(tiếp theo)

X. SỰ TÍCH “NIỆM PHẬT VÃNG SANH” ^

Niệm Phật vãng sanh Liên trì

Là nhờ chuyên nhất: đứng, đi, nằm, ngồi

Biết bao gương sáng phải noi

Cố y theo đó tài bồi thân tâm.

 

168. SỰ TÍCH BÀ THÁI XƯƠNG

Bà Thái Xương, vợ một Hoa kiều, nguyên buôn bán ở Quy Nhơn, là một đàn việt chùa Bạch Sa hiện nay. Bà chuyên tu pháp môn niệm Phật và chỉ phát nguyện khi thọ chung được gặp ngày vía Ðức A-di-đà (tức là ngày 17 tháng 11 âm lịch) và được biết trước giờ phút thọ chung ấy. Năm bà mất, đã 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh.

Ðầu tháng 11 năm ấy, bà đến xin thầy Bạch Sa tụng cho một bộ Kinh Thủy Sám và một bộ Kinh Pháp Hoa để kịp đến ngày 17 tháng ấy bà về chầu Phật. Thầy Bạch Sa lấy làm kinh ngạc vô cùng, nhưng vì bà là bổn đạo thuần thành đã lâu năm nên thầy cũng phải chìu theo. Ðến ngày 17, bà con và đạo hữu vì tin ấy đã làm cho họ kinh ngạc, tụ tập đến nhà bà rất đông để thỏa mãn tánh hiếu kỳ.

Suốt buổi sáng hôm ấy bà vẫn khỏe mạnh và bình tĩnh như thường ngày, khiến thầy Bạch Sa trong thâm tâm rất e sợ, không khéo phen này làm trò cười cho thiên hạ. Bỗng đâu đến khoảng quá 10 giờ sáng, bà bảo người giúp việc in một in cơm đem lên nhờ thầy cúng Phật rồi đem xuống cho bà, bà chắn in cơm làm hai phần, tự mình ăn một nửa, của một nửa bảo người giúp việc ăn mà từ tạ rằng: “Gọi là đền đáp công ơn mụ giúp đỡ tôi trong mười mấy năm trường, nay đến ngày vĩnh biệt, xin biếu mụ ăn nửa phần cơm này để sau nhờ Phật tiếp dẫn mụ về Tây phương”. Nói xong, rửa mặt súc miệng và thay áo quần thì đúng 12 giờ trưa.

Bà chào tất cả mọi người, ngồi xếp bằng, hai tay chắp trước ngực mà hóa một cách vui vẻ trước sự kinh ngạc của tất cả mọi người trong nhà. Năm ấy ở Quy Nhơn, thiên hạ xôn xao bàn tán rất nhiều về cái chết của bà Thái Xương. Tiếng đồn bà thành Phật lan ra khắp các tỉnh.

Xem đó đủ biết sự phát nguyện vãng sanh Cực Lạc là một điều tối cần thiết cho người tu theo pháp môn Tịnh độ. Phát nguyện là một nhu kiện không thể không có, ta không nên suất lược để phải mất công hiệu và lợi ích rất lớn về sau.

169. Tích sư Khắc Cần

Sư Khắc Cần họ Trương, người Hồ Nam (Trung Hoa), từ bé tánh khờ khạo. Năm năm mươi ngoài tuổi, sư xuất gia tại am Hồng Thể ở Thiện Hóa, sau thọ Cụ túc giới ở Lộc Sơn. Sư không biết chữ, học mấy thời khóa tụng ngót năm năm mới thuộc. Sau đó 10 năm, sư đi khắp ngũ nhạc, tứ sơn và các đại tòng lâm để tham học, nhưng rốt cuộc không tham hiểu một mảy gì, vẫn khờ khạo như cũ.

Ðến năm 60 tuổi, sư nghe Minh Quả Pháp sư giảng về công đức của pháp môn trì danh niệm Phật quý tại “nhất tâm bất loạn”. Nếu tâm loạn nên chăm chú nghe kỹ tiếng niệm thời tạp niệm sẽ tự trừ, vọng tưởng sẽ tự diệt, tâm sẽ đặng thanh tịnh, v.v... Từ đó sư mới được biết pháp môn niệm Phật, bèn chuyên tu.

Sáu năm sau thời tánh cũ của sư đều mất, tâm hằng tự tại minh mẫn. Lúc rảnh sư thường bảo người rằng: “Tu hành quý tại nhất tâm bất loạn. Nghiệp chướng của tôi do niệm Phật tiêu sạch. Mấy năm gần đây, chẳng những không phiền não mà thân tâm đều được khinh an”.

Một hôm, sư cho người đi mời sư huynh Hàm An. Qua ngày kế, Hàm An đến, sư vừa thấy liền cười nói: “Khắc Cần này xin cáo từ sư huynh!”. Hàm An hỏi: “Tính đi đâu?”. Sư đáp: “Ði Tây phương Cực lạc thế giới”. Hàm An bảo: “Nói khùng phải không?”. Sư nói: “Từ sáu năm gần đây, tâm tôi không loạn động, niệm A-di-đà Phật, câu câu rõ ràng mục kích Tịnh độ. Tự biết ngày giờ quyết định vãng sanh. Chẳng phải khi dối vậy!”. Sư liền đem tất cả công sự trong am giao phó cho Hàm An rồi lại bảo: “Giờ ngọ ngày mai tôi sẽ từ biệt sư huynh, anh em già với nhau, tất cả phải lo cho nhau, sư huynh nên gắng chuyên tu pháp môn niệm Phật để chuẩn bị tư lương”.

Sáng hôm sau, sư tắm gội, thay y, Tịnh độ. Chiều hôm ấy, sư ngồi một mình niệm Phật không nói chuyện. Sáng hôm sau nữa, sư lại tắm gội, thay y phục, thắp hương lễ Phật, tạ Tổ xong, sư vẫn vào tịnh thất ngồi niệm Phật. Ðến giờ ngọ sư mới chậm rãi đi vào ngồi kiết già trong khánh, tay cầm chuỗi yên lặng niệm Phật. Mãi đến hai giờ sau, Hàm An thấy đã lâu mà không thấy sự động tịnh, bèn lại gần thăm xem, thì ra sư đã tịch rồi. Chừng đó mới cả kinh mà tin thật và đồng thời cùng với các sư Phổ Ấm v.v... đều nghe mùi hương lạ. Lúc đó là giờ ngọ, ngày mùng 5 tháng 7 năm Tân Sửu, triều vua Quang Tự nhà Thanh. Bấy giờ nhằm tiết trời nóng nực mà thi hài của ngài vẫn để yên nơi đình khánh ấy đến 7 ngày, vẫn không sình nứt thúi hôi chi cả; người mục kích đều ngợi khen, cho là điều lạ ít có.

170. Tích Trương Chung Húc và Trương Thiện Hòa

Ÿ Trương Chung Húc, người nhà Ðường, sống nghề làm thịt gà. Khi sắp chết, thấy người lùa bầy gà đến hô: Mổ! Mổ! Bầy gà xúm mổ Húc, mặt, mắt đều chảy máu ròng ròng, đau không chịu nổi. Sa môn Hoằng Ðạo hay tin bèn đến trương tượng Phật, khuyên Húc niệm Phật. Ðược một lát bỗng có mùi hương lạ, thơm ngát cả nhà, bầy gà biến mất, máu hết chảy, ông Húc đoan tọa mà mất.

Ÿ Trương Thiện Hòa cũng người nhà Ðường, làm nghề giết bò. Lúc bệnh ngặt, thấy vài mươi con bò đến nói tiếng người rằng: “Mầy giết chúng tao, phải đền mạng!”.

Ông Hòa hối vợ thỉnh sư tăng. Sư tăng bảo:

“Trong Quán Kinh nói: “Nếu chúng sanh nào gây tạo ác nghiệp, đáng đọa vào ác đạo, mà chí tâm xưng niệm A-di-đà Phật đủ 10 niệm thời tiêu tội, được vãng sanh Cực lạc thế giới”.

Ông Hòa nói: “Lửa địa ngục đến rồi, không thể chờ lư hương được!”. Ông liền tay tả cầm lửa, tay hữu cầm hương, hướng về Tây phương to tiếng niệm Phật. Chưa đầy 10 hơi, ông bỗng nói: “Phật đã đến trao cho tôi tòa sen báu”. Dứt lời liền tắt hơi.

 

XI. SO VÀ GIỚI THIỆU THIỀN VỚI TỊNH

Thiền nào có khác Tịnh đâu

Có chăng chỉ khác công phu tu hành

Ngộ là Phật, mê: chúng sanh

Ngoài ra kết quả đành rành như nhau

171. “THIỀN CÙNG TỊNH ÐỘ VẪN KHÔNG HAI, NẾU LIỄU THÌ LIỄU CẢ, MÊ CŨNG ÐỒNG MÊ”, lời của Thiên Như Ðại sư quả thật xác đáng. Bởi chân tâm bao hằng sa muôn pháp, hàm vô biên quốc độ, nơi Thiền gọi là “Bản lai diện mục”, nơi Tịnh gọi là “Tự tánh Di-đà”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Mười phương hư không sanh trong tâm ông như áng mây nổi điểm giữa trời xanh rộng lớn bao la, huống chi vô lượng thế giới ở trong hư không ư?”. Cổ đức cũng bảo: “Hằng sa pháp ấy Bồ-đề đạo, nghĩ đến Bồ-đề cách vạn tầm!”. Vì chân tâm bao hàm muôn tượng, nên nếu người tu Thiền mà hiểu Thiền bằng lý không không, rồi bảo chẳng có Cực lạc, bác sự cầu sanh, tất chưa phải là người hiểu Thiền. Sở dĩ ngài Thiên Như nhiều phen cặn kẽ chỉ bày là để phá mối chấp không đó.

Về phần thể, chân tâm xán lạn bao hàm vô biên thế giới, gọi là “Thiền Tịnh độ”, và vô lượng thế giới ảnh hiện trong chân tâm, tất cả đều tịch tịnh như huyễn, gọi là “Tịnh độ Thiền”.

Về phần dụng, hành giả khi đã ngộ tánh bản lai, rồi khởi lên bi nguyện, tu những hạnh trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sanh, gọi là “Thiền Tịnh độ”, và nếu dùng môn Tịnh độ để nhiếp hóa hữu tình trở về chân tánh, gọi là “Tịnh độ Thiền”

Ÿ Tóm lại, Thiền tức Tịnh độ, Tịnh độ tức là Thiền. Nếu bác Tịnh độ chính là chưa hiểu rõ Thiền, và bác Thiền cũng chẳng suốt thông Tịnh độ. Liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê, bởi do lý đó.

172. So với Thiền, pháp niệm Phật, khi chưa đạt được “NHẤT TÂM BẤT LOẠN”, hai bên khác nhau rất xa.

Ÿ Buổi sơ phát tâm, với phép tu thiền định, hành giả không được có tâm ưa, chán, thủ, xả; với phép tu niệm Phật, hành giả lại phải ưa thủ cảnh Cực lạc và mong xả cảnh Ta-bà. Với phép tu Thiền định, tâm không được trú trước vào cảnh giới, nếu còn trú trước tức là sai lạc; với phép tu niệm Phật, tâm lấy cảnh làm đối tượng, tâm năng duyên và cảnh sở duyên phải rõ ràng. Với phép tu Thiền định, tâm phải xa lìa pháp chấp, với phép tu niệm Phật, hành giả cần phải lợi dụng pháp chấp. Với phép tu Thiền định, hành giả phải thể nhận được pháp tánh thân ngay trong thế gian này; với phép tu niệm Phật, hành giả khởi tưởng sẽ chết ở thế gian này và sẽ sanh về thế giới bên kia. Vì các lý do trên, Thiền tông và niệm Phật có chỗ bất đồng. 

Ÿ Nhưng khi niệm Phật đã đến chỗ “NHẤT TÂM BẤT LOẠN”, nghĩa là đã đắc định rồi, thì lại là việc khác. Ðạt được cảnh giới tam muội, tức là hư không tan rã, đại địa lấp bằng, hiện tiền một niệm dung hợp được với pháp thân chư Phật trong mười phương, như trăm ngàn ngọn đèn cùng dung hợp ánh sáng và cùng chiếu chung trong một căn nhà, không tan mất, không lẫn lộn. Lúc ấy ý thức phân biệt ly khai. Cảnh giới này so với cảnh giới chân như tam muội của Thiền tông không hai, không khác. Xem thế thì biết rằng Tịnh độ tức là Thiền tông, kết quả của hai bên nào có khác gì nhau!

173.  Mộ Liên Pháp sư nói: “Thiền chính là chân như Phật tánh sẵn có của chúng ta”. Thiền tông gọi là “Bản lai diện mục” trước khi cha mẹ sanh, mà không nói rõ ra, cố muốn cho người tự tham cứu, tự ngộ lấy. Kỳ thiệt chính là: Tâm thể thuần chân, linh tri ly niệm, không năng không sở, tức tịch tức chiếu vậy.

Ÿ Tịnh chính là tin sâu nguyện thiết, chuyên tâm trì danh cầu sanh Cực lạc.

Ÿ Người hành Thiền khi sức tham cứu đã tột, vọng niệm dừng, vọng tình dứt, suốt thấy bản lai diện mục, minh tâm kiến tánh, đó gọi là có Thiền.

Ÿ Còn người tu Tịnh độ, chân thiệt phát Bồ-đề tâm, tin sâu nguyện thiết, chuyên trì hồng danh cầu sanh Tây phương Cực lạc, thế gọi là có Tịnh.

174. Người tu hành mà chưa đại triệt, đại ngộ, là không Thiền, lại cũng không có tín nguyện niệm Phật, là không Tịnh. Dầu triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh, nhưng kiến tu phiền não chưa dễ đoạn trừ, phải trải qua nhiều công phu tu trì gột rửa cho sạch cả mới ra khỏi luân hồi sanh tử. Nếu còn một phần phiền não thời lục đạo luân hồi vẫn y như cũ, nói chi đến người chưa đoạn phần nào.

175. Các tông đại khái chia ra làm hai, là KHÔNG MÔN và HỮU MÔN. Không môn từ phương tiện lý tánh đi vào. Hữu môn từ phương tiện sự tướng đi vào. Nhưng đi đến chỗ tận cùng thì dung hội tất cả, sự tức lý, lý tức sự, tánh tức tướng, tướng tức tánh; nói cách khác: Sắc tức là không, không tức là sắc, không và sắc chẳng khác nhau.

Cho nên khi xưa có một vị Ðại sư tham thiền ngộ đạo, nhưng lại mật tu Tịnh độ. Lúc lâm chung ngài lưu kệ phó chúc cho đại chúng, rồi niệm Phật, sắp vãng sanh. Một vị Thiền giả bỗng lên tiếng hỏi: “Cực lạc là cõi hữu vi, sao tôn đức lại cầu về làm chi?”. Ðại sư quát bảo: “Ngươi nói vô vi ngoài hữu vi mà có hay sao?”. Thiền giả nghe xong chợt tỉnh ngộ. Thế nên Thiền và Tịnh đồng về một mục tiêu. Hữu môn cùng Không môn tuy dường tương hoại mà thật ra là tương thành cho nhau vậy.

Ÿ “Thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay; pháp chẳng thấp cao, hợp cơ là pháp diệu”. Tịnh độ với Thiền tông thật ra chẳng thấp cao, hơn kém. Nhưng luận về căn cơ, thì Thiền tông duy bậc thượng căn mớithể được lợi ích; còn môn Tịnh độ thì gồm nhiếp cả ba căn (thượng, trung, hạ), hạng nào nếu tu cũng đều dễ thành kết quả. Luận về thời tiết, thì thời mạt pháp này, người trung, hạ căn nhiều, bậc thượng căn rất ít, nếu muốn đi đến thành quả giải thoát một cách chắc chắn, tất phải chú tâm về Tịnh độ pháp môn. Ðây là bởi lòng đại bi của Phật, Tổ, vì quán thấy rõ thời cơ muốn cho chúng sanh sớm thoát nỗi khổ luân hồi, nên trong các kinh luận đã nhiều phen nhắc nhở. Ðiều này là một sự kiện rất quan yếu và hết sức xác thật!

Ÿ Tuy nhiên, chúng sanh sở thích và tánh dục có muôn ngàn sai biệt không đồng, nên chư Phật phải mở vô lượng pháp môn mới có thể thâu nhiếp hết được. Vì vậy Tịnh độ tuy hợp thời cơ, song chỉ thích ứng một phần, không thể hợp với sở thích của tất cả mọi người, nên cần phải có Thiền tông và các môn khác, để cho chúng sanh đều nhờ lợi ích, và Phật pháp được đầy đủ sâu rộng.

176. Giới thiệu lợi hại giữa Thiền và Tịnh

I.   Có Thiền không Tịnh độ,

     Mười người, chín ngại đường.

     Khi ấm cảnh hiện ra,

     Chớp mắt đi theo nghiệp.

II.      Không Thiền có Tịnh độ,

     Muôn tu, muôn người sanh.

     Khi được thấy Di-đà,

     Lo gì không tỏ ngộ!

III.     Có Thiền, có Tịnh độ,

     Cũng như cọp mọc sừng.

     Ðời nay làm thầy người,

     Ðời sau làm Phật, Tổ.

IV.     Không Thiền, không Tịnh độ,

     Giường sắt, cột đồng lửa.

     Muôn kiếp lại ngàn đời,

     Chẳng có nơi nương tựa!

Kệ của Vĩnh Minh Ðại sư

177. Ðề bạt

Tức tâm Tịnh độ lý không ngoa

Tịnh khác Thiền đâu, vẫn một nhà!

Phước kết trang nghiêm phần sắc tướng,

Huệ tuôn vô ngại cõi hằng sa.

Trời Tây sáng lạ màu vi diệu,

Nguyện Phật thâm sâu, đức hải hà.

Ngoảnh lại đường tu, ai sớm tỉnh?

Nỗi thương ác đạo mãi vào ra!

Tây Trai lão nhân

 

XII. SỰ CHUYỂN HƯỚNG TỪ THIỀN SANG TỊNH ^

Ðời mạt pháp hiếm người tu chứng

Bởi nhiễm ô ái dục nặng nề

Pháp Thiền rất khó hành trì

Chuyển sang niệm Phật khó gì vãng sanh.

178. Thuở xưa, môn Thiền trực chỉ rất thạnh hành ở Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và cả ở Việt Nam. Tại Việt Nam, nhất là vào đời Lý, Trần, Tăng Ni có cả nửa thiên hạ và hầu hết đều tu Thiền. Thời này Phật giáo ở Việt Nam rất hưng thạnh.

Nhưng cơ duyên cũng theo thời mà chuyển biến. Có rất nhiều vị Thiền đức tuy bên ngoài truyền bá tông Thiền, nhưng bên trong lại mật tu Tịnh độ, để bảo đảm không thối đọa. Có nhiều vị khác, sau khi tham ngộ Thiền tông, quán xét thời cơ, vì lòng thương xót lợi sanh, hết sức hoằng dương pháp môn Tịnh độ.

Thế lực của Thiền tông lần suy kém, bởi ít người tu chứng. Trái lại, môn niệm Phật lại lần chiếm ưu thế, Tăng tục nhiều người tu Tịnh độ được vãng sanh. Bây giờ, tuy Thiền tông vẫn lưu hành, nhưng trên thực tế chínhthời kỳ Tịnh độ đã nắm quyền hướng dẫn. Bởi ảnh hưởng đó mà ở Việt Nam, môn niệm Phật hầu như phổ cập trong quần chúng vậy. 


***Xem tiếp>>>