(tiếp theo)

IX. SỬ PHẬT, BỒ-TÁT VÀ 13 VỊ TỔ LIÊN TÔNG. ^

Cây có cội nước có nguồn

Công ơn Phật Tổ sánh dường non cao

Vâng lời Phật Tổ hành trì

Mong ngày đắc quả hằng tùy độ sanh

 

150. Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật

Thích-ca Mâu-ni là tiếng Phạn, dịch: Năng nhân Tịch mặc, Thích-ca là họ, Mâu-ni là tên; Phật có nghĩa là: Ðấng Giác ngộ. Ðức Bổn Sư khi xưa là Thái tử Tất-đạt-đa, ở xứ Trung Ấn Ðộ, nước Ca-tỳ-la-vệ, cha là Tịnh Phạn Vương, mẹ là Ma-da Hoàng hậu. Thái tử xuất gia lúc 19 tuổi, đến 30 tuổi thành đạo, thuyết pháp 50 năm, trụ đời 80 tuổi. Ðức Phật ra đời độ vô lượng chúng sanh, hiện nay đạo pháp của Ngài được khắp Á, Âu, tôn trọng.

Pháp môn niệm Phật ra đời là do công đức của Ngài giới thiệu và hướng dẫn đầu tiên trong Kinh Ðại A-di-đà.

151. Ðạo sư A-di-đà Phật

A-di-đà là tiếng Phạn, dịch Vô Lượng Thọ hoặc Vô Lượng Quang. Ngài là vị giáo chủ ở thế giới Cực lạc, về phương Tây. Theo Kinh Cổ Âm Vương thì đời quá khứ có nước Diệu Hỷ, vị Quốc vương là Kiều Thi Ca. Bấy giờ có Phật Thế Tự Tại Vương ra đời. Kiều Thi Ca xuất gia đầu Phật, hiệu là Pháp Tạng. Lại Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Pháp Tạng Tỳ-kheo ở nơi Phật Thế Tự Tại Vương phát lòng Bồ-đề, lại phát 48 lời nguyện mỗi nguyện đều nói:

“NẾU KHÔNG ÐƯỢC NHƯ THẾ TÔI THỀ KHÔNG THÀNH PHẬT”

Những đại nguyện ấy đã thành tựu, và Ngài Pháp Tạng đã thành Phật tức là Ðức A-di-đà ở thế giới Cực lạc hiện nay.

Ðức Từ phụ A-di-đà Phật là một đấng hoàn toàn lịch sử ở thế giới Cực lạc, trên vài mươi thế kỷ, hồng danh mãi vang lên nơi miệng, nơi tâm của tất cả chúng sanh, y cứ nơi kim ngôn của Ðức Bổn Sư, đấng Chân thật ngữ.

Dưới đây là nhân địa của Ðức Ðạo Sư A-di-đà Phật, để biết rằng kết quả vô thượng đây, tất do nơi nhân thù thắng thuở trước vậy.

A. Bồ-tát Sa-di

(Một tiền thân Ðức Phật A-di-đà)

Trích thuật theo Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ, thứ 7

Ðức Ðại Thông Trí Thắng Phật khi còn ở ngôi quốc vương, có 16 người con trai. Lúc quốc vương bỏ ngai vàng xuất gia thành Phật, thời 16 vị vương tử đồng vào pháp hội xin xuất gia làm Sa-di. Trải qua một thời gian tu học, 16 vị Sa-di chứng ngộ diệu lý, đều đặng thần thông trí huệ.

Ÿ Sau khi giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cho đại chúng trong pháp hội, Ðức Ðại Thông Trí Thắng Phật liền nhập tịnh thất, trụ trong đại định.

Thời gian Ðức Phật ngồi yên lặng nơi tịnh thất, 16 vị Bồ-tát Sa-di đều thăng tòa giảng rộng nghĩa lý Kinh Pháp Hoa cho đại chúng. Mỗi vị Bồ-tát Sa-di độ được sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa người.

Ÿ Mười sáu vị Sa-di đó hiện nay đều đã thành Phật cả, đang ngự trong đạo tràng ở mười phương thế giới. Vị Sa-di thứ 16 thành Phật ở cõi Ta-bà hiệu là Thích-ca Mâu-ni, và vị thứ 9 hiện tại thành Phật ở cõi Cực lạc thế giới, tức là Ðức Từ phụ A-di-đà Phật.

B. Thái tử Thắng Công Ðức

(Một tiền thân Ðức Phật A-di-đà)

Trích thuật theo Kinh Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ-tát

Về thuở quá khứ có vị Thái tử tên là Bất Tư Nghì Thắng Công Ðức. Năm 16 tuổi, Thái tử được nghe Kinh Pháp Bổn Ðà-la-ni nơi Ðức Phật Bảo Công Ðức Tinh Tú Kiếp Vương Như-lai. Nghe kinh xong, Thái tử tinh tấn tu tập trong bảy muôn năm, không ngủ nghỉ mà cũng không nằm, không dựa. Nhờ sức dõng mãnh ấy nên lần lần Thái tử được gặp chín mươi ức trăm nghìn Ðức Phật. Bao nhiêu kinh pháp của chư Phật dạy truyền, Thái tử đều có thể thọ trì tu tập cả. Về sau, Thái tử xuất gia làm Sa môn, lại tu tập “Pháp Bổn Ðà-la-ni” chín muôn năm và giảng truyền chánh pháp cho mọi người.

Tinh tấn tu hành và cần mẫn giáo hóa, trong một đời hoằng pháp Thái tử độ được tám mươi ức na do tha người phát Bồ-đề tâm, trụ bậc bất thối chuyển.

Thái tử Thắng Công Ðức là tiền thân của Ðức Từ phụ A-di-đà Phật.

C. Vua Vô Tránh Niệm và hai vương tử

(Một tiền thân Ðức Phật A-di-đà và Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí Bồ-tát)

Trích thuật theo Kinh Bi Hoa

Vô lượng hằng hà sa kiếp về trước, ở thế giới San Ðề Lâm, con trai của Phụ tướng Bảo Hải, xuất gia thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như-lai. Bấy giờ quốc vương Vô Tránh Niệm cùng đi với Phụ tướng Bảo Hải, các vị vương tử và thần dân, đến đạo tràng cúng dường Ðức Phật Bảo Tạng.

Sau khi nghe Ðức Phật giảng dạy, vua cùng Phụ tướng đều phát Bồ-đề tâm. Ðức vua nguyện trang nghiêm Tịnh độ để nhiếp thọ chúng sanh. Quan Phụ tướng nguyện thành Phật ở uế độ hầu ngự phục mọi loài. Ðức Phật Bảo Tạng phán rằng: “Quá trăm nghìn muôn ức Phật độ về phương Tây có thế giới của Tôn Ám Vương Như-lai, một hằng hà sa a tăng kỳ kiếp sau, thế giới đó sẽ đổi tên là Cực lạc; bấy giờ vua sẽ thành Phật nơi ấy hiệu là Vô Lượng Thọ Như-lai. Và quan Phụ tướng Bảo Hải sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni ở Ta-bà thế giới”.

Ÿ Quan Phụ tướng là tiền thân của Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Ðức vua Vô Tránh Niệm là tiền thân của Từ phụ A-di-đà Phật.

Ÿ Lúc vua Vô Tránh Niệm phát nguyện và được thọ ký xong, Thái tử Bất Huyến, trưởng tử của vua, phát Bồ-đề tâm, đối trước Phật phát nguyện rằng: “Sau này, thời gian tôi tu Bồ-tát hạnh, có chúng sanh nào gặp phải các sự khổ não khủng bố, v.v... sầu lo cơ cùng không ai cứu hộ, không chỗ cậy nương, kẻ ấy nhớ đến tôi, xưng danh hiệu của tôi, được thiên nhĩ tôi nghe đến, thiên nhãn tôi thấy đến, nếu những chúng sanh đó chẳng được thoát khỏi các sự khổ não khủng bố thời tôi thề trọn không thành bậc Chánh giác, và khi vua cha thành Phật ở Cực lạc thế giới, thời tôi thường ở Cực lạc thực hành Bồ-tát đạo và hộ trì Chánh pháp”.

Ÿ Ðức Bảo Tạng Như-lai phán với Thái tử: “Ông quan sát chúng sanh mà sanh lòng đại bi, muốn dứt tất cả sự khổ não của chúng sanh đều được an lạc, nay nên đặt hiệu cho ông là Quán Thế Âm. Về sau, lúc Ðức Vô Lượng Thọ nhập Niết-bàn, cõi Cực lạc đổi tên là Nhất Thiết Trân Bửu Thành Tựu thế giới, ông sẽ thành Phật nơi ấy hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Ðức Sơn Vương Như-lai”.

Ÿ Bấy giờ Vương tử Ni Ma, con thứ của vua, phát nguyện đem tất cả công đức hồi hướng Vô thượng Bồ-đề, và lúc Thái tử Bất Huyến thành Phật, người sẽ là vị Bồ-tát thỉnh chuyển pháp luân trước nhất, cũng thường ở luôn một bên Sơn Vương Như-lai giúp Phật hoằng hóa.

Ÿ Ðức Bảo Tạng Như-lai liền thọ ký cho Vương tử Ni Ma sẽ được toại nguyện, lúc Sơn Vương Như-lai nhập Niết-bàn, người sẽ hộ trì Chánh pháp và sau cùng sẽ thành Phật nơi thế giới ấy, hiệu là Thiện Trụ Công Ðức Bửu Vương Như-lai, quang minh, thọ mạng, quốc độ cùng tất cả Phật sự đều đồng như Ðức Sơn Vương Như-lai.

Ÿ Thái tử Bất Huyến là tiền thân của Quán Thế Âm Bồ-tát và Vương tử Ni Ma là tiền thân của Ðại Thế Chí Bồ-tát.

Ÿ Ðức Phật chỉ cõi Tịnh độ hoàn toàn an vui, cứu cánh thanh tịnh giải thoát, cùng những pháp môn Tịnh độ, để người ham mộ nguyện về, đây là môn “Nhiếp thọ”.

Ÿ Bổn nguyện của hai Ðức Phật: Thích-ca Mâu-ni nguyện ở uế độ để ngự phục chúng sanh cang cường. A-di-đà Phật nguyện trang nghiêm Tịnh độ để nhiếp thọ chúng sanh thanh tịnh.

152. Quán Thế Âm Bồ-tát

Theo Kinh Bi Hoa, về kiếp quá khứ, thuở đời Phật Bảo Tạng, khi Ðức A-di-đà còn làm Luân Vương, thì Bồ-tát làm vị Thái tử thứ nhất của Ngài, hiệu là Bất Huyến. Lúc Thái tử đối trước Ðức Bảo Tạng phát đại nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Quán Thế Âm. Hiện tại Bồ-tát ở cõi Cực lạc phụ giúp Phật A-di-đà mà hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau, Bồ-tát kế vị Ðức A-di-đà mà thành Phật hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Công Ðức Sơn Vương Như-lai; thế giới Cực lạc đổi tên lại là Nhất Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu. Về phần nhân hạnh, quả đức, cùng sự ứng hóa của Bồ-tát, trong Kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Ðại Bi có nói đến.

153. Ðại Thế Chí Bồ-tát

Theo Kinh Bi Hoa, về kiếp quá khứ, thuở đời Phật Bảo Tạng, khi Ðức A-di-đà còn làm Luân Vương thì Bồ-tát làm vị Thái tử thứ hai của Ngài, hiệu là Ni Ma. Lúc thái tử Ni Ma đối trước Ðức Bảo Tạng phát thệ nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Ðắc Ðại Thế và thọ ký cho sau thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương. Hiện tại, Bồ-tát ở cõi Cực lạc phụ giúp Phật A-di-đà hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau, Bồ-tát thành Phật kế đức Quán Thế Âm. Thế giới, thời kiếp và Phật sự, cùng Phật Công Ðức Sơn Vương tương đồng. Trong Kinh Lăng Nghiêm Bồ-tát nói pháp môn niệm Phật rất là tinh thiết, người tu tịnh nghiệp nên tuân theo.

154. Dưới đây là 13 vị Tổ trong Liên tông Phật giáo Trung Hoa:

Huệ Viễn Ðại sư, Sơ Tổ

Thiện Ðạo Ðại sư, Tổ thứ 2

Thừa Viễn Ðại sư, Tổ thứ 3

Pháp Chiếu Ðại sư, Tổ thứ 4

Thiếu Khang Ðại sư, Tổ thứ 5

Vĩnh Minh Ðại sư, Tỏ thứ 6

Tĩnh Thường Ðại sư, Tổ thứ 7

Liên Trì Ðại sư, Tổ thứ 8

Ngẫu Ích Ðại sư, Tổ thứ 9

Triệt Lưu Ðại sư, Tổ thứ 10

Tỉnh Am Ðại sư, Tổ thứ 11

Triệt Ngộ Ðại sư, Tổ thứ 12

Ấn Quang Ðại sư, Tổ thứ 13

155. Huệ Viễn Ðại sư (Sơ Tổ Liên tông)

Ðại sư họ Cổ, người xứ Nhạn Môn, tin về học thuyết Nho, Lão. Năm 21 tuổi, sư nghe ngài Ðạo An giảng Kinh Bát-nhã, bỗng tỏ ngộ than rằng: “Các môn học Nho, Lão đều như lúa lép thôi!”. Nhân đó bèn xuất gia phát thệ hoằng dương Phật giáo. Ngài Ðạo An từng khen: “Chánh pháp truyền bá ở Trung Hoa, là do Huệ Viễn này chăng?”. Sau, Ðại sư vào Lô Sơn, cảm rồng khai mạch nước, thần vận chuyển cây để cất chùa Ðông Lâm. Ngài từng đào ao trồng sen, hợp chúng lại ngày đêm sáu thời niệm Phật cầu sanh Tây phương, nhân gọi là Liên xã.

Ðại sư ở trong núi hơn 30 năm, vua vời cũng không đi, từng ba lần trông thấy Thánh tướng, song trầm hậu không nói ra. Năm Nghĩa Hy thứ 12, Phật lại hiện, ngài bèn ngồi ngay nhập diệt, thọ được 83 tuổi. Người sau tôn Ðại sư làm Sơ Tổ trong Liên tông.

156. Thiện Ðạo Ðại sư (Tổ thứ 2 Liên tông).

Ðại sư ban sơ, nhân thấy đạo tràng tịnh nghiệp của ngài Ðạo Xước, mừng rỡ nói rằng: “Ðây mới thật là nẻo bí yếu để thành Phật”. Rồi đó ngài đến kinh đô khuyên chúng tu Tịnh độ, thường quỳ niệm cho đến khi kiệt lực mới thôi. Ðại sư giảng môn Tịnh độ hơn 30 năm, tu hành chuyên cần, chưa từng ngủ nghỉ. Ðược bao nhiêu của thì ngài dùng tả Kinh A-di-đà hơn mười muôn quyển, vẽ Thánh cảnh Tây phương hơn ba trăm bức. Ðại sư cảm hóa hàng đạo tục rất đông, trong ấy số người được tam muội sanh Tịnh độ nhiều không xiết kể. Một hôm, ngài leo lên cây liễu, hướng về Tây chú nguyện rằng: “Xin Phật tiếp dẫn tôi về Tịnh độ”. Nói xong, gieo mình rơi nhẹ nhàng như lá, ngồi kiết già mà tịch. Vua Cao Tông phục sự thần dị của ngài, phong cho hiệu chùa là Quang Minh.

157. Thừa Viễn Ðại sư (Tổ thứ 3 Liên tông)

Trích ở bộ “Liễu Tứ Hậu Văn Tập”

Ðại sư ban đầu học đạo với Ðường Thiền sư tại Thành Ðô, kế theo học với Tân Thiền sư ở Tứ Xuyên, sau đến Kinh Châu tham học với Chơn Thiền sư ở Ngọc Tuyền.

Sau khi đã đại ngộ, đạo lực đã thành, Chơn Thiền sư bảo ngài đến Hoành Sơn để hóa độ người đời.

Lúc đầu, ngài đến ở dưới gộp đá phía Tây Nam của non Hoành. Có ai thí cho cơm cháo thời ăn, hôm nào không thí chủ thời ngài ăn bùn, không hề đi quyên xin, đến nỗi mình gầy, mặt nám, trên thân chỉ một cái y rách.

Về phần truyền giáo, ngài đứng nơi trung đạo mà dạy người pháp môn chuyên niệm Phật để mau được thành công. Ngài viết lời Phật dạy ra nơi bên đường, bên khe. Khắc giáo pháp lên trên đà, trên vách. Tận tụy khuyên bảo người không nệ mệt nhọc.

Không bao lâu người tin hướng theo ngài, lấy số vạn mà kể. Rồi những kẻ mang tiền mang gạo, kẻ đốn cây đẵn gỗ, mọi người đồng tâm xây chùa dựng điện. Ngài vẫn thản nhiên không khước từ, cũng không bảo làm. Chẳng mấy lúc mà cụm rừng hoang đổi thành cảnh Di-đà đồ sộ.

Phần riêng ngài vẫn y rách cơm thô. Có ai cúng thí dư ra thời bảo đem cứu giúp kẻ nghèo đói tật nguyền.

Năm Trinh Nguyên thứ 18 nhà Ðường, ngày 19 tháng 7, ngài thị tịch nơi chùa Di-đà, thọ 91 tuổi.

158. Pháp Chiếu Ðại sư (Tổ thứ 4 Liên tông)

Trích ở những bộ “Tống Cao Tăng truyện và Lạc Bang văn loại”

Pháp Chiếu Ðại sư, ban đầu ở chùa Vân Phong tại Hoàng Châu chuyên cần tu tập.

Năm Ðại Lịch thứ 4 nhà Ðường, ngài mở đạo tràng niệm Phật tại chùa Hồ Ðông. Ngày khai hội cảm đến mây lành giăng che, trong mây hiện cung điện, Ðức A-di-đà Phật và Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí hiện thân vàng chói cả hư không. Khắp thành Hoàng Châu, nam nữ già trẻ đều đặt bàn thắp hương đảnh lễ. Do Phật và Bồ-tát hiện thân như thế, nên mọi người đều phát tâm tinh tấn hành đạo. Ðạo tràng này ngài khai được năm hội.

Năm Ðại Lịch thứ 5, ngài được gặp Văn Thù và Phổ Hiền, hai vị Bồ-tát tại chùa Ðại Thánh Trúc Lâm tự ở Ngũ Ðài Sơn. Hai vị Bồ-tát khuyên ngài gắng chuyên chí nơi pháp môn niệm Phật để giáo hóa mọi người và đồng thọ ký cho ngài sẽ được vãng sanh Cực lạc và mau chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Triều vua Ðức Tông, ngài mở đạo tràng niệm Phật ở Tinh Châu cũng được năm hội.

Mỗi đêm khuya, vua và người trong cung thường nghe văng vẳng tiếng niệm Phật rất thanh. Nhà vua bèn sai người theo tiếng mà tìm và sau khi biết đó là tiếng niệm Phật ở đạo tràng Tinh Châu. Nhà vua bèn phái sứ giả mang lễ vật thỉnh ngài vào triều.

Ngài mở đạo tràng niệm Phật tại hoàng cung cũng được năm hội. Vì thế nên người đời gọi ngài là Ngũ Hội Pháp .

Một hôm, đang lúc định tâm niệm Phật, bỗng có một vị Thánh tăng hiện đến bảo ngài rằng: “Tòa sen báu của Pháp sư đã hoàn thành.

Ba năm sau hoa nở”. Ðúng ba năm sau, ngài hội đại chúng mà dặn rằng: “Ta về Cực lạc, mọi người phải gắng tinh tu”.

Dặn bảo xong, ngài ngồi ngay mà tịch.

159. Thiếu Khang Ðại sư (Tổ thứ 5 Liên tông)

Trích ở những bộ “Tống Cao Tăng truyện và Lạc Bang Văn loại”

Thiếu Khang Ðại sư, họ Châu, người Tiêu Ðô. Lúc bé, câm từ khi sanh. Năm 7 tuổi, ngài theo mẹ vào chùa Linh Sơn lễ Phật. Mẹ chỉ Phật mà hỏi đùa: “Con có biết ai đó không?”. Ngài bỗng đáp rằng: “Thích-ca Mâu-ni Phật”. Biết là có duyên với Phật pháp, cha mẹ ngài bèn cho ngài xuất gia. Năm 15 tuổi, ngài thông suốt được năm bộ kinh.

Nhà Ðường, năm Trinh Nguyên thứ nhất, ngài viếng chùa Bạch Mã ở Lạc Dương, thấy chỗ cất kinh sách trong điện có ánh sáng xẹt ra, ngài tìm xem thời ánh sáng ấy phát sinh từ tập văn “Tây phương hóa đạo” của nhị Tổ Thiện Ðạo Ðại sư. Ngài vái rằng: “Nếu tôi có duyên với Tịnh độ, nguyện tập văn này lại phóng quang minh”. Ngài vừa nguyện dứt lời, tập văn ấy liền chiếu sáng, trong ánh sáng dạng dạng có hóa Bồ-tát. Ngài nói: “Kiếp thạch có thể mòn, chớ chí nguyện tôi quyết không dời đổi”.

Sau ngài đến Trường An lễ di tượng của nhị Tổ Thiện Ðạo Ðại sư. Khi đương lễ, tượng của Tổ bỗng bay lên hư không, lại có tiếng bảo ngài rằng: “Ông y theo lời dạy của ta mà phổ độ chúng sanh, ngày sau công đức thành tựu sẽ sanh về Cực lạc”.

Ngài đến Giang Lăng gặp một sư cụ bảo: “Ông muốn truyền đạo thời nên đến Tân Ðịnh, có duyên ở đó”. Dứt lời, sư cụ bỗng biến mất.

Ngài đến Tân Ðịnh, thấy người xứ ấy chưa ai biết niệm Phật là gì. Ngài quyên tiền rồi dụ các trẻ nhỏ niệm Phật. Lúc đầu, các trẻ niệm một câu Phật thời ngài thưởng một tiền, sau lần lần mười câu thưởng một tiền. Ít lâu, không cần thưởng tiền chúng nó cũng niệm. Trước, thời có mặt ngài chúng mới niệm, sau rồi chỗ nào và lúc nào chúng nó cũng vẫn niệm. Hơn một năm sau, cả xứ Tân Ðịnh, mọi người đều biết niệm Phật và phàm nam nữ, già trẻ hễ thấy ngài liền niệm “A-di-đà Phật”. Người người tay lần chuỗi, miệng lẩm nhẩm, tiếng niệm Phật vang khắp các nơi.

Ngài bèn lập Tịnh độ đạo tràng ở Ô Long Sơn, xây đàn tam cấp, cứ ngày trai, các thiện tín nam nữ đều họp nơi đó để cùng nhau niệm Phật và nghe pháp. Thường số người họp trên ba nghìn. Ngài ngồi trên tòa cao to tiếng xướng hiệu Phật rồi đại chúng đồng hòa theo. Ngài xướng một câu thời đại chúng thấy một Ðức Phật nhỏ từ trong miệng ngài mà ra, mười câu là mười Phật, nối liền nhau như xâu chuỗi. Ngài bảo đại chúng: “Quý vị đã được thấy Phật, chắc sẽ được vãng sanh”. Mọi người đều mừng lắm.

Năm Trinh Nguyên thứ 21, tháng 10, ngài họp hết kẻ tăng người tục lại rồi dặn rằng: “Với thế giới ác trược này, mọi người nên nhàm chán, với Cực lạc Tịnh độ kia, nên hết lòng tăng tấn. Giờ này ai thấy được quang minh của ta, thời thiệt là đệ tử của ta”.

Nói xong, ngài xòe tay phóng ra vài tia sáng đẹp dài, rồi ngồi yên mà tịch.

Ðại chúng xây tháp ngài ở Ðài Nham, hiệu là Ðài Nham Pháp sư.

160. Vĩnh Minh Ðại sư (Tổ thứ 6 Liên tông)

Ngài tục tánh họ Vương, người xứ Tiền Ðường. Thuở còn tại chức ở ngoài đời, ngài có lấy tiền thuế mua vật mạng phóng sanh, bị khép vào tử tội, song thần sắc không biến, nên được vua ân xá. Sau đó, ngài cũng, trước y chỉ theo Thúy Nham Thiền sư, kế tham học với Thiều quốc sư, nhờ đức Quán Âm dùng nước cam lồ rưới nơi miệng nên được trí huệ biện tài.

Ðại sư có trứ tác bộ Tông Cảnh Lục gồm 100 quyển, lại viết ra bộ vạn Thiện Ðồng Quy Tập, khuyên tu Tịnh độ. Trung Ý Vương mến hạnh đức, thỉnh ngài về trụ trì chùa Vĩnh Minh. Ðại sư định khóa mỗi ngày 108 việc thiện, ban đêm lên chót núi niệm Phật, mọi người nghe tiếng thiên nhạc rền vang giữa hư không.

Ngài tụng Kinh Pháp Hoa đến một muôn ba ngàn bộ. Năm Khai Bảo thứ 8, Ðại sư đốt hương cáo từ chúng, rồi ngồi ngay mà hóa, thọ được 72 tuổi.

161. Tĩnh Thường Ðại sư (Tổ thứ 7 Liên tông)

Trích ở bộ “Phật Tổ Thống Ký”

Tĩnh Thường Ðại sư, người Tiền Ðường, họ Nhan, tự Thứu Vi, xuất gia hồi thuở mới lên bảy. Trong khoảng niên hiệu Thuần Hóa nhà Tống, ngài trụ trì chùa Nam Chiêu Khánh. Vì mộ Tịnh độ đạo tràng ở Lô Sơn, ngài lập Liên xã, khắc tượng A-di-đà Phật. Ngài tự trích lấy máu chép phẩm “Tịnh Hạnh” trong Kinh Hoa Nghiêm. Nhân đó bèn đổi tên Liên xã làm Tịnh Hạnh xã. Hàng sĩ phu trí thức thời bấy giờ dự hội được 120 người. Tướng quốc Vương Văn Ðán làm Hội thủ. Mọi người đều tự xưng là Tịnh hạnh đệ tử. Về phần Tỳ-kheo tăng Ðại sư độ được trên nghìn người.

Năm Thiên Hy thứ 4, ngày 12 tháng giêng, Ðại sư đoan tọa niệm Phật, giây lát bỗng nói to rằng: “Phật đã đến!”. Rồi yên lặng mà tịch, thọ 62 tuổi. Giờ ngài tịch, cả đại chúng đều thấy mặt đất biến thành sắc huỳnh kim, rất lâu mới trở lại màu cũ.

162. Liên Trì Ðại sư (Tổ thứ 8 Liên tông)

Ðại sư húy Châu Hoằng, họ Trầm, người ở đất Nhân Hòa. Lúc ban sơ, ngài nương theo Tánh Thiên Hòa thượng xuất gia. Sau khi thọ đại giới, lại đi khắp nơi tham học với các bậc tri thức. Khi Ðại sư lễ Thánh tích ở non Ngũ Ðài, cảm đức Văn Thù phóng quang. Ði đến núi Vân Thê, thấy cảnh trí u tịch, ngài có ý muốn nương ở đó suốt đời. Dân chúng ở làng ấy thường bị khổ vì nạn hổ. Ðại sư tụng kinh thí thực, hổ đều lẩn tránh. Gặp năm trời hạn, ngài đi dọc theo bờ ruộng niệm Phật, gót chân đến đâu, mưa rơi đến đó. Từ đó, người quy hướng càng ngày càng đông. Ðại sư đều dùng môn niệm Phật mà nhiếp hóa. Ngài có trứ tác pho Vân Thê Pháp Vựng, gồm hai mươi mấy thứ sách, đại khái đều đề xướng về Tịnh độ.

Trước khi lâm chung, Ðại sư từ giã khắp các đệ tử và hàng cố cựu, khuyên chân thật niệm Phật. Ðến kỳ hạn, ngài ngồi niệm Phật mà hóa, thọ 81 tuổi.

163. Ngẫu Ích Ðại sư (Tổ thứ 9 Liên tông)

Ðại sư họ Chung, hiệu Trí Húc, quê ở Ngô huyện. Người cha trì chú Ðại Bi mười năm, mộng thấy đức Quán Thế Âm bồng con trao cho mà sanh ra ngài.

Ban sơ, ngài theo Nho giáo, làm sách bài bác đạo Phật. Ðến khi đọc qua bộ Trúc Song Tùy Bút Lục, liền đốt bản thảo sách mình. Năm 21 tuổi, ngài xuất gia tập tham thiền, nhân bị bệnh nặng gần chết, mới chuyển ý, tu tịnh nghiệp.

Về sau, Ðại sư ở ẩn nơi chùa Linh Phong, trứ thuật rất nhiều. Khi lâm chung, ngài trối dặn thiêu hóa sắc thân, lấy tro xương hòa với bột làm hoàn thí cho chim cá, đặng kết duyên Tây phương, rồi ngồi ngay mà tịch.

Ba năm sau, hàng môn nhân mở bảo khám ra thấy sắc diện Ðại sư như người sống, tóc mọc dài lấp cả tai, không nỡ theo lời di chúc, xây nhục tháp thờ ở Linh Phong.

164. Triệt Lưu Ðại sư (Tổ thứ 10 Liên tông)

Ðại sư họ Tưởng, húy Hành Sách, người ở Nghi Nhơn. Ngài xuất gia năm 23 tuổi, chuyên tu tịnh nghiệp, thường trụ tại chùa Tây Khê ở Hàng Châu mở mang Tịnh tông, sự hoằng hóa rất thạnh. Ðại sư có soạn ra mấy bộ: Liên Tạng Tập, Tịnh độ Pháp ngữ, lưu hành ở đời. Niên hiệu Khang Hy thứ 21, ngài thị tịch thọ 55 tuổi.

Bấy giờ, có người Tông Hoàng và con nhà họ Ngô chết một lượt, trải qua một ngày tỉnh dậy đều nói y nhau: “Tôi bị minh ty bắt đem trói để dưới điện, bỗng thấy hào quang sáng rực khắp nơi, hương thơm hoa báu đầy cả hư không. Minh Vương mọp xuống đất đưa một vị Ðại sư về Tây phương, xem kỹ lại là Triệt công. Tôi nhờ hào quang chiếu liền được tha trở về”.

165. Tỉnh Am Ðại sư (Tổ thứ 11 Liên tông)

Tổ họ Thời, tự Tư Tê, người xứ Thường Thục. Ngài xuất gia thuở 7 tuổi, thọ đại giới lúc 24 tuổi. Ðối với Thiền, giáo, tánh, tướng đều suốt thông. Ðại sư từng ở chùa Chân Tịch, duyệt tạng kinh, niệm Phật qua ba năm, nguồn biện luận như thác đổ. Ngài lại đến chùa Dục Vương lễ tháp, cảm ơn xá lợi phóng quang, nhân đó soạn ra sám Niết-bàn và văn Khuyến phát Bồ-đề tâm, người đọc phần nhiều rơi lệ.

Lúc tuổi già, Ðại sư về ở chùa Phạm Thiên tại Hàng Châu, kết Liên xã để khuyên nhắc lẫn nhau chuyên tu tịnh nghiệp. Mùa Ðông năm Ung Chánh thứ 11, Ðại sư dự biết ngày 14 tháng 4 năm sau mình sẽ vãng sanh. Ðến kỳ hạn, ngài nói: “Mười hôm trước ta đã thấy Phật, nay lại được thấy”. Nói xong niệm Phật mà quy Tây.

166. Triệt Ngộ Ðại sư (Tổ thứ 12 Liên tông)

Ðại sư họ Mã, húy Tế Tỉnh, người đất Phong Nhân, 22 tuổi xuất gia, thông suốt cả Thiền, Giáo. Ban sơ, ngài chủ trì chùa Vạn Thọ ở Bắc Kinh, danh đồn khắp Nam Bắc, hằng đề xướng pháp môn Tịnh độ khuyên chúng tinh tu. Kế đó, Ðại sư lại trụ trì chùa Giác Sanh, tiếng tăm cũng lừng lẫy như trước. Sau, ngài về ở non Hồng Loa, đại chúng quy hướng càng đông, bèn thành ra đạo tràng Tịnh độ.

Ðời nhà Thanh, niên hiệu Gia Khánh thứ 15, vào mùa Xuân, Ðại sư nói trước ngày về Tây và bảo: “Thân huyễn không bền, đừng để một đời luống qua, mọi người nên cố gắng niệm Phật”. Quả nhiên tới ngày kỳ hẹn, Ðại sư thấy Phật đến tiếp dẫn, liền chánh niệm mà tọa hóa. Lúc ấy đại chúng nghe mùi thơm ngào ngạt, khi trà tỳ được xá lợi trăm hột.

167. Ấn Quang Ðại sư (Tổ thứ 13 Liên tông)

Ðại sư họ Triệu, người ở Cấp Dương, suốt thông tông giáo, chuyên tu tịnh nghiệp, từng trải ở các non Chung Nam, Hồng Loa, Phổ Ðà.

Năm Dân quốc thứ 19, ngài đến đất Ngô, sáng lập Linh Nham tịnh tông đạo tràng, khuyên người lấy luân thường nhân quả làm cơ sở, niệm Phật sanh Tây phương làm chỗ quy túc. Ðại sư ấn tặng sách Phật năm trăm muôn bộ, tượng Phật hơn trăm muôn bức.

Mùa Ðông năm Dân quốc thứ 29, ngài niệm Phật tọa hóa ở Linh Nham đạo tràng. Khi trà tỳ, 32 cái răng còn nguyên, được xá lợi ngũ sắc vài ngàn hột. Ðại sư hưởng tuổi đời 80, tăng lạp 60, trứ thuật trăm muôn lời, đệ tử hơn hai mươi muôn, phần nhiều là bậc hiền triết và người có danh vọng trong Quốc đảng.


***Xem tiếp>>>