ học hậu sanh, nông công nô
bộc, cũng từ ái dạy khuyên. Cách giáo hóa của ngài, chỉ
đem những sự lý thiết thật bình thường để khuyến ích. Tuy
chính mình hiểu sâu Tông, Giáo, song không chuộng huyễn
luận cao đàm. Ðại Sư thường tán trợ vào các hội Niệm Phật
phóng sanh, khuyên giúp vào các viện từ ấu, dưỡng lão.
Ngài cũng sáng lập ra Hoằng Hóa Xã, giao cho người coi sóc,
mình lãnh phần chỉ đạo, để ấn tống hoặc phát hành kinh
sách và tượng Phật. Trong hơn hai mươi năm, nơi đây đã lưu
hành trên một triệu bức tượng Phật, Bồ Tát và hơn năm
triệu bộ kinh sách thích ứng với thời cơ.
Về công trình hộ pháp,
lúc Âu chiến lần thứ nhứt, chính quyền có nghị định cho
dời những kiều dân người Ðức vào ở các chùa. Ðại Sư cố
gắng vận động với các bậc quyền thế khiến cho bỏ qua việc
đó. Từ năm Dân Quốc thứ hai đến năm Dân Quốc thứ hai mươi
lăm, đã nhiều phen chính phủ theo lời đề nghị của những
nhà đương quyền có óc duy vật, lần lượt đăng báo muốn sung
tài sản chùa chiền vào công quỹ, chiếm các tự viện
làmtrường học. Ðại Sư hợp sức cùng chư tăng sĩ và các cư
sĩ hộ pháp lập cách giải cứu, khiến cho đều được nạn khỏi
tai qua. Ngoài ra, các tiểu tiết khác, ngài chỉ tùy thời
dùng đôi lời nói, hoặc một phong thơ; đều tiêu trừ kiếp
nạn.
Về phần linh cảm, năm
Ðại Sư bảy mươi tuổi được Tăng chúng thỉnh về chùa Báo
Quốc. Vào cuối mùa Hạ, nơi đây sanh ra loài rệp rất nhiều.
Từ gối chăn màn nệm, đến cửa sổ, án kinh, đâu đâu cũng
thấy chúng bò lai vãng. Hàng đệ tử thương ngài tuổi già sợ
không kham chịu sự quấy nhiễu, xin vào để tìm cách thâu
nhập. Ðại Sư không chấp nhận, chỉ yên tâm niệm Phật cầu
nguyện cho chúng đi, không bao lâu, loài rệp đều tuyệt
tích. Ngoài thời niệm Phật, ngài thường tụng chú Ðại Bi
gia trì vào tàn hương, gạo, hoặc nước, để cứu những bịnh
nặng mà các y sĩ đều bó tay. Mỗi lần như thế đều được ứng
nghiệm kỳ lạ. Một hôm, nơi lầu Tàng Kinh chùa Báo Quốc
phát hiện vô số mối trắng. Ngài hay được liền trì chú Ðại
Bi trong nước, bảo đem đến vẩy rưới vào chúng. Loài mối
đều kéo nhau bỏ đi nơi khác. Cư sĩ Cao Hạc Niên có lời tự
thuật: Sở dĩ ông biết Ấn Quang Ðại Sư là bậc cao tăng, bởi
ngài nói những lời rất thông thường, nhưng càng nói những
lời rất thông thường, nhưng càng suy gẫm càng thấy đúng
với hiện cảnh và sau đều có ứng nghiệm”. Kỳ lên núi Phổ Ðà
lần thứ nhứt, lúc nhà Thanh hãy còn, nhân ở ngụ tại chùa
lâu ngày, cư sĩ có hỏi Ðại Sư về cuộc diện mai sau. Ngài
ứng khẩu đáp bằng một bài thi:
Tuần hoàn kiếp số rất bi thương!
Thoát khổ đâu hơn Cực Lạc bang?
Gắng niệm Di Ðà về bản cảnh
Ðừng mê trần lụy lạc tha hương
Bụi hồng nghiệp trước đời hư mộng
Lửa đỏ ngày sau nước họa ương
Khuyên sớm xa nơi nhiều kiếp nạn
Cùng nhau dạo bước đến Liên phương.
Trong bài thi, ngài ám
chỉ nạn binh hỏa về sau, và khuyên người niệm Phật vậy.
Năm Dân Quốc thứ mười
bảy, Ðại Sư thành lập Tịnh Ðộ đạo tràng tại chùa Linh Nham,
soạn ra chương trình quy củ giao cho Chân Ðạt Hòa thượng
nhiếp chúng trụ trì. Từ đó ngài về ở tịnh thất tại Tô Châu.
Sau thời niệm Phật, Ðại Sư họp cùng cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh, tu
chỉnh bốn quyển Danh Sơn Chí, nói về linh tích các núi:
Phổ Ðà, Thanh Lương, Nga Mi, Cửu Hoa. Năm bảy mươi bảy
tuổi vì chiến cuộc bức bách, ngài từ Tô Châu dời về Linh
Nham, an cư niệm Phật ba năm.
Năm Dân Quốc thứ hai
mươi chín, ngày 24 tháng 10, Ðại Sư dự biết kỳ vãng sanh,
cho triệu tập chư Tăng và cư sĩ về chùa Linh Nham. Trong
buổi hội đàm, ngài suy cử Diệu Chơn Hòa Thượng kế nhiệm
trụ trì, dặn dò các việc mai sau, và bảo: "Pháp môn Niệm
Phật không có chi đặc biệt lạ kỳ. Chỉ cần khẩn thiết chí
thành thì không ai chẳng được Phật tiếp dẫn". Qua ngày
mùng 4 tháng 11, Ðại Sư cảm bịnh nhẹ, song vẫn tinh tấn
niệm Phật. Niệm xong, bảo đem nước rửa tay, rồi đứng lên
nói: "Phật A Di Ðà đã đến tiếp dẫn, tôi sắp đi đây. Ðại
chúng phải tin nguyện niệm Phật cầu về Tây phương!". Nói
đoạn, bước lại ghế ngồi kiết già, chắp tay trì danh theo
tiếng trợ niệm của đại chúng rồi an lành viên tịch. Lúc ấy,
Ðại Sư tăng lạp được sáu mươi, thế thọ tám mươi tuổi.
Rằm tháng Hai năm sau,
nhằm thánh tiết Phật nhập Niết Bàn, cũng vừa đúng kỳ Ðại
Sư vãng sanh được một trăm ngày. Hàng đạo tục các nơi hội
về Linh Nham trên hai ngàn người, sắp đặt lễ trà tỳ. Lúc
ấy bầu trời hốt nhiên sáng tạnh trong trẻo. Khi Chân Ðạt
Hòa Thượng cầm đuốc cử hỏa, khói bay lên trắng như tuyết,
hiện ra ánh sáng năm sắc. Hôm sau Diệu Chơn Hòa Thượng
cùng đại chúng đến nơi khám nghiệm, thấy xá lợi hiện ra
nhiều hình dáng, đủ các màu, có thứ gồm ngũ sắc. Tất cả
đều cứng như khoáng chất, gõ vào phát ra tiếng trong thanh.
Ðại chúng lựa chia thành sáu phần:
1. Nha xỉ xá lợi: gồm ba
mươi hai cái răng.
2. Ngũ sắc xá lợi châu:
nhiều hạt tròn sáng.
3. Ngũ sắc tiểu xá lợi
hoa: hình như các đóa hoa nhỏ.
4. Ngũ sắc đại xá lợi
hoa: hình như những đóa hoa lớn.
5. Ngũ sắc huyết xá lợi:
do huyết nhục hóa thành.
6. Ngũ sắc xá lợi khối:
gồm những khối có nhiều hình dáng, màu sắc.
Tất cả đều để vào lồng
kiếng, trân tàng tại bản sơn.
Kế tiếp hàng Tăng Ni và
đệ tử lễ bái thỉnh cầu, vị nào có thành tâm khi bới tro
tìm kiếm đều được xá lợi. Như Quảng Hiệp Pháp Sư ở Tân Gia
Ba, Pháp Ðộ Thượng Nhơn ở Ngũ Ðài, cư sĩ Ngô Quốc Anh ở
Phi Luật Tân, cư sĩ Nhạc Huệ Võ ở Thượng Hải, mỗi vị đều
được xá lợi màu xanh, màu vàng, huyết sắc hoặc ngũ sắc.
Ðại Sư lúc bình thời, ngôn hạnh chân thật, không biểu thị
điều chi kỳ lạ nên chẳng thể biết ngài chứng đắc đến đâu.
Song hàng Tăng tục xét qua đạo hạnh, sự hoằng hóa thuở còn
sanh tiền, đến việc quy Tây và lưu xá lợi khi viên tịch,
đều nhận định ngài là bậc thánh nhơn tái lai để tùy cơ độ
sanh và hộ trì chánh pháp. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm một
năm viên tịch, các liên hữu Tăng tục đồng suy tôn Ðại Sư
làm vị Tổ thứ mười ba của Liên tông.
Lời phụ:
Tịnh Ðộ không có sự
truyền thừa như chư Tổ bên Thiền tông. Sở dĩ có chư Tổ
Tịnh Ðộ là do các vị Tăng, tục tu môn niệm Phật đời sau,
hợp lại chọn những bậc siêu xuất mà suy tôn. Sự siêu xuất
ấy biểu lộ trên ba quan điểm:
1. Về phần kiến thức,
phải là bậc hiểu sâu cả Tông lẫn Giáo, ngộ đến thượng thừa.
2. Về phần đạo hạnh,
phải giới phẩm tinh nghiêm, tu hành tinh tấn. Khi lâm
chung có triệu chứng vãng sanh.
3. Về phần hoằng hóa,
phải có công tuyên dương Tịnh Ðộ, hộ trì chánh pháp,
khuyến đạo ngàn muôn người niệm Phật.
Trong Tịnh Ðộ Thánh Hiền
Lục chỉ ghi có mười một vị Tổ tông Tịnh Ðộ. Về sau nơi đạo
tràng Linh Nham, ngài Ấn Quang họp các liên hữu tăng tục,
suy tôn Hành Sách Ðại Sư làm vị Tổ thứ mười, đưa Thật Hiền
Ðại Sư lên hàng thứ mười một và Tế Tỉnh Ðại Sư lên hàng
thứ mười hai. Sau khi Ấn Quang Ðại Sư vãng sanh, chư liên
hữu xét thấy ngài có công lớn với Tịnh Ðộ, mới họp lại
đồng suy tôn lên làm vị Tổ thứ mười ba.
Thiền tông tuy có y bát
truyền thừa, nhưng mục đích dùng để hiểu tín với quần
chúng. Sau đời Lục Tổ, chỉ truyền pháp không còn truyền y
bát, vì lúc ấy Thiền hóa đã thạnh hành. Bên Tịnh Ðộ, chư
Ðại Sư cũng thuần vì bi trí lợi sanh, không tự gọi mình là
Tổ. Chỉ sau khi các ngài viên tịch, người đời sau mới suy
tôn lên. Nhưng thật ra, xét kỳ qua mọi phương diện, các vị
đều là bậc thánh nhơn ứng hóa, xứng đáng được tôn là Tổ.
Những bậc cao tăng thông thường không thể làm được như vậy.
Trong mười ba vị Tổ của
Tịnh Ðộ, đã có bảy ngài nguyên là Thiền sư được chánh
truyền. Các vị ấy là: Thừa Viễn, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu
Ích, Hành Sách, Tỉnh Am và Triệt Ngộ. Tại sao các ngài đã
ngộ Thiền mà không hoằng Thiền, trở lại hoằng Tịnh? Trong
đây có ba nguyên yếu:
1. Về pháp môn: Trực Chỉ
Thiền chỉ có lợi cho bậc thượng thượng căn, hàng trung, hạ
khó bề thể nhập (“Phi thượng thượng căn, thận vật khinh
hứa” - Tổ ngữ). Còn môn Tịnh Ðộ thì lợi khắp cả ba căn.
Hàng thượng thượng căn tu Tịnh Ðộ có thể hiện đời ngộ được
bản tâm, chứng Niệm Phật tam muội, khi mạng chung sanh về
Thượng phẩm. Dù kẻ tối hạ căn nếu chuyên niệm Phật cũng
được đới nghiệp vãng sanh, lên ngôi Bất Thối. Khi đã vãng
sanh, kề cận Di Ðà, gần gũi thánh chúng, thọ mạng vô biên
kiếp, lo gì không ngộ chân tâm, chứng thánh quả! Vì sự lợi
ích rộng rãi chắc chắn như thế, các ngài mới khuyên tu
Tịnh Ðộ!
2. Về thời tiết: Trong
thời Chánh Pháp, có thật hành phần nhiều đều chứng quả,
hoặc đi sâu vào thiền định để làm cơ bản cho những kiếp tu
sau. Qua thời Tượng Pháp, sự ngộ đạo còn có ít người huống
chi là chứng! Ðến thời Mạt Pháp, như kinh Ðại Tập nói: "Ức
ức người tu hành, song khó tìm một người ngộ đạo". Dù được
ngộ đạo, nhưng chưa phải chứng, phiền não nghiệp tập hãy
còn, khi luân hồi bị phước báo làm mê, mười người đã thối
chuyển hết chín. Do đó, từ cuối thời Tượng bước sang Mạt
Pháp, chư đại thiện tri thức lần lần chuyển hướng dạy
người tu Tịnh Ðộ. Vì bấy giờ thiền hóa còn thạnh hành, các
ngài thị hiện phương tiện, trước triệt ngộ Thiền cơ, sau
hoằng dương Tịnh Ðộ, mới được người đương thời tín nhiệm
tuân hành.
3. Về cơ duyên: Từ đầu
Mạt Pháp trở về sau, căn cơ của quần chúng hầu hết là hạng
trung, hạ. Muốn thật hiện mục đích lợi sanh trong thời đại
này, chư Bồ Tát phải tùy cơ duyên mà chủ trương Tịnh Ðộ.
Các tông khác tuy cũng rất cần chấn hưng, nhưng chỉ thuộc
phần thứ yếu, bởi sự lợi ích không được phổ cập. Từ trước
chư tôn túc trong các tông khác xét biết điều này, nên tuy
vẫn hoằng dương bổn môn mà phần nhiều đều quy hướng Tịnh
Ðộ. Như Chân Yết Liễu thiền sư nói: "Những vị dưới tông
Tào Ðộng đều mật tu Tịnh Ðộ, bởi Tịnh Ðộ thấy Phật còn dễ
hơn Thiền tông" (Ðộng hạ nhất tông giai cụ mật tu, dĩ Tịnh
Ðộ kiến Phật vưu giản vị ư Tông môn).
Về như thời cận đại, Ðế
Nhàn Pháp Sư tuy truyền bá tông Thiên Thai, song vẫn niệm
Phật. Khi sắp viên tịch, ngài đọc lời kệ khuyến tấn đại
chúng:
Tôi nhờ niệm Phật.
Tịnh Ðộ hiện tiền.
Thọ dụng chân thật.
Chúng gắng tinh chuyên!
Ấn Quang Pháp Sư trong
bức thư gởi cho Thể An Hòa thượng có nói: "Trong mấy mươi
năm lịch duyệt Bắc, Nam, đi về hàng muôn dặm, tôi kinh
nghiệm thấy những vị thông minh hiểu suốt Tông giáo, khinh
thường Tịnh Ðộ, khi lâm chung phần nhiều mê loạn, đôi khi
có trạng thái kêu la. Còn những người chân thật niệm Phật,
dù tín nguyện chưa chí thiết, không có thoại ứng lúc lâm
chung, nhưng họ chết đều yên ổn cả".
Cho nên, từ lúc sanh
tiền đến khi quá vãng, môn Niệm Phật đích thật là con
thuyền cứu khổ nhơn sanh trong thời buổi này vậy.
Trích Mấy Ðiệu Sen Thanh
Quyển 1 - Hòa Thượng Thích Thiền Tâm |