HT Tịnh Không:

 

Làm sao mới được vãng sanh? 

Nhất định phải có tâm giống với tâm của đức Phật A Di Ðà, có nguyện giống với nguyện của đức Phật A Di Ðà, [kiến] giải giống với đức Phật A Di Ðà, hạnh giống với đức Phật A Di Ðà.  Nếu chúng ta có thể làm được tâm, nguyện, giải, hạnh đều giống với đức Phật A Di Ðà thì chúng ta nhất quyết sẽ được vãng sanh -- tự tự nhiên nhiên cảm ứng đạo giao.

Ngẫu Ích đại sư dạy rất hay: ‘Thiệt có tín, có nguyện thì có thể vãng sanh, phẩm vị vãng sanh cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn.’ 

Tín Nguyện vô cùng quan trọng!  Ðừng tưởng là đã tin tưởng, đã phát nguyện rồi, và mỗi ngày ta đều khuyên người niệm Phật là đủ rồi, không hẳn vậy đâu!  Qúi vị hãy coi thử mình còn tham, sân, si, mạn, đố kỵ, chướng ngại không, nếu vẫn còn, vả lại thường thường nổi lên tức là qúi vị chẳng có tín, chẳng có nguyện.  Người có tín, có nguyện nhất định chẳng có phiền não, chướng ngại; tâm của người có tín, có nguyện giống hệt tâm Phật, giống hệt tâm Bồ Tát thì làm sao có nhiều phiền não, có nhiều chướng ngại như vậy được!

Nghiệp chướng là gì?  Nghiệp chướng tức là ‘vọng tưởng, phân biệt, chấp trước’. 

Bất luận đối với người, với sự, với vật, qúi vị còn những tâm niệm này nổi lên tức là nghiệp chướng.  Không những nghiệp chướng này tạo chướng ngại cho việc vãng sanh của qúi vị, khi qúi vị nghiên cứu kinh giáo thì cũng gây chướng ngại cho việc tăng trưởng trí huệ.  Qúi bạn đồng tu niệm Phật thường hay nói câu này: ‘Chúng ta phải tiêu nghiệp chướng’, nhưng làm thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng?  Có phải lạy Lương Hoàng Sám thì sẽ tiêu nghiệp chướng hay chăng?  Qúi vị lạy luôn cả bảy ngày thử coi qúi vị còn tham, sân, si hay không?  Nếu gặp việc không vừa ý liền nổi giận, đó là nghiệp chướng hiện ra, nghiệp chướng chưa tiêu gì hết!  Giả sử lạy xong bảy ngày Lương Hoàng Sám mà khi gặp chuyện chẳng vừa ý qúi vị vĩnh viễn chẳng nổi giận thì qúi vị đã tiêu hết nghiệp chướng.  Từ điểm này có thể biết trên môi nói tiêu nghiệp chướng là một việc khác, thực sự thì nghiệp chướng chẳng có tiêu gì cả, không những chẳng tiêu mà mỗi ngày còn tăng thêm.  Như vậy thì làm sao được!  Ðây là việc chúng ta phải đặc biệt cảnh giác, phải nghĩ đến sanh tử luân hồi rất đáng sợ!

Trong lục đạo luân hồi có được thân người thiệt chẳng phải là một chuyện dễ dàng.  Chúng ta hôm nay được thân người là do thiện căn tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp trước!  Ngày nay mình đã gặp nhân duyên này nhưng được thân người xong lại mất thân người, mất thân người rồi mà muốn kiếm trở lại chẳng phải là dễ, hết sức khó khăn!  Trong kinh điển đức Phật dùng rất nhiều tỷ dụ, Phật chẳng nói dối, chẳng nói lời không thật, chẳng gạt người, câu nào cũng đều chơn thật, vì vậy chúng ta phải có tâm cảnh giác cao độ, phải hiểu rõ sự thật này, hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh.

Trong lịch sử Trung Quốc mọi người đều biết vua Thuấn.  Vua Thuấn là vị đầu tiên trong ‘Nhị Thập Tứ Hiếu’, ngài là vị dẫn đầu của đạo hiếu.  Ngài làm như thế nào?  Mẹ của ngài mất sớm, cha cưới kế mẫu.  Kế mẫu sanh một đứa con, đương nhiên thương con mình và đối xử với ngài rất bạc bẽo, người cha lại nghe lời của kế mẫu.  Trong đời sống hằng ngày hầu như việc gì cũng làm cho cha phiền lòng, ngài chẳng nghĩ rằng cha mẹ không đúng, hoàn toàn quay ngược lại, nghĩ về mình, tự hỏi mình đã làm gì sai chăng?  Hoàn toàn phản tỉnh nội tâm.  Cứ như vậy trải qua mấy năm, cha mẹ rốt cuộc cũng bị ngài cảm hóa.  Ðây là đại hiếu!  Chân chánh làm được lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh, chẳng nhìn lỗi người khác’.

       Dưới cái nhìn của vua Thuấn, người khác chẳng có lỗi lầm gì hết, lỗi lầm đều là của cá nhân mình.  Tại sao mọi người đều đối xử không tốt với mình?  Chẳng trách người khác, chỉ trách mình; tự mình phản tỉnh, thực sự sám hối, sửa lỗi lầm, như thế mới cảm động cha mẹ.  Sau này vua Nghiêu biết được, vua Nghiêu biết được người này rất phi thường, trong nhà có thể làm cho cả nhà hòa hợp, sau này có thể ảnh hưởng đến làng xóm, làm cho người trong cả xóm, cả địa phương hòa hợp.  Nếu người này làm quốc vương thì nhất định có thể cai trị dân chúng cả nước, thế nên vua Nghiêu nhường ngôi cho ngài, còn gả hai người con gái của mình cho ngài.  Ðây là thánh nhân thế gian, là tấm gương tốt cho chúng ta.

Thế nên người tu đạo chân chánh thì đừng nhìn lỗi lầm của người khác, hết thảy lỗi lầm đều là của mình. Tại sao người ta lại trừng mắt nhìn chúng ta?  Tại sao họ mắng chửi mình mà không chửi người khác?  Tự chúng ta suy nghĩ xem mình đã có lỗi với họ ở chỗ nào?  Chúng ta làm sai chỗ nào?  Việc gì làm cho người ta sanh phiền não?  Thế nên tu hành chẳng có gì khác ngoài việc có thể quay đầu, phản tỉnh, sửa lỗi lầm, đây gọi là sám hối thực sự, được vậy mới có thể tiêu nghiệp chướng.  Nếu nói chỗ nào cũng nhìn thấy lỗi lầm của người khác, mình chẳng có lỗi, người này chắc chắn là chúng sanh trong ba đường ác.  Phu Tử nói: ‘Người ngu như vậy, chẳng cần trách họ!’ chẳng cần nói nữa, người này sẽ đi vào tam đồ lục đạo mà.

Chúng ta nhất định phải thâm nhập kinh giáo, vĩnh viễn chẳng bao giờ tạm dừng, được vậy mới có thể nâng cao cảnh giới của mình.  Các ngôi vị Bồ Tát mới có thể nâng cao, Thập Trụ thăng lên Thập Hạnh, rồi thăng lên Thập Hồi Hướng, lên Thập Ðịa.  Chúng ta niệm Phật cũng chẳng ngoại lệ, chúng ta có thể từ Phàm Thánh Ðồng Cư độ thăng lên Phương Tiện Hữu Dư độ, lại thăng lên Thật Báo Trang Nghiêm độ, đây mới là người thông minh chân chánh.  Không ngừng nâng cao cảnh giới của mình, đời này chúng ta chẳng luống uổng.

Tuy mọi người chưa đọc kinh Hoa Nghiêm nhưng đã nghe đến năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử, đó là dạy chúng ta làm thế nào để tu Ðại thừa Bồ Tát đạo.  Trong pháp Bồ Tát chỉ có một mình – tự mình tôi là phàm phu, là học sinh, trừ tôi ra hết thảy đều là chư Phật, chư Bồ Tát; thế nên Thiện Tài thành Phật ngay trong một đời.  Ngày nay chúng ta học Phật -- chỉ có mình đúng, mọi người đều sai hết.  Có tâm niệm này, thái độ này thì bạn làm sao thành tựu?  Mỗi ngày tăng trưởng ngã chấp, ngã mạn.  Chuyện này không thể được, là tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, chẳng phải tiêu nghiệp chướng mà mỗi ngày càng tăng thêm nghiệp chướng.

 Phật, Bồ Tát là gương mẫu, mô phạm cho chúng ta, chúng ta phải học theo các Ngài.  Khi chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, khi tâm niệm vừa khởi trong tâm liền nghĩ: ‘Tôi làm như vậy có thể làm gương mẫu cho mọi người chăng?’  Nếu bạn có thể hạ thủ từ chỗ này thì sự tu hành của bạn sẽ có tiến bộ.  [Lấy thí dụ] Chúng ta đi trên đường muốn khạc nhổ lập tức liền nghĩ nếu tôi nhổ bừa bãi thì có thể làm gương mẫu cho xã hội đại chúng hay không?  Tâm niệm này vừa khởi lên thì bạn tự nhiên sẽ chẳng dám khạc nữa.  Hiện nay những thứ giấy bao bọc bánh kẹo rất đẹp, ăn rồi chúng ta có thể tùy tiện liệng những miếng giấy này không?  Bạn có nghĩ đến lời đức Phật dạy chúng ta không?  ‘Diễn thuyết cho người khác’, diễn là biểu diễn, làm gương cho người ta xem, tôi làm như vậy có giống Phật, Bồ Tát không?  Giống đệ tử của Phật, Bồ Tát chăng?  Tùy tiện liệng bậy những thứ này thì tôi đã có lỗi đối với Phật, Bồ Tát.  Hôm nay các bạn mặc áo thun, trên đó có ghi dòng chữ: ‘Ðệ tử Di Ðà’, những hành vi của bạn có xứng đáng với Phật A Di Ðà chăng?  A Di Ðà Phật dạy bạn làm như vậy sao?  Nghĩ vậy nên chúng ta tự nhiên sẽ thâu liễm, sẽ không dám phạm lỗi lầm.

 

Nếu bạn làm được lâu dài, công phu sâu dày rồi, bạn sẽ có thể cảm hóa xã hội; những người được bạn cảm động nhất định sẽ thỉnh giáo bạn, đây là cơ duyên chín muồi.  Bạn phải giải thích tường tận cho họ, khuyến khích họ học Phật, nói với họ sự lợi ích của việc học Phật: tâm người học Phật thanh tịnh, thanh tịnh tức là tâm chẳng bị ô nhiễm; tâm địa bình đẳng chẳng có cao thấp, có cao thấp thì chẳng bình đẳng, không bình đẳng thì đương nhiên chẳng thanh tịnh.  Ðại trí đại giác là từ thanh tịnh, bình đẳng sanh ra.  Nếu tâm bạn chẳng thanh tịnh, chẳng bình đẳng thì sẽ sanh phiền não, chẳng sanh trí huệ, thì sẽ mê hoặc điên đảo, vậy thì làm sao được!

Thời gian người ta sống trên đời này hết sức ngắn ngủi, làm đệ tử Như Lai đặc biệt là làm đệ tử Di Ðà là hết sức hy hữu, đây là cơ hội hiếm hoi, khó gặp nhất!  Ðệ tử Di Ðà được hết thảy mười phương thế giới chư Phật Như Lai đều tán thán và tôn trọng.  Lúc chúng ta muốn đi tham phỏng đạo tràng của chư Phật ở mười phương  thế giới, chư Phật thấy chúng ta là đệ tử Di Ðà đều sẽ đặc biệt tiếp đón.  Nhưng nếu hành động, khởi tâm động niệm của chúng ta chẳng làm rạng danh đức Phật A Di Ðà, ngược lại ngày ngày đều bôi nhọ Ngài, như vậy thì không được đâu!  Làm những việc trái ngược lương tâm, luôn làm việc tham, sân, si, mạn mà còn treo chiêu bài ‘Ðệ tử Di Ðà’, chẳng phải chúng ta đã làm mất mặt A Di Ðà Phật rồi hay sao?  Việc này làm sao được?  Hy vọng chư vị đồng tu thường phản tỉnh.

 

2. Tịnh nghiệp chánh nhân của ba đời chư Phật.

ba đời chư Phật là Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật tương lai; những người tu hành thành Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai chẳng biết bao nhiêu mà tính!  Dĩ nhiên họ tu hành thành Phật chẳng phải chỉ dùng một phương pháp duy nhất vì có vô lượng pháp môn.  Trong kinh Ðại thừa thường nói: ‘Pháp môn bình đẳng, chẳng có cao thấp’, pháp môn nào cũng có thể thành Phật, nhưng dựa trên căn tánh của chúng sanh mà nói thì sẽ khác nhau – có người lợi căn, có người độn căn.  Có pháp môn khế cơ, có pháp môn chẳng khế cơ; khế cơ thì thích hợp cho chúng ta tu học, chẳng khế cơ nghĩa là đối với đời sống hiện tại có nhiều chỗ chẳng thuận tiện.  Khế cơ thì chúng ta tu học rất thuận lợi, rất dễ dàng, nếu chẳng khế cơ thì chúng ta cảm thấy rất khó khăn, hễ cảm thấy khó khăn thì chúng ta nên bỏ và lựa chọn pháp môn nào thích hợp với mình.  Việc này cũng giống như lựa chọn khoa hệ trong trường học, khoa hệ nào mà chúng ta rất thích và cũng có năng lực học theo thì dễ rồi.  Nếu lựa chọn một khoa hệ chẳng hợp với ý thích của mình thì học theo sẽ rất khó khăn.  Cho nên vô lượng pháp môn của Phật pháp giống như khoa hệ trong trường học, đều để cho mình tùy ý lựa chọn.  Ðiều kiện của sự lựa chọn là phải thích hợp với trình độ của mình, ý thích của mình, đời sống của mình, chẳng gây trở ngại cho đời sống và công ăn việc làm của mình, không những chẳng trở ngại mà còn trợ giúp thêm thì tu học theo sẽ rất dễ dàng.  Ðây là những điều kiện chúng ta cần biết rõ khi lựa chọn pháp môn.

Ðức Phật dạy ba điều trong Tam phước là tịnh nghiệp chánh nhân của hết thảy chư Phật, nói một cách khác bất luận bạn tu học theo khoa hệ nào thì ba điều này là lớp chính mình phải học; trong vô lượng pháp môn ba điều này là khóa học mọi người nhất định phải tu học, hết sức quan trọng.  Giống như xây một căn nhà, chẳng kể bạn xây theo kiểu nào thì đây là nền móng, nhất định phải xây nền móng vững chắc, ổn định trước thì căn nhà này mới được hoàn hảo, chúng ta phải đặc biệt coi trọng việc này.

 

b.     Phật pháp là hiếu đạo và sư đạo

Ðiều thứ nhất: ‘Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại sanh vật, tu thập thiện nghiệp’.  Chúng ta nhất định phải làm cho được điều này, nếu chúng ta thực sự làm được thì chúng ta học Phật, nền móng để thành Phật đã được xây dựng.  Giả sử bạn chẳng làm được thì Phật pháp mà bạn nghiên cứu sẽ trở thành những gì người thế gian nói: Phật học – học Phật như nghiên cứu một môn học, việc này đối với đời sống, tu trì, thậm chí liễu sanh tử, vượt thoát tam giới chẳng có liên quan chi hết!  Vì vậy phải hết lòng làm cho bằng được.  Phật pháp là hiếu đạo, trong Giới kinh của Ðại thừa giảng rất rõ, từ hiếu thuận cha mẹ mở rộng đến hiếu thuận sư trưởng, hiếu thuận hết thảy chúng sanh, phải có tâm lượng như vậy.  Thế nên chữ hiếu này có thể nói đã bao gồm hết thảy toàn bộ Phật pháp.  Hiếu dưõng cha mẹ, ‘hiếu’ là giác ngộ, tức là tự tánh giác, giác ngộ xong rồi biểu hiện trong hành vi sanh hoạt tức là ‘dưỡng’.

Cho nên phải hiểu chữ hiếu này tức là Phật pháp, đặc biệt là trong kinh điển Ðại thừa gọi là ‘chân như pháp tánh’, tận hư không, khắp pháp giới, phù hiệu này được dùng để tượng trưng cho cả cái chỉnh thể này.  Nếu chúng ta có sự nhận thức như vậy thì mới thực sự thể hội được chữ hiếu.

Sau đó làm thế nào để thực hiện chữ ‘hiếu’ trong đời sống sinh hoạt của mình, trên phương diện làm người, xử sự, đó tức là ‘dưỡng’;  dưỡng là phụng dưỡng, từ nghĩa hẹp mà nói tức là dưỡng thân của cha mẹ.  Cha mẹ sanh chúng ta, ân đức dưỡng dục này rất lớn; khi cha mẹ lớn tuổi và về hưu, chúng ta có nghĩa vụ săn sóc cho họ cũng giống như lúc mình còn nhỏ cha mẹ lo lắng, chăm sóc cho mình, chúng ta phải báo đáp, báo đền, đây là một chuyện hết sức tự nhiên.  Ðây là dưỡng thân thể của cha mẹ, [làm được việc này] có kể là đã làm tròn đạo hiếu chưa?  Chưa tròn.  Quý vị phải biết trong loài cầm thú con quạ cũng biết dưỡng thân của cha mẹ; quạ con biết đút đồ ăn cho quạ già, nó cũng biết nuôi dưỡng cha mẹ vậy!  Nếu người chẳng biết nuôi cha mẹ mình thì cả cầm thú cũng chẳng bằng!  Thế nên dưỡng thân của cha mẹ cũng chưa làm tròn đạo hiếu.  Cha mẹ hy vọng con cái như thế nào?  Chúng ta có làm thỏa mãn nguyện vọng của cha mẹ chăng, việc này rất quan trọng!

Thời xưa có sự dạy dỗ của cổ thánh tiên hiền, cha mẹ không kỳ vọng con cái thăng quan phát tài, chẳng giống với quan niệm của người thời nay, đều hy vọng con cái có thể làm thánh làm hiền, có đạo đức, có học vấn, có cống hiến đối với xã hội đại chúng.  Thế nên lập công, lập đức, lập ngôn là làm rạng danh cha mẹ, làm cho cha mẹ hãnh diện, mới được xã hội đại chúng tôn kính.   Chúng ta đã làm tròn được chưa?  Có phụ lòng cha mẹ kỳ vọng nơi mình hay không?

Sau khi học Phật thì kỳ vọng của cha mẹ sẽ khác lúc trước, làm thánh làm hiền vẫn chưa đủ, còn phải làm gì ? Làm Bồ Tát, làm Phật!  Nếu bạn làm Bồ Tát thì họ là cha mẹ của Bồ Tát; nếu bạn thành Phật thì họ làm cha mẹ của Phật; làm cha mẹ của thánh hiền và làm cha mẹ của Phật, Bồ Tát là hai chuyện khác nhau.  Nếu chúng ta làm Phật, Bồ Tát chẳng nổi thì chữ hiếu này chưa đạt đến viên mãn, vẫn còn khiếm khuyết, phải biết chuyện này.  Người như thế nào mới làm tròn chữ hiếu?  Thành Phật thì chữ hiếu viên mãn nhất.  Ðẳng Giác Bồ Tát còn thua một bậc, họ còn một phẩm Sanh Tướng vô minh chưa phá thì đạo hiếu của họ cũng chưa viên mãn; từ đây có thể biết Tam Phước là cơ sở chân thực.

Nếu bạn thực sự đã học Phật, khi bạn khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác liền lập tức phải nghĩ đến ‘hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’.  Thầy giáo và cha mẹ kỳ vọng chúng ta những gì?  Chúng ta đã làm được hay chưa?  Trong kinh thường nói: ‘Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt nhất cho hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới.’  Trong xã hội này chúng ta có thể làm gương mẫu, làm người dẫn đầu cho xã hội đại chúng hay không?  Tư tưởng, lời nói, hành động của chúng ta có ảnh hưởng gì đối với xã hội đại chúng?  Nếu là ảnh hưởng xấu thì tuyệt đối đừng làm.  Nếu chẳng thâm nhập kinh điển Ðại thừa thì bạn không biết ‘hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’ trong đời sống phải bằt đầu từ đâu.  Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn giản: trong nhà có nhiều anh chị em, làm con nếu anh em chẳng hòa hợp thì cha mẹ phải lo lắng, buồn rầu, như vậy tức là bất hiếu!  Con cái trưởng thành ai cũng thành gia lập nghiệp, cưới vợ sanh con, chị em dâu bất hòa, cha mẹ phải bận tâm, đó cũng là bất hiếu!  Lúc còn nhỏ đi học chẳng siêng năng làm cha mẹ phải bận tâm là bất hiếu!  Trong trường không nghe lời thầy, mỗi ngày đều đánh lộn, phá phách cũng là bất hiếu!

Thế nên chư vị nghĩ xem, chữ hiếu này bao trùm hết thảy Phật pháp, hết thảy pháp của Thế Tôn nói suốt bốn mươi chín năm chỉ là để giảng rõ chữ hiếu mà thôi.  Khi chúng ta khởi tâm động niệm, xử sự, đãi người, tiếp vật đều phải làm theo những lời đức Phật dạy trong kinh điển.  Phật dạy chúng ta làm thế nào, chúng ta nhất định phải làm cho bằng được; những gì Phật chẳng cho chúng ta làm thì chúng ta tuyệt đối không làm, được vậy thì bạn mới làm tròn đạo hiếu, mới kể là thực sự làm được ‘phụng sự sư trưởng’.  Sư trưởng chẳng dạy bạn mỗi ngày phải cung kính họ, cúng dường họ; chẳng phải vậy, bạn phải hết lòng làm theo lời dạy của sư trưởng.  Thế nên Phật pháp là hiếu đạo và sư đạo: thầy dạy bạn phải làm sao để tròn đạo hiếu, cha mẹ dạy bạn phụng trì thầy giáo như thế nào, sự giáo dục của hai bên hỗ trợ lẫn nhau thì bạn mới thành tựu, đây là cội gốc của căn bản.  Học Phật phải bắt đầu từ đâu?  Bắt đầu từ Tịnh nghiệp Tam phước.

Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện dạy rõ về hiếu đạo, trong nhà Phật kinh này thường được xưng là ‘Hiếu Kinh’.  Lúc mỗi đạo tràng mới thành lập, bộ kinh đầu tiên tôi giảng nhất định phải là kinh Ðịa Tạng.  Khi chúng ta có một miếng đất thì mới có thể phát triển, mới có thể làm việc.  Ðất đai có rồi nhưng quan trọng hơn vẫn là tâm địa, dùng lời nói hiện nay tức là xây dựng tâm lý, kinh Ðịa Tạng giúp chúng ta xây dựng tâm lý.  Từ mảnh đất này liên tưởng đến tâm địa của mình, tâm địa phải chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi.  Cả bộ kinh Ðịa Tạng thực ra là giảng bốn câu này: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại, tu thập thiện nghiệp’,  các bạn hãy coi kỹ.

Phật giáo Ðại thừa ở Trung Quốc rất có đạo lý, là trí huệ cao độ, dùng bốn đại Bồ Tát để tiêu biểu và tượng trưng cho sự tu học Phật pháp.  Vị thứ nhất là Ðịa Tạng Bồ Tát, thứ hai là Quán Thế Âm Bồ Tát; Quán Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho đạo hiếu mở rộng ra tức là đại từ đại bi, phát huy đạo hiếu đến có thể hiếu thuận hết thảy chúng sanh.  Nếu lúc chúng ta giao thiệp với người khác vẫn còn tự tư tự lợi, vẫn làm một số việc lợi mình, hại người, tức là chẳng hiếu, là chẳng kính trọng thầy giáo!  Như vậy thì chúng ta đâu có học Phật?  Người học Phật đối với ai cũng đều chân thành, người nào gạt gẫm mình, mình đối với họ vẫn phải chân thành, được vậy mới đáng gọi là người học Phật.

Ðiều thứ hai trong Tam Phước:

‘Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’.

Từ đây có thể biết điều kiện cơ bản của ‘Thọ trì Tam Quy’ tức là phước thứ nhất làm xong thì mới có tư cách tiếp nhận sự dạy dỗ của Phật.  Tại sao ngày nay Phật pháp suy thoái như vậy?  Là vì mọi người thọ trì Tam Quy nhưng điều thứ nhất [nói phía trước] chẳng làm được nên thọ Tam Quy đều là giả, chẳng phải thật – trên hình thức thọ Tam Quy, nhưng trên thực tế thì chẳng thọ.  Hỏi bạn thọ Tam Quy rồi, quy từ đâu?  Chẳng biết.  Hỏi bạn y những gì?  Cũng chẳng biết.  Thọ trì một cách hồ đồ như vậy là sai lầm!   Tôi đã giảng ‘Tam Quy’ kỹ càng ở Tân Gia Ba, hình như năm ngoái đã giảng thêm một lần ở tại bờ biển Hoàng kim, có lưu lại băng thâu âm, băng thâu hình.  Hai lần diễn giảng này đã được chép lại thành một cuốn sách nhỏ, đã in ở Ðài Loan, chư vị muốn thọ Tam Quy nhất định phải nghe kỹ hai lần giảng này; sau đó chúng ta ở trước mặt Phật, Bồ Tát làm nghi thức đơn giản nhưng long trọng, mời Tam Bảo chứng minh cho chúng ta; chúng ta thực sự phát nguyện quy y Tam Bảo.

 

c.      Tam Quy trong Tịnh Tông: A Di Ðà Phật, kinh Vô Lượng Thọ, Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí.

Quy y Tam Bảo nghĩa là từ hôm nay trở đi tôi phát nguyện chánh thức làm một học trò của đức Phật, tôn Phật làm thầy.  Bạn phát nguyện tôn Phật làm thầy, chúng sanh trong chín pháp giới kể cả những thiên thần nhìn thấy bạn đều tôn kính bạn.  Bạn là học trò của Phật, chẳng phải là người thường, đặc biệt nếu bạn là học trò của A Di Ðà Phật thì càng tôn quý hơn, hết thảy chư Phật Như Lai đều đặc biệt tiếp đãi bạn, là nể Phật A Di Ðà đấy.  Nhưng bạn phải thiệt là học trò của A Di Ðà Phật mới được, nếu là giả mạo thì bạn chẳng đáng một xu.  Tuy Phật, Bồ Tát chẳng trách bạn nhưng thần hộ pháp sẽ khiến bạn bị rắc rối.  Thần hộ pháp là cảnh sát, là người chấp hành pháp luật, họ đối với bạn chẳng khách sáo gì cả, nếu bạn giả mạo làm đệ tử Phật thì bạn đã phạm pháp rồi.

Tôi đặc biệt kết hợp sự quy y của đồng tu chúng ta với giáo giới của Tịnh Tông.  Chúng ta quy y Phật thì tôn A Di Ðà Phật làm thầy, quy y Pháp thì lấy kinh Vô Lượng Thọ làm nền tảng, đây là kinh số một của Tịnh Tông.  Những lời dạy của đức Phật trong kinh chúng ta phải hiểu rõ, nhận thức, nhớ nằm lòng, và phải thực hiện những lời này trong đời sống.  Chúng ta hy vọng cách dụng tâm của mình giống như đức Phật A Di Ðà; chúng ta phát nguyện cũng phải giống nguyện của đức Phật A Di Ðà, mỗi nguyện trong bốn mươi tám lời nguyện của đức Phật A Di Ðà đều nhằm đem lại lợi ích cho chúng sanh, đều chẳng vì mình.  Ðức Phật A Di Ðà dạy chúng ta phải sửa đổi hết thảy tập khí phiền não từ vô lượng kiếp đến nay.  Một đoạn rất dài từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy [trong kinh Vô Lượng Thọ] dạy về vấn đề này.  Trong đó là những lời giải thích hết sức cụ thể của ngũ giới và thập thiện, chúng ta phải biết làm thế nào y giáo phụng hành, làm theo lời dạy của Phật; thực sự nương tựa thì sẽ được lợi ích!

Tăng bảo thì chúng ta học theo Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát -- Bồ Tát Tăng.  Hai vị đại Bồ Tát này tượng trưng cho những gì? 

Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, nói theo hiện nay thì từ bi nghĩa là quan tâm, thương mến, và giúp đỡ, trong đó hoàn toàn chẳng có điều kiện gì hết thì gọi là đại.  Ðối với hết thảy người, hết thảy chúng sanh, chúng ta phải quan tâm, thương mến họ.  Khi họ gặp khó khăn thì phải giúp đỡ họ, đây tức là Quán Âm.  Nếu bạn thường giữ tâm niệm này để đối người, tiếp vật thì bạn tức là Quán Thế Âm Bồ Tát.

Ðại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ cao độ; tuyệt đối chẳng dùng tình cảm để xử sự, đãi người, tiếp vật, dùng lý trí mà chẳng dùng cảm tình tức là Ðại Thế Chí Bồ Tát.  Ðại từ đại bi lấy trí huệ làm cơ sở, chẳng dùng cảm tình.  Dùng cảm tình thì có thể có nhiều rắc rối nên phải dùng lý trí để phán đoán.  Ý nghĩa của việc quy y Tam Bảo là như vậy, đây mới thiệt là chỗ quay về, nương tựa của chúng ta.  Cho nên Tam Bảo trong Tịnh Tông được thể hiện qua ‘A Di Ðà Phật, kinh Vô Lượng Thọ, Quán Âm và Thế Chí Bồ Tát’.  Nếu phàm phu chúng ta chẳng có nơi nương tựa thì sẽ cảm thấy trống rỗng, thiếu thốn; khi bạn hiểu được những đạo lý và phương pháp này thì bạn đã kiếm được chỗ nương tựa.  Từ mê hoặc, điên đảo, sai lầm quay lại nương tựa vào Tam Bảo thì bạn mới thực sự quy y.

 

d.     Giữ phép tắc, làm gương mẫu cho chúng sanh.  Học chịu thiệt thòi, không vì cá nhân mình.

‘Ðầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’.  Dùng cách nói hiện nay thì hai câu này nghĩa là ‘giữ gìn phép tắc’;  không những phải giữ phép tắc mà còn phải làm gương mẫu cho xã hội đại chúng.  Chúng ta không được làm trái ngược lời dạy của đức Phật, phải tuân theo.  Hiến chương, luật pháp của quốc gia, phong tục tập quán ở địa phương chúng ta đều phải tuân giữ; được vậy mới có thể hòa đồng với đại chúng, mới có thể cảm hóa hết thảy chúng sanh.  Cho nên lúc chúng ta khởi tâm động niệm, hết thảy các hành động phải thường suy nghĩ coi có thể làm gương mẫu cho xã hội đại chúng hay không.

Hôm qua tôi nêu lên một thí dụ: ngày nay tâm tham của người ta rất nặng, bất luận làm ngành nghề nào cũng đều kiếm đủ mọi cách để đóng thuế ít hơn.  Ðây có phải là việc chúng ta nên làm hay không?  Không phải.  Chúng ta là đệ tử Phật, phải giữ phép tắc, chúng ta có nghĩa vụ phải đóng thuế, nếu tìm đủ mọi cách, tìm lỗ hổng của pháp luật để đóng thuế ít một chút thì chúng ta chẳng còn là đệ tử Phật nữa, chúng ta không tuân giữ luật pháp.  Trong đời sống hằng ngày chúng ta có thể tùy tiện khạc nhổ bừa bãi trên đường phố hay không?  Có thể tùy tiện xả rác hay chăng?  Nếu chúng ta làm vậy thì có thể làm gương mẫu cho xã hội đại chúng hay không?  Nếu bạn có những sự cảnh giác như vậy thì đó tức là quy y, bạn đã quay lại, bạn đã giác ngộ -- những hành động không tốt này sẽ ảnh hưởng đến xã hội, chúng ta nhất quyết chẳng làm.

Chúng ta chân thành với người, tuyệt đối chẳng lừa gạt bất cứ người nào, khi chúng ta bị thiệt thòi, bị gạt gẫm cũng chẳng so đo, giống như Ðạo An lão hòa thượng biết rõ bị người gạt nhưng vẫn để cho họ gạt, và chẳng nói một lời, trong lòng mình tâm an lý đắc.  Tại sao người đó gạt mình mà chẳng gạt người khác?  Bạn hãy suy nghĩ đạo lý này.  Nếu họ gạt mình và mình có năng lực cho người đó thì mình hãy bố thí cho họ, làm một việc thiện.  Ngay trong cảnh giới, trong hoàn cảnh này mài dũa hết tham, sân, si, mạn, nghi.  Nếu bạn chẳng có những cảnh giới này thì bạn tu cái gì?  Ðây tức là tu hành, đây tức là công phu!  Rõ ràng minh bạch, là trí huệ đấy!  Tu hành phải tu ở đâu?  Tu ngay tại chỗ này.  Một chút thiệt thòi cũng chẳng chịu làm thì bạn tu hành cái gì?  Một chút thua thiệt cũng chẳng chịu, nói thực ra là bạn có phân biệt, chấp trước quá cứng chắc.  Nếu không thể phá trừ những thứ này thì bất luận tu học pháp môn nào, tu được giỏi cách mấy, nói với các bạn biết đó đều là tu thế gian pháp, đều vẫn kẹt trong lục đạo luân hồi.

 

e.      Giác là Phật pháp, mê không là Phật pháp.

Ðại thừa Phật pháp đặc biệt trong Tông Môn, thường thường dùng câu: ‘Pháp nào là Phật pháp?’ để thẩm vấn người sơ học.  Các bạn nghĩ thử coi, pháp nào là Phật pháp?  Và hỏi ngược lại: ‘Pháp nào chẳng là Phật pháp?’  Sự khác biệt giữa Phật pháp và chẳng phải Phật pháp ở đâu, bạn phải hiểu rõ.  Giác ngộ rồi thì hết thảy pháp đều là Phật pháp; chưa giác ngộ thì hết thảy pháp đều chẳng là Phật pháp.  Khi bạn chưa giác ngộ, vẫn còn mê hoặc điên đảo, hỏi bạn thêm lần nữa: ‘pháp nào là Phật pháp?’  Chẳng pháp nào là Phật pháp cả.  Kinh Ðại Phương Quảng Hoa Nghiêm cũng chẳng phải là Phật pháp.  Một ngày bạn niệm mười vạn câu Phật hiệu, thì như lời Liên Trì, Ngẫu Ích đại sư nói cho dù công phu niệm Phật của bạn có giỏi hơn nữa, niệm đến mức ‘gió thổi chẳng động, mưa rơi chẳng thấm’, sau đó phê bình bạn: ‘hét bể cổ họng cũng uổng công’.  Tại sao vậy?  Chẳng thể vãng sanh, vẫn kẹt trong lục đạo luân hồi.  Vì vậy nếu chẳng giác ngộ, một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu cũng chẳng là Phật pháp, quý vị phải hiểu đạo lý này.

Phật pháp thay đổi quan niệm, cách suy nghĩ của chúng ta.  Khi khởi tâm động niệm đều nghĩ cho mình, như vậy là sai lầm, đó chẳng là Phật pháp; khởi tâm động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh, nghĩ đến sự an toàn của cả xã hội thì hết thảy pháp đều là Phật pháp.  Tôi thường nói những việc mà bạn làm hằng ngày như uống nước, mặc áo, ăn cơm chẳng có thứ nào không là Phật pháp.  Bạn giác ngộ chưa?  Người giác ngộ sẽ vì hết thảy chúng sanh, người mê chỉ vì cá nhân mình, mê và ngộ khác nhau tại chỗ này.  Lúc khởi tâm động niệm còn vì mình thì không được.  Tại sao không được?  Phật nói: ‘Hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’.  Tại sao bây giờ bạn biến thành chúng sanh?  Tại sao bây giờ bạn còn trong lục đạo luân hồi?  Phật dạy chúng ta: lục đạo là do chấp trước hiện thành; thập pháp giới là do phân biệt hiện thành.  Nói cách khác nếu bạn có thể phá trừ chấp trước, lục đạo sẽ chẳng còn nữa, bạn sẽ vượt ra khỏi tam giới; nếu bạn phá trừ phân biệt, bạn sẽ vượt thoát thập pháp giới và đến Nhất Chân pháp giới.  Nhất Chân pháp giới là Hoa Tạng thế giới trong kinh Hoa Nghiêm, là cảnh giới của Tỳ Lô Giá Na Phật.  (Tây phương Cực Lạc thế giới cũng là Nhất Chân pháp giới).  Vì vậy khi khởi tâm động niệm mà còn một cái ‘TA’ thì ngã chấp của bạn làm sao có thể phá trừ được?

‘Cách phá ngã chấp’ trong Ðại thừa cao minh hơn Tiểu thừa.  Trong pháp Ðại thừa Phật dạy chúng ta khi khởi tâm động niệm đều vì chúng sanh, đừng nghĩ cho cá nhân mình, lâu dần biến thành thói quen, niệm niệm đều vì chúng sanh, đem ích lợi cho chúng sanh, vì chúng sanh tạo phước, quên mất mình.  Phương pháp này đích thật là rất tốt, chẳng nghĩ đến mình, chỉ nghĩ cho người khác.  Dần dần không hay không biết thì ngã chấp sẽ biến mất hết.  Nói một cách khác không hay không biết bạn bèn vượt thoát tam giới, lục đạo.  Phương pháp này vô cùng kỳ diệu!  Thêm phần bạn nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ thì làm sao chẳng nhanh chóng được?  Thành Phật rất nhanh chóng!  Thành Phật tức là thành tựu trí huệ, đức năng viên mãn, nhất định phải hiểu đạo lý này, nhất định phải hiểu phương pháp.  Hiểu đạo lý rồi, biết phương pháp rồi, vấn đề sau đó là mình phải nỗ lực thực hành.  Ðây đích thật là con đường thành Phật nhanh chóng vậy!

Nếu bạn hỏi: ‘Trong xã hội ngày nay làm theo cách này thì chỗ nào tôi cũng chịu thiệt thòi, bị gạt rồi sao?  Người ta ai cũng vì mình, nhưng tôi lại vì họ, họ lại chẳng chịu vì tôi, làm sao tôi phải làm việc khờ dại này!’  Nếu bạn nghĩ như vậy thì bạn mới thiệt là ngu si, chẳng phải người khác ngu; nếu bạn chịu làm thì bạn sẽ được đại tự tại!  Bạn thực sự có thể đạt được những quả báo mà Phật nói trong kinh.  Phải tin Phật, phải mạnh dạn làm, tôi nói những lời này với mọi người khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột, chẳng có một tơ hào hoài nghi gì hết.  Tại sao vậy?  Vì tôi đã làm được rồi.  Những gì Phật nói trong kinh, những gì thầy tôi dạy cho tôi, trong vòng mấy chục năm nay những gì tôi làm bây giờ đã có kết quả, hiện nay tôi đạt được những gì?  Ðược đại tự tại.

Tin sâu nhân quả -- Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả.

Từ Tam Quy nâng cao đến phước thứ ba tức là cơ sở tu học của Ðại thừa Bồ Tát: ‘Phát Bồ Ðề tâm, đọc tụng Ðại thừa, tin sâu nhân quả, khuyến tấn hành giả’.

Bồ Tát Ðại thừa chẳng những tự độ mình mà còn giúp đỡ người khác, cho nên ‘khuyến tấn hành giả’ nghĩa là chủ động giúp đỡ người khác.  Tin sâu nhân quả nói ở đây chẳng phải là nhân quả thông thường.  ‘Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả’ đặc biệt nhấn mạnh trên nhân quả ‘niệm Phật thành Phật’.  Chúng ta có thể tìm được rất nhiều chứng minh trong các kinh điển Ðại thừa, kinh Hoa Nghiêm là thí dụ rõ ràng nhất cho việc niệm Phật thành Phật.  Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Lăng Già cũng chẳng ngoại lệ, quý vị hãy quán sát kỹ càng.  Hết thảy kinh Ðại thừa đều nói niệm Phật thành Phật, đây là cơ sở học Phật của chúng ta!  Chúng ta phải dụng công từ đây, bắt đầu học từ đây.

Năm khoa mục của Tịnh Tông – Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Ðộ, Thập Nguyện.

Hiện nay chúng ta chưa thành Phật, chưa thành Bồ Tát, chưa vãng sanh, thân thể này vẫn còn trụ trên thế gian, mỗi ngày phải tiếp xúc với đại chúng, chúng ta dùng thái độ gì để đối phó với những chuyện hiện thực trong xã hội, Phật dạy chúng ta sáu nguyên tắc gọi là ‘Lục Hòa Kính’.  Lần này cư sĩ Lâm đem vài bộ [liễn, ghi chép] Lục Hòa Kính ở Ðài Loan về đây, hy vọng đem đóng khung [treo lên] để chúng ta thường nhìn thấy và cảnh giác mình.  ‘Kiến hòa đồng giải, Giới hòa đồng tu’.  Nói theo hiện nay ‘kiến hòa đồng giải’ tức là ‘xây dựng kiến thức chung’, chúng ta có chung nhận thức, chung lý tưởng, mục tiêu thì có thể sinh hoạt chung với nhau, hòa đồng khi tiếp xúc lẫn nhau, đối xử hòa mục với nhau;  ‘Giới hòa đồng tu’ nghĩa là tuân giữ luật pháp; nhà có quy tắc trong nhà, nước có pháp luật quốc gia, đạo tràng có quy củ của đạo tràng, mọi người đều phải tuân theo.  ‘Thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân’ [thân hòa đồng trụ: cùng nhau làm việc, sanh hoạt hòa đồng; khẩu hòa vô tránh: chẳng tranh chấp, cãi cọ; ý hòa đồng duyệt: cùng chung chí hướng; lợi hòa đồng quân: cùng chia xẻ tài vật đồng đều với nhau].  Phật dạy chúng ta ‘Lục hòa kính’, chúng ta phải tuân theo sáu nguyên tắc này khi tiếp xúc, sinh hoạt với đại chúng trong xã hội.

Tam Phước là cơ sở tu học của mỗi người.  Lục Hòa Kính là nguyên tắc căn bản khi chúng ta tiếp xúc với đại chúng.  Nếu chúng ta có thể làm được thì trên thế giới này bất luận bạn ở quốc gia nào, địa phương nào, bất luận trong xã hội nào, bạn sẽ chẳng thiệt thòi gì hết, đi đâu cũng được mọi người tôn kính, hoan nghinh, lợi ích này thiệt là chẳng thể nghĩ bàn!  Phải dốc sức thực hành, làm hết lòng; từ cơ sở này không ngừng tiến lên, nâng cao cảnh giới của mình, bạn nhất định phải tuân theo Tam Học, Lục Ðộ, Thập Nguyện.  Tam Học tức là Giới, Ðịnh, Huệ.  Trong đề kinh ‘Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác’ của kinh Vô Lượng Thọ, Thanh tịnh là Giới Học, Bình đẳng là Ðịnh Học, Giác là Huệ Học.  Tam Học đầy đủ trong đề kinh này;  Chẳng những Tam Học đầy đủ, Tam Bảo cũng đầy đủ, Thanh tịnh là Tăng Bảo, Bình đẳng là Pháp Bảo, Giác là Phật Bảo.  Từ đây có thể biết kinh Vô Lượng Thọ thiệt là chẳng thể nghĩ bàn, hy vọng các vị đồng tu hết lòng nỗ lực, đời này chúng ta sẽ chẳng luống uổng, đây là nhân duyên khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay, đời này gặp được thì chúng ta phải trân trọng, nắm chắc, nhất định sẽ thành tựu.  Lời tôi nói đến đây đã hết.

Buổi nói chuyện tại Tịnh Tông Học Hội Úc Châu, 1997 (ngày thứ ba)