(tiếp theo)

VII. NHỮNG BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN VÀ TÁN PHẬT ^

“Yếu môn vào đạo, phát tâm làm gốc,

Cấp vụ tu hành: lập nguyện ở trước”

- Nguyện lập thì chúng sanh mới có thể độ.

- Tâm phát thì Phật đạo mới được thành.

(Trích Phát Bồ-đề tâm văn)

138. Trong các bài phát nguyện, nổi tiếng nhất là bài “Khể thủ Tây phương” của ngài Liên Trì Ðại sư, bài “Nhất tâm quy mạng” của ngài Từ Vân sám chủ, bài “Thập phương tam thế Phật” của ngài Ðại Từ Bồ-tát. Bài nào bài nấy lời văn rất hay, ý nghĩa rất đầy đủ và hàm súc. Sau một thời kinh và trì niệm danh hiệu Phật, ta nên vận hết thành tâm đọc một trong những bài ấy, hoặc đọc tiếp hai ba lần cũng được. Ðọc như thế tức là mượn lời văn để tự mình phát lời nguyện rồi vậy. Lúc lâm chung nhất định sẽ được nhờ Phật tiếp dẫn vãng sanh thế giới Cực lạc.

Bài NHẤT TÂM QUY MẠNG

Của ngài Từ Vân sám chủ

BẢN DỊCH

Một lòng quy kính

Phật A-di-đà

Thế giới Cực lạc

Nguyện lấy tịnh quang chiếu con

Từ thệ nhiếp con

Con nay chánh niệm

Xưng hiệu Như-lai

Vì đạo Bồ-đề

Cầu sanh Tịnh độ

Phật xưa có thệ:

“Nếu có chúng sanh

Muốn sanh nước ta

Hết lòng tín niệm,

Dù chỉ mười niệm,

Mà chẳng đặng sanh,

Thề chẳng làm Phật”.

Nhờ nhân duyên niệm Phật này,

Ðược vào trong biển đại thệ,

Của Ðức Như-lai.

Nhờ từ lực Phật,

Các tội tiêu diệt,

Căn lành tăng trưởng,

Khi thân mạng gần chung,

Biết trước giờ chết,

Thân không bệnh khổ,

Tâm không tham luyến,

Ý không điên đảo,

Như vào thiền định,

Phật và Thánh chúng,

Tay nâng kim đài,

Ðến nghinh tiếp con,

Trong khoảng một niệm,

Sanh về Cực lạc,

Sen nở thấy Phật,

Liền nghe Phật thừa,

Bừng tỏ Phật huệ,

Lui về độ sanh,

Tròn nguyện Bồ-đề.

Bài THẬP PHƯƠNG TAM THẾ PHẬT

Của ngài Ðại Từ Bồ-tát

BẢN DỊCH

Trong ba đời mười phương,

Phật Di-đà thứ nhất,

Chín phẩm độ chúng sanh,

Oai đức cao tột bậc,

Con nay nguyện quy y,

Sám hối tội ba nghiệp,

Phàm làm được phước thiện,

Thảy nhất tâm hồi hướng,

Nguyền cùng người niệm Phật,

Tùy thời hiện cảm ứng,

Khi lâm chung thấy rõ,

Cảnh Tây phương trước mắt,

Thấy nghe đều tinh tấn,

Ðồng sanh về Cực lạc,

Thấy Phật đoạn sanh tử,

Như Phật độ hết thảy,

Dứt vô biên phiền não,

Tu vô lượng pháp môn,

Ðộ hết thảy chúng sanh,

Ðều trọn thành Phật đạo,

Hư không có hạn,

Nguyện con không cùng,

Hữu tình vô tình,

Ðều trọn trí giác.

MỘT BÀI PHÁT NGUYỆN KHÁC

Nguyện đem công đức này,

Trên đền bốn ơn sâu,

Nếu có kẻ thấy nghe,

Khi báo thân này mãn,

Trang nghiêm nơi cõi Phật,

Dưới độ ba đường khổ,

Ðều phát lòng Bồ-đề,

Ðồng sanh về Cực lạc.

BÀI TÁN PHẬT

Ðại từ đại bi thương chúng sanh,

Ðại hỷ đại xả cứu muôn loài,

Tướng tốt rực rỡ tự trang nghiêm,

Ðệ tử chí thành quy mạng lễ.

BÀI HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này,

Ðệ tử và chúng sanh,

Chung cùng khắp cả,

Ðều trọn thành Phật đạo. 

 

VIII. KHUYÊN NIỆM PHẬT

“Lục tự Di-đà vô biệt niệm

Bất lao đàn chỉ đáo Tây phương”

(Sáu chữ Di-đà thường chuyên niệm,

Tương lai quyết định vãng Tây phương).

 

139. Người xuất gia phải chí thú nơi sự giải thoát, đừng quá đua theo công nghiệp hữu vi, vì trong ấy có nhiều lầm lỗi, e cho thiên đường chưa thấy, địa ngục đã trước thành! Nếu việc sống chết chưa xong, thì tất cả công nghiệp hữu vi đều là nguyên nhân của sự khổ. Một mai nhắm mắt đi rồi, tùy theo nghiệp mà thọ báo, chừng ấy mới hay việc đã làm là trên gông cùm thêm xiềng xích, dưới vạc nóng thêm củi than, mảnh pháp y đã mất nơi thân, nẻo dị loại đổi hình muôn kiếp.

140. Trong đời, những người tiền của như núi, thê thiếp đầy nhà, đâu phải họ không muốn trẻ mãi để ngày đêm hưởng phước báo thế gian. Nhưng vì kiếp sanh có hạn, tháng năm thúc giục tuổi già, cái chết há thiên vị kẻ giàu sang, sức nghiệp đâu nể kiêng người tài trí! Chừng ấy tội hành nghiệp cảm, còn chi là thói phong lưu; kiếp trả đền vay, luống hối cho đời phóng đãng! Những việc vừa nói, thế nhân hầu hết mắt đã từng thấy và tai cũng đã từng nghe. Người đời thường lần lựa chờ khi lớn tuổi, việc nhà xong xuôi rồi sẽ niệm Phật, nhưng cái chết đâu có hẹn trẻ hay già! Tuy nói thế, đã mấy ai tuổi cao mà biết lo niệm Phật. Cổ nhân bảo: “Chớ đợi đến già rồi niệm Phật. Ðồng hoang mồ trẻ đã nhiều đây!”.

141. Tất cả người khổ trong đời, vì thân tâm không rỗi rảnh, nên khó tu hành. Nay ta có phần an nhàn, lại nghe pháp môn niệm Phật, vậy phải cố gắng hành trì nối tiếp nhau, khi chuyên tưởng, lúc nhiếp tâm, mới không uổng ngàn vàng tấc bóng. Nếu tu hành lôi thôi tất khó có kết quả, như thế là phụ rãy bốn ân, luống qua ngày tháng, một mai vô thường chợt đến, lấy gì mà chống đối!

142. Năm tháng không chờ đợi, đừng nên hẹn lại ngày mai. Trên con đường tu hành, việc niệm Phật là một việc vừa cần thiết vừa cấp bách. Hễ gặp dịp tu được là tu liền, gặp dịp niệm được là niệm ngay, chớ nên chần chờ để cho thời gian luống qua một cách vô ích.

Phật dạy mạng người ở trong một hơi thở, thở ra mà không thở vào nữa là đời tàn! Bất luận lúc nào, giờ phút nào, con người cũng có thể chết được, không một ai có đủ tài năng bảo đảm đời sống vững chắc lâu dài.

Sự thật đơn giản và phũ phàng ấy, từ Thánh nhân cho đến thế tục, không ai là không xác nhận. “Sanh hữu hạn, tử vô kỳ”, cho nên muốn kịp thời đối phó với cái chết bất thần, ta không nên để lỡ một thời gian nào trôi qua mà không tu niệm. Bất cứ lúc nào tu được, niệm được thì phải gấp rút và tinh tấn hành trì; có thế phút lâm chung mới tránh khỏi cảnh hoang mang, tay quàng, chân rối, lúng túng chẳng biết về đâu.

143. Phàm làm việc gì mà có lý có sự, việc mới thành tựu. Ví như đã biết lộ trình mà lại còn chịu cất bước ra đi. Nếu có lý mà không có sự thì nào có khác gì kẻ biết đường nhưng lại không chịu đi. Cũng như có sự mà không lý thì không khác kẻ muốn đi mà không biết đường. Người đã biết đường và chịu đi theo đường ấy, lý sự tương xứng nhau, nhất định phải thành công. Hạng biết không chịu đi chắc chắn không đến đâu cả. Hạng chịu đi mặc dầu không biết đường nhưng có chí cương quyết, không chần chờ do dự, như vậy cuối cùng rồi cũng sẽ đạt đến đích. Vì các lẽ ấy cho nên mặc dù thiếu lý soi đường những người chịu thực hành cũng chưa lấy gì làm lo. Có lo chăng là với hạng người chỉ ngồi nói lý suông mà không chịu thực hành. Vì vậy, Phật pháp có công năng độ kẻ ngu phu, thất phu không biết nửa chữ một cách dễ dàng chớ khó độ người thế trí biện thông, hoặc người không chịu thiết thực tu hành.

144. May thay, Ðức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật đã vận dụng trí tuệ vô biên và từ bi vô lượng, đề ra pháp môn Tịnh độ, tức môn niệm Phật rất giản tiện mà hiệu lực rất lớn, giúp được tín đồ không phí thì giờ, khỏi bỏ công việc mà vẫn có thể thành tựu đạo quả một cách chắc chắn. Hễ ai có tu là có chứng, không luận tại gia hay xuất gia, không bỏ sót một ai. Hàng Phật tử tại gia, ngoài pháp môn niệm Phật này ra tưởng cũng khó có hy vọng thành công đối với các pháp môn khác. Càng khó thành công thì lại càng dễ sanh chán nản, lắm lúc còn làm cho thối khuất rồi mất hẳn tín tâm, tai hại biết bao! Vì các lẽ ấy nên nói rằng pháp môn niệm Phật là pháp môn duy nhất cho hàng Phật tử tại gia.

Ÿ Rất mong các vị Phật tử tại gia nhận thức tròn đầy tất cả công hiệu viên dung của pháp môn niệm Phật để tu hành, cùng nhau niệm Phật và một ngày kia cùng gặp nhau trên ao sen bảy báu của Ðức Phật A-di-đà.

Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ-Tát

145. NIỆM PHẬT QUYẾT ÐỊNH NGUYỆN VÃNG SANH

Sân lan trời ngã bóng chiều,

Cảm thân phù thế ít nhiều ngẩn ngơ

Tranh đời dệt mộng vẩn vơ

Say đua danh lợi mê mờ sắc thanh

Cánh bèo sóng vỗ bập bềnh

Tại ai hay cũng gây nên bởi mình?

Bể trần là mấy phù sanh

Thị phi thương ghét trong tình quẩn quanh

Mà trông chiếc là lìa cành,

Vinh hư cõi tạm trong vành đó thôi!

Mà trông ngọn nước chảy trôi

Mênh mang sáu nẻo biết rồi về đâu?

Kiếp người nào có bao lâu

Nắng mưa thôi cũng dãi dầu cỏ hoa!

Lầu sương nhạt ánh trăng tà

Hoàng lương một giấc tỉnh ra ngỡ ngàng!

Chi bằng về cõi Liên bang

Sen khoe sắc ngọc, gió đàn pháp âm

Trời giải thoát, cảnh thậm thâm

An vui muôn kiếp, tuyệt lỗi lầm xưa

Chỉ câu niệm Phật đừng thưa

Chỉ bền tín nguyện, tam thừa bước lên

Ðài vàng sẵn đã ghi tên

Cơ duyên sẵn đợi một nền đạo tâm.

146. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Ðức Thích-ca đã than thở và khuyến tấn:

Cõi Phật Vô Lượng Thọ

Hàng Thanh văn Bồ-tát

Công đức và trí tuệ

Không có thể khen nói!

Lại nơi cõi nước kia

Nhiệm mầu cực an vui

Sự thanh tịnh như thế

Sao không gắng làm lành

Mà niệm đạo tự nhiên?

Ðều phải siêng tinh tấn

Gắng sức tự mong cầu

Vãng sanh cõi Cực lạc

Tất lên chỗ siêu tuyệt

Vượt ngang năm nẻo ác

Ác đạo tự nhiên đóng

Thăng đạo không cùng tận

Dễ sanh mà không người!

Cõi kia không cảnh nghịch

Tự nhiên thuận tiến lên

Sao không xả việc đời

Siêng tu cầu đạo đức

Ðể được kiếp sống lâu

Thọ, vui không cùng cực
 

SỰ TÍCH “KHUYẾN TU”

Niệm Phật là nhân

Thành Phật là quả

Ai ơi gắng gổ đêm ngày

Chuyên tâm niệm Phật cầu ngày vãng sanh

 

147. SỰ TÍCH CHÂU LỢI BÀN ÐÀ GIÀ VÀ ÐỀ BÀ ÐẠT ÐA

Ngày xưa, khi Phật còn tại thế, có ngài Châu Lợi Bàn Ðà Già là người rất độn căn. Khi xuất gia làm đệ tử Phật, chỉ được Phật dạy cho hai chữ “Chổi” và “Quét”, thế mà học mãi không thuộc. Tuy thế, ngài vẫn không nản chí, hết lòng cố gắng, không hề xao lãng, cuối cùng vọng niệm tiêu trừ, nghiệp đoạn giải, ngài chứng được quả A-la-hán.

Ðồng thời với ngài Châu Lợi Bàn Ðà Già có ngài Ðề Bà Ðạt Ða, một đệ tử rất thông minh và có biện tài vô ngại. Ðề Bà học đủ các môn thần thông, đọc làu cả sáu vạn pháp tụng, nhưng vì bản tính kiêu căng, không chịu tu tập nên cuối cùng bị đọa địa ngục. Xem đó đủ biết dù bác thông giáo lý, biện luận như thác nước chảy, nhưng nếu không thiết thực tu trì thì hoặc nghiệp từ vô thỉ vẫn nằm yên bất động, không giảm được một hai ly, thử hỏi sự hiểu biết ấy có lợi ích gì không? Công hiệu lợi ích so với một bà già nấu bếp, mặt lem luốc, nửa chữ không biết, chưa chắc đã ai hơn ai, nhất là khi bà già này tinh tấn niệm Phật, luôn luôn một lòng tin tưởng, lúc lâm chung nhất định sẽ được vãng sanh.

Ai là người học Phật chân chính nên xem đó là gương.

148. TÍCH TRƯƠNG TỔ LƯU

Ngày xưa, có người đến nhà bạn là Trương Tổ Lưu khuyên niệm Phật. Trương nghe theo nhưng xin khất lại một ngày khác vì có ba việc chưa làm xong: Một là cha mẹ đang còn cần phải phụng dưỡng, hai là con cái chưa dựng gả xong, ba là việc nhà chưa thu xếp gọn. Trương hẹn khi nào làm xong ba việc ấy sẽ hạ thủ công phu, nhất tâm niệm Phật. Sau khi cáo từ ra về được vài tháng, người kia trở lại thăm, với chủ ý khiến được ông bạn đừng nên chần chờ nữa, nhưng than ôi! Khi đến mới biết bạn đã là người thiên cổ. Bèn ngậm ngùi than thở và làm một bài thơ điếu rằng:

Ngô hữu danh vi Trương Tổ Lưu

Khuyên y niệm Phật thuyết tam đầu

Khước hậu Diêm công vô phân hiểu

Tam đầu vị liễu tiện lai câu.

Tạm dịch là:

Ông bạn tôi tên Trương Tổ Lưu

Tôi khuyên niệm Phật hẹn ba điều

Diêm vương ác hại không thèm hiểu

Ba việc chưa xong vội bắt liều.

Người đời dầu quyền cao chức trọng đến đâu, vẫn không thể bảo đảm cho tương lai đời mình một cách chắc chắn được. Trường hợp như Trương Tổ Lưu trên đây không phải là hiếm có. Vì thế, nếu đã có chí tu hành thì tâm phải cho quyết và phải biết lợi dụng thời gian mới khỏi để ân hận về sau. Vậy, lúc nào tu được là nên tu liền, phút nào niệm được là phải niệm ngay. Thế gian có câu ca rằng: “Ðời người khác thể bóng câu, sớm còn tối mất, biết đâu mà lường”.

Ðạo Phật cũng có câu kệ:

Mạc đãi lão lai phương niệm Phật

Cô phần đa thị thiếu niên nhân

(Chớ đợi đến già rồi niệm Phật

Ðồng hoang mồ trẻ đã nhiều đây!)

 

149. Kệ khuyên niệm Phật

Vô thường mau lẹ sớm hồi đầu

Thân này tuy có chẳng bền lâu

Mai lo danh lợi, chiều nhắm mắt

Khá mau niệm Phật kẻo bạc đầu

Khuyên ai tinh tấn tìm giải thoát

Sống tu kẻo chết biết về đâu!

Ngày đêm gắng nhớ câu niệm Phật

Nguyện về Cực lạc khỏi đọa sâu.


***Xem tiếp>>>