|
I. NHỮNG LỜI
VÀNG VỀ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
(tiếp theo)
31.
Thập thiện là mười điều thiện, là căn bản tu hành,
thuộc ba nghiệp thân, khẩu, ý gọi là tu tịnh nghiệp.
Thân nghiệp có ba: Không sát sanh, không trộm cắp, không dâm
dục (nếu tại gia thì không tà dâm).
Khẩu nghiệp có bốn: Không nói láo, không nói lời thêu dệt,
không nói hai lưỡi, không nói lời thô bạo.
Ý nghiệp có ba: Không tham lam, không sân nhuế, không ngu si.
Mười điều thiện này là căn bản phát sinh tất cả các điều
thiện khác. Ðó cũng là nền tảng xây dựng mọi cảnh giới an
vui. Người tu hành mà không tu mười điều thiện này, thì
không khác kẻ xây lâu đài cao ngàn thước trên vũng bùn xập
xậy, quyết không hy vọng thành công.
32.
Ðã tu tịnh nghiệp phải giữ luân thường, làm hết bổn phận,
dứt niệm tà, gìn lòng
thành kính, trừ bỏ các điều ác, vâng làm
những việc lành, đừng
giết hại, gắng ăn chay,
thương tiếc hộ trì mạng
sống loài vật, tín
nguyện niệm Phật cầu
sanh Tây phương. Bên
trong phải vì ông bà,
cha mẹ, anh em, chị em,
bên ngoài vì thân thích,
bạn bè, xóm giềng,
làng nước, đem pháp môn
Tịnh độ này mà phụng khuyến, chẳng luận người có tin
làm cùng không, chỉ hết
sức mình khiến cho mọi
người đều biết pháp
nhiệm mầu này mà thôi.
33.
Người tu tịnh nghiệp, nếu có mảy may công đức lành đều đem
hồi hướng vãng sanh. Như thế thì tất cả hành môn đều là trợ
hạnh của Tịnh độ. Lại phải phát lòng Bồ-đề, thề độ muôn loài,
đem công đức mình tu hồi hướng cho bốn ân ba cõi cùng chúng
sanh trong pháp giới. Làm như thế như đèn thêm dầu, như mạ
được mưa, đã kết pháp duyên sâu cùng tất cả chúng sanh, lại
mau thành tựu thắng hạnh Ðại thừa của mình. Nếu chẳng hiểu
nghĩa này, tất thành ra chỗ thấy cạn hẹp tự lợi của hàng
phàm phu và nhị thừa, tuy hạnh mầu, cảm quả rất kém
(xem bài phát nguyện, chương VII).
34.
Người tu tịnh nghiệp
nên biết rằng sự tu hành hôm nay, chính là đối địch
với nghiệp sanh tử ngày
mai, không phải chuyện tầm thường, hằng nghĩ đến vô
thường mau chóng, ngày tháng chẳng chờ người nhận chân,
thiết thật mà niệm Phật. Nếu nửa lui nửa tới, lúc tin lúc
ngờ, kết cuộc tịnh nghiệp không thành tựu, làm sao ra khỏi
luân hồi?
35.
Tu tịnh nghiệp, cảnh cô tịch chừng nào hay chừng nấy. Tiếng
niệm Phật cao thấp, mau chậm tùy nghi, làm sao cho hợp thành
một phiến. Nên biết, khi ấy thân tuy đơn chiếc mà tâm chẳng
lẻ loi, vì tâm của chư Phật cùng Ðức A-di-đà chưa từng tạm
rời ta, ta khởi niệm thì Phật biết, mở miệng Phật liền nghe,
lo gì sợ cô tịch!
36.
Có tám điều cốt yếu, người tu tịnh nghiệp nên ghi nhớ:
1/ “Vì sự sanh tử, phát lòng
Bồ-đề”, đây là đường lối chung của người học đạo.
2/ “Dùng tín, nguyện sâu trì
danh hiệu Phật, đây là chánh tông của môn Tịnh độ.
3/ Lấy sự nhiếp tâm chuyên chú
mà niệm, làm phương tiện dụng công.
4/ Lấy sự chiết phục phiền não
hiện hành làm việc yếu tu tâm.
5/ Lấy sự giữ chắc bốn trọng
giới làm căn bản vào đạo.
6/ Dùng các thứ khổ hạnh làm
trợ duyên tu hành.
7/ Lấy nhất tâm bất loạn làm
chỗ quy túc của môn Tịnh độ.
8/ Lấy các điềm lành làm chứng
nghiệm cho sự vãng sanh.
37.
Chí tâm niệm Phật tức là ý nghiệp làm lành, xưng danh hiệu
Phật là khẩu nghiệp làm lành, chắp tay lễ bái là thân nghiệp
làm lành. Do ba nghiệp này làm lành, nên có thể diệt tội
nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp, nhờ hạnh nguyện nương
nhau, quyết định được vãng sanh.
38.
Người tu tịnh nghiệp khi ngồi nằm không được xoay lưng về
hướng Tây, cũng không
được hướng về Tây khạc nhổ cùng đại tiểu tiện. Bởi đã
quy y về Liên bang nên tôn sùng miền kim địa, nếu lòng không
trân trọng, đâu phải là chí nguyện cầu sanh.
39.
Miệng đừng ngớt tụng, ý chớ nghĩ khác. Phàm phu tạp loạn,
khẩu ý khó kiềm. Trong
Kinh Phạm Võng, Phật dạy: “Mỗi
ngày khởi ba nghiệp tội,
mà tội của miệng
thì vô lượng”. Muốn cho khẩu nghiệp khỏi gây
tội, chỉ có cách là
đừng nói. Song miệng
không nói càng làm cho
ý suy nghĩ nhiều, mà nếu ý suy nghĩ những điều quấy,
còn không bằng nói mà nói những chuyện có ích, không hại.
Bởi thế cho nên các vị Tổ sư lấy phương pháp tụng kinh làm
một phương tiện kiềm chế khẩu nghiệp và ý nghiệp đắc lực
nhất.
Từ xưa đến nay, các vị chuyên tu về môn niệm Phật, thường
phải đóng cửa (kiết
thất) để kiềm chế ba nghiệp, cho tâm chuyên nhất cảnh.
Như bà Vô Sanh cư sĩ đóng cửa
thất 49 ngày, dứt tất
cả duyên sự, chuyên
một câu niệm Phật, nhờ
vậy mà bà được “Niệm Phật tam muội”. Sở dĩ kiết thất
là phương tiện cần yếu
của pháp môn Tịnh độ, vì chúng ta hiện là phàm phu mê
tối, chướng dầy mà huệ mỏng, nghiệp nặng phước nhẹ, nên tâm
nhiễm dễ khởi, tịnh nghiệp khó thành.
40.
Người mà thực vì thoát ly sanh tử, phát Bồ-đề tâm là con
đường phổ thông học đạo.
Lấy lòng tín nguyện thật sâu để niệm
danh hiệu Phật, là
chính tông tu pháp Tịnh độ. Thân tâm chuyên chú niệm
Phật là pháp phương
tiện tu Tịnh độ. Cốt yếu phải bền
chắc giữ bốn giới cấm
trọng để làm căn bản nhập
đạo. Phải bẻ dẹp phiền
não hiện hành, là việc cần yếu để tu tâm. Dùng mỗi
mỗi khổ hạnh chính đáng để làm trợ duyên tu hành. Phải niệm
Phật cho được nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc cho tịnh
hạnh. Lấy mỗi mỗi điều lành để làm chứng nghiệm được vãng
sanh.
41.
Niệm Phật mà không phát
lòng Bồ-đề, thì
không tương ưng với bổn nguyện của
Ðức Di-đà, tất khó vãng
sanh (lòng Bồ-đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành
quả Phật, dưới
nguyện độ chúng sanh). Tuy phát lòng Bồ-đề mà không chuyên
niệm Phật cũng không được vãng sanh. Nên phải lấy sự
phát lòng Bồ-đề làm
chánh nhân, niệm Phật làm
trợ duyên, rồi sau mới
cầu sanh Tịnh độ.
Người tu
tịnh nghiệp cần phải hiểu biết điều này.
42.
Môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, nương nguyện lực rộng lớn
của Ðức Phật A-di-đà, tất cả lục đạo chúng sanh không luận
căn lành thành thục hay chưa thành thục, không luận ác
nghiệp nặng hay nhẹ, nếu ai bằng lòng tin chắc, phát nguyện
trì niệm hồng danh A-di-đà Phật, thời quyết định được Ðức
Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc Tịnh độ, là hạng thiện căn
thành thục, tất chóng viên mãn Phật quả, nhẫn đến kẻ ác
nghiệp nặng cũng đặng dự hàng Thánh.
Nên biết, pháp môn niệm Phật là
yếu đạo độ sanh của chư
Phật và là diệu pháp
mà trên thì Thánh nhân
đại Bồ-tát, dưới đến phàm phu đều đồng tu. Vì thế nên
trong các kinh liễu nghĩa Ðại thừa luôn nhắc đến, mà lịch
đại Tổ sư không ai chẳng tuân hành.
Xét về Ðức Thích-ca Mâu-ni và Phật
A-di-đà, từ nơi kiếp
xưa từng phát đại nguyện độ thoát chúng sanh. Ðức
Thích-ca thực hiện ở uế độ dùng khổ để chiết phục và thúc
đẩy chúng sanh tiến tu.
Còn Ðức A-di-đà an tọa
nơi Tịnh độ, dùng tịnh,
dùng vui để nhiếp thọ và đào luyện cho mọi người nên
Thánh quả.
43.
Ðức Bổn sư Thích-ca hết lời khuyên đại chúng hiện thời cũng
như mạt pháp, chúng sanh phải cầu sanh Cực lạc, để được thấy
Phật, nghe pháp, mau chứng Vô sanh nhẫn, rồi sau sẽ tùy
nguyện vào Ta-bà để cứu độ chúng sanh. Như thế thời có tiến
mà không thối, có lợi mà không tổn.
44.
Hiện tại phương pháp Trì danh niệm Phật thâm nhập nhân gian,
phổ cập khắp quần chúng và không ai là không biết niệm sáu
tiếng “Nam mô A-di-đà Phật”. Lý do thâm nhập và phổ biến của
phương pháp này là hễ có tu là có thành, rất thích hợp với
mọi căn cơ, bất cứ kẻ trí người ngu đều thâu nhiếp được một
cách dễ dàng. Số người nhờ nương pháp này mà được độ thoát,
so với các tông phái khác, chiếm đến trên bảy tám mươi phần
trăm.
Cứ xác thật mà nói, thì đạo lý của pháp môn này hàm chứa
tinh ba của hết thảy các pháp môn khác một cách sâu xa rộng
rãi. Không những so với các pháp môn khác, nó đã không kém
thua, mà trái lại tinh ba của các pháp môn khác đều thu trọn
vào trong một pháp môn này. Nó có đủ khí độ rộng rãi tập hợp
sự đại thành của các tông phái khác. Vì vậy nếu bàn đến hiệu
quả, bàn đến học lý, bàn đến khó dễ, không một tông phái nào
so sánh kịp!
45.
Muốn chống đỡ với những khó
khăn
chướng ngại của thời
mạt pháp, không còn có
pháp môn nào hơn pháp
môn niệm Phật.
Pháp môn này tự nó đã đơn giản dễ theo,
ngoài ra nó lại dồn
được cả hai sức: tự, tha để hỗ trợ cho nhau nên dễ
thành tựu. Kinh Ðại Tập dạy: “Ðời mạt pháp, trong số ức
triệu người tu hành,
chưa có một người đắc đạo,
duy chỉ có nương vào
pháp môn niệm Phật mới
được độ thoát sanh tử”.
Vì thế nên biết, sau
khi các tông phái khác
suy tàn, duy có mỗi
một tông Tịnh độ là còn
tồn tại để nối dài
pháp vận, cứu độ chúng
sanh mà thôi; các
tông phái khác như
Thiền, Giáo, Luật tông,
v.v... đều phụ thuộc
làm trợ duyên cho tông Tịnh độ, chớ không có thể đơn
độc tồn tại riêng được.
Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật đã dạy: “Trong đời vị lai,
khi kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi, đặc biệt lưu lại
kinh này tồn tại trong một trăm năm, chúng sanh nào gặp được
kinh này đều có thể được độ thoát như ý sở nguyện”.
46.
Muốn cho tâm không luyến việc ngoài, chuyên niệm Phật được
quy nhất, cũng không có phương pháp chi kỳ lạ, chỉ đừng quên
cái chết rình rập bên mình, không biết xảy ra lúc nào.
Phải nghĩ rằng ta từ
trước đến nay tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp, như trong
kinh nói: “Giả sử nghiệp ác kia có hình tướng thì khắp mười
phương hư không cũng chẳng dung chứa hết”. Duyên đâu may mắn,
nay được thân người lại nghe Phật pháp, nếu không một lòng
chuyên niệm Phật cầu sanh Tây phương, khi cái chết đến thình
lình, chắc chắn phải bị đọa vào ác đạo. Chừng ấy nếu vào địa
ngục thì bị non đao, rừng kiếm, lò lửa, vạc dầu, một ngày
đêm sống chết đến vạn lần, sự khổ cùng cực không thể diễn tả.
Nếu đọa vào ngạ quỷ thì thân hình xấu xa, hôi hám, bụng lớn
như cái trống, cổ họng như cây kim, thấy cơm nước
thì những vật ấy đều
hóa thành than lửa, chịu đói khát lăn lộn khóc la
trong vô lượng kiếp. Nếu đọa vào súc sanh, thì hoặc bị kéo
chở nặng nề, hoặc bị
người giết ăn thịt, hoặc
bị nạn loài mạnh ăn
nuốt loài yếu, kinh
khủng chẳng lúc nào yên.
Chịu khổ như thế
có khi vô lượng chư Phật ra đời mà vẫn còn xoay
vần trong ác đạo không
được thoát ly. Nghĩ
thân người mong manh,
cái chết bất kỳ, nghĩ mình đời trước, đời này đã tạo
ra vô lượng nghiệp ác,
nghĩ đến sự khổ tam đồ mà tỉnh
ngộ sợ hãi, tất không
còn tham luyến cảnh
huyễn
bên ngoài, niệm Phật được chuyên nhất.
47.
Người niệm Phật nếu
dụng công siêng
năng tinh tấn, thì sẽ thuần thục quy
nhất, được cảm thông
với Phật, tự có thể thấy
cảnh lành, dù không
thấy cũng không ngại.
Nếu bỏ sự chuyên dụng
công mà vội gấp muốn
được nhất tâm, được
tương ưng, được thấy
cảnh
lành, thì vọng tưởng
rối ren, tâm niệm cầu
mong cố kết nơi
lòng, đây là chứng bệnh lớn
lao nguy hiểm của người tu hành. Như thế
lâu
ngày, những oan gia đời
trước nương theo
vọng tưởng của hành nhân, hóa làm thân Phật, hoa sen, hoặc
các cảnh tốt lạ, để mong
báo oán. Lúc ấy tự mình
không có chánh kiến,
toàn thể là khí phần
của ma, một khi thấy
cảnh ấy tất sanh lòng
hoan hỷ, ma vương
theo đây mà vào tâm phủ
làm cho hành nhân
điên cuồng, dù có Phật
sống cũng không cứu được.
48.
Người niệm Phật không phải chỉ tu theo sự tướng bên ngoài,
mà cần phải để ý trừ phiền não cùng tập nghiệp lầm lỗi xấu
xa. Nếu phiền não bớt một phần thì công phu niệm Phật tăng
một phần. Trái lại, để phiền não tăng tất công hạnh phải lui
kém. Cho nên có người càng tu hành lại càng đổ nghiệp là bởi
lý do trên đây.
49.
Giữ một câu A-di-đà Phật nhặt nhiệm nối nhau, thường nhớ
thường niệm. Khi những tâm tham lam bỏn sẻn, hờn giận, dâm
dục, háo thắng, kiêu mạn, thoạt nổi lên, phải nghĩ: “Ta là
người niệm Phật cầu giải thoát, không nên có tâm niệm như
vậy”, nghĩ rồi liền trừ diệt đi. Như thế, lâu lâu những niệm
lao thần tổn thân đều không do đâu mà khởi, sẽ được công đức
không nghĩ bàn của Phật gia trì nơi thân tâm mình, dám bảo
đảm trong mười ngày sẽ thấy đại hiệu. Nếu tu hành lôi thôi
gián đoạn liền muốn được công hiệu, đó là khi mình khi người,
tuy cũng có công đức, nhưng muốn do đó mà lành bệnh thì
quyết không thể được.
50.
Phàm việc chi cũng lấy lòng thành
làm gốc, tu hành nếu
không dùng tâm chí
thành làm sao
được sự lợi ích lành bệnh dứt khổ!
51.
Trong lúc dụng công tu muốn vọng tưởng dứt lặng đi, mà nó
lại loạn động lên mãi, thì mặc kệ cho vọng tưởng sanh khởi,
không kể, chỉ cốt là ta liền nhớ thâu tĩnh tâm lại, chăm chú
đừng cho tâm niệm lững
dời đi là được. Tỷ như chú ý của con mèo chăm
bắt con chuột, hẳn
không có cử chỉ gì để buông rời. Lúc ta đương dụng
công để tu, dẫu như tâm tu có lững tán đi, thì phải thâu kéo
nó lại, cứ thế thâu tâm về mãi không thôi. Cái công thâu tâm
ấy càng nhiều, càng nhặt, càng dầy thì tự nhiên nó kết tinh
lại thành một thể vô tướng. Kinh Thủ Lăng
Nghiêm nói: “Với cái
động và tịnh của cảnh, tánh nó chẳng dời, lúc nhớ lúc
quên, tánh vẫn như một, phát từ chỗ đó để lần lượt đi sâu
vào mãi cho đến giai đoạn quên cảnh quên tâm, và với cái
“quên” cũng quên luôn đi, đến tận cảnh tịch diệt là chứng
được pháp tánh”.
52.
Người chân thật niệm
Phật: Trong thì quên thân, ngoài quên cảnh, đó là ÐẠI
BỐ THÍ; không sanh lòng
tham, sân, si là
ÐẠI TRÌ GIỚI; chẳng chấp thị phi nhân ngã, là ÐẠI NHẪN NHỤC;
niệm Phật không ngừng hở là ÐẠI TINH TẤN; vọng tưởng không
móng khởi là ÐẠI THIỀN ÐỊNH; tâm không
bị các
duyên cảnh ràng buộc là ÐẠI TRÍ HUỆ.
53.
Muốn tu theo pháp môn
niệm Phật, thì
phải ăn chay giữ giới, phải đổi dữ làm
lành, phải nương thầy
giỏi bạn hay, phải chánh
nguyện giải thoát, phải
biết rõ nhân quả, phải có đủ phương tiện, phải chứa
nhiều công đức, phải làm sự phước duyên lẫn nhau.
54.
Lên nẻo nhân thiên, làm phước là trước. Ra biển sanh tử,
niệm Phật là đầu. Phải dùng câu niệm Phật làm chánh nhân, sự
tu phước làm trợ đạo, phước huệ gồm tu ắt chung bậc Chánh
giác. Trì giới, niệm Phật là nhân ra khỏi đời.
55.
Nếu không niệm Phật thì sanh tử không thế gì trốn được.
56.
Ðức Phật A-di-đà có lời nguyện rằng: “Nếu chúng sanh nào
xưng danh hiệu ta thì chắc sanh về nước ta, như không y lời
thì ta chẳng làm Phật”.
57.
Pháp môn niệm Phật là một pháp môn rất phổ thông, từ hạng
phàm phu cho đến các đấng Thánh Hiền, từ hàng cùng đinh tục
tử cho đến các bậc văn nhân học giả. Một pháp tu rộng rãi
thích hợp cho từ dưới phàm phu lên trên Thánh giả, bao trùm
hết các Giáo, thâu nhiếp cả mười tông.
58.
Niệm Phật là một pháp môn lẹ làng thẳng tắt, công cao dễ tới,
sự rẻ dễ làm, nếu chẳng niệm Phật mà cầu thoát ly ra khỏi
tam giới thì tất không đặng.
59.
Những người tu hành dẫu có năng lực làm được những sự bố thí,
trì giới, tham thiền, tụng đọc, cũng không bằng công đức
niệm Phật. Bởi vì tu theo các thứ phước nghiệp kia đều là
thiện căn nhỏ nhen, còn niệm Phật cầu sanh Tây phương mới
thiệt là thiện căn to lớn.
60.
Trong sự cầu sanh về Tịnh độ mà được dễ dàng là nhờ có Phật
lực. Ðức A-di-đà thì có nguyện lực tiếp dẫn, Ðức Thích-ca
thì có nguyện lực khuyến bảo, còn chư Phật thì có nguyện lực
hộ niệm.
***Xem tiếp>>>
|