Lược Luận An Lạc Tịnh Độ Nghĩa
Đàm Loan Đại Sư soạn
Thượng Tọa Thích Nhất Chân dịch
Hỏi rằng: Nước An
Lạc, ở trong ba cõi, là do cõi nào nhiếp?
Đáp rằng: Như Thích Luận nói:
“Như Tịnh Độ ấy chẳng phải do ba cõi nhiếp”. Do cớ gì?
Vì không có dục, nên chẳng phải do dục nhiếp.
Vì sống trên đất, nên chẳng phải cõi
Sắc nhiếp. Vì có hình sắc, nên
chẳng phải cõi Vô Sắc nhiếp. Phật A Di Đà khi hành
căn bổn đạo Bồ Tát, làm Tỳ Kheo tên gọi Pháp Tạng, theo nơi
Phật Thế Tự Tại Vương thưa hỏi về hạnh thuộc Tịnh Độ của
chư Phật, nào người trời thiện ác ra sao, nào cõi nước tịnh
thô thế nào, trọn đều hiện ra cho thấy. Lúc ấy Bồ Tát Pháp
Tạng ở ngay trước Phật, phát thệ rộng nguyện lớn, giữ lấy
các cõi Phật. Rồi trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, như lời
phát nguyện, hành các Ba La Mật, đến mức vạn thiện viên mãn,
thành đạo vô thượng. Như thế cõi An Lạc này là do nghiệp
riêng của Pháp Tạng Bồ Tát mà có được, nên chẳng phải ba
cõi vậy.
Hỏi rằng: Nước
An Lạc có mấy loại trang nghiêm
mà gọi là Tịnh Độ?
Đáp rằng: Nếu y
theo kinh, căn cứ theo nghĩa của
Kinh thì bốn mươi tám nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng chính là
sự thể này. Xem bài tán thì đủ rõ,
không cần phải nói lại nữa. Nếu y
theo luận Vô Lượng Thọ, thì do
hai loại thanh tịnh, nhiếp hai mươi chín loại trang nghiêm
được thành tựu. Hai loại thanh tịnh này là: một, thanh tịnh
thuộc khí thế gian, hai là thanh tịnh thuộc chúng sinh thế
gian.
Thanh tịnh thuộc khí thế gian có mười
bảy loại trang nghiêm được thành tựu:
- Một là tướng của cõi nước
kia hơn hẳn đường ba cõi.
- Hai là nước này rộng lớn, lượng như
hư không không có giới hạn.
- Ba là do từ chính đạo đại từ bi và
thiện căn xuất thế của Bồ Tát mà khởi lên.
- Bốn là trang nghiêm bằng quang minh
thanh tịnh, và viên mãn.
- Năm là sẵn đủ tính chất trân bảo hạng
nhất, có đủ bảo vật kỳ diệu.
- Sáu là quang minh trong sạch thường
chiếu thế gian.
- Bảy là bảo vật ở nước
kia mềm mại, người chạm vào
thích thú.
- Tám là ngàn vạn hoa báu trang nghiêm
ao hồ; điện báu, lầu gác báu, đủ loại cây báu, với quang
minh đủ màu, hiện ảnh thế giới; vô lượng võng báu che hư
không; chuông treo bốn mặt thường ngân âm pháp.
- Chín là ở trong hư không tự nhiên
thường mưa xuống hoa trời, áo trời, hương trời huân ướp
khắp mà trang nghiêm.
- Mười là quang minh của trí huệ Phật
chiếu trừ si ám.
- Mười một là phạm thanh khai ngộ nghe
xa khắp mười phương.
- Mười hai là thiện lực của Phật
A Di Đà, pháp vương vô thượng,
trụ trì.
- Mười ba là do từ tịnh hoa của Như Lai
mà hóa sinh.
- Mười bốn là yêu thích vị Phật pháp,
thiền tam-muội là món ăn.
- Mười lăm là vĩnh viễn lìa các khổ
thuộc thân, tâm, thọ lạc không gián đoạn.
- Mười sáu là cho đến danh từ hai thừa,
người nữ và căn khuyết, cũng không hề nghe đến.
- Mười bảy là chúng sinh có các thích
muốn nào, đều tùy tâm như ý, không thứ nào không đủ.
Mười bảy loại như
thế vậy, đó gọi là thanh tịnh thuộc khí thế gian.
Thanh tịnh thuộc chúng sinh thế gian có
mười hai loại trang nghiêm được thành tựu:
- Một là đài hoa bằng vô lượng trân bảo
vương lớn và vi diệu dùng làm
Phật tòa.
- Hai là vô lượng tướng tốt, vô lượng
quang minh trang nghiêm thân Phật.
- Ba là Phật với biện tài vô lượng
tương ưng với cơ mà nói pháp, đầy đủ rõ ràng, khiến người
thích nghe, mà người nghe ắt tỏ ngộ, lời lẽ không nói xuông.
- Bốn là trí huệ chân như của Phật ví
như hư không, chiếu rõ tổng tướng và biệt tướng của các
pháp, tâm không phân biệt.
- Năm là do chúng người, trời bất động
mà trang nghiêm rộng lớn, ví như núi Tu Di hiển chiếu giữa
bốn biển lớn, tướng pháp vương gồm đủ.
- Sáu là thành tựu quả vô thượng, bằng
còn không ai bằng được, huống gì là hơn.
- Bảy là bậc thầy điều ngự của người
trời trượng phu, đại chúng cung kính vây quanh như chúa sư
tử với sư tử vây quanh.
- Tám là các công đức do bốn nguyện lực
của Phật trang nghiêm và trụ trì, ai gặp sẽ không luống
qua, mà khiến được mau đầy đủ tất cả biển công đức. Bồ Tát
chưa chứng tịnh tâm rốt cuộc được chứng pháp thân bình đẳng,
cùng với Bồ Tát tịnh tâm, và Bồ Tát địa tiền, rốt cuộc cùng
được tịch diệt bình đẳng.
- Chín là các chúng Bồ Tát của nước An
Lạc, thân không động đậy mà đến khắp mười phương, ứng hóa
đủ loại, tu hành như thật, thường làm Phật sự.
- Mười là thân ứng hóa như thế của Bồ
Tát trong tất cả mọi thời không trước không sau, mỗi tâm
mỗi niệm phóng quang minh lớn, trọn đến khắp được thế giới
mười phương, giáo hóa chúng sinh bằng đủ loại phương tiện,
do tu hành mà thành tựu, diệt trừ khổ não cho tất cả chúng
sinh.
- Mười một là các Bồ Tát này nơi tất cả
các thế giới chiếu không sót một đại hội nào của
chư Phật, cúng dường, cung kính,
tán thán vô lượng rộng lớn không sót một công đức nào của
chư Phật Như Lai.
- Mười hai là các Bồ Tát này ở nơi các
chỗ không có Tam Bảo trong tất cả các thế giới ở mười
phương sẽ trụ trì và trang nghiêm bằng biển lớn công đức
Phật Pháp Tăng bảo, hiện bày khắp chỗ khiến thấu hiểu, để
tu hành như thật. Những thứ ấy gồm tám
loại công đức trang nghiêm thuộc Pháp Vương được thành tựu,
và như thế là bốn loại công đức trang nghiêm thuộc Bồ Tát
được thành tựu. Đó gọi là thanh
tịnh thuộc chúng sinh thế gian.
Cõi nước An Lạc đủ hai mươi chín loại công đức trang nghiêm
như thế được thành tựu, nên gọi là Tịnh Độ.
Hỏi rằng: Sinh về cõi An Lạc
thông thường có bao nhiêm phẩm hạng, có bao nhiêu nhân
duyên?
Đáp rằng: Trong kinh Vô Lượng
Thọ duy có ba hạng thượng, trung, hạ.
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, mỗi một phẩm lại phân làm
thượng, trung, hạ. Ba lần ba là
chín, hợp làm chín phẩm. Nay y
theo kinh Vô Lượng Thọ làm phụ trợ để làm bài văn
tán. Cứ dựa theo ba phẩm kinh
này đưa ra mà luận, thì những người sinh thuộc hạng thượng
có năm nhân duyên:
- Một là bỏ nhà lìa dục để làm
sa môn.
- Hai là phát tâm Bồ Đề vô thượng.
- Ba là một mực chuyên niệm Phật Vô
Lượng Tho
- Bốn là tu các công đức.
- Năm là nguyện sinh nước An Lạc.
Đủ các nhân duyên này, vào lúc lâm
chung, Vô Lượng Thọ Phật cùng với đại chúng hiện ra trước
người ấy, người ấy tức thì sẽ theo Phật mà vãng sinh vào An
Lạc, ngay trong hoa bảy báu, tự nhiên mà hóa sinh, trụ
không thối chuyển, trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại.
Người sinh thuộc hạng trung có bảy nhân
duyên:
- Một là phát tâm Bồ Đề vô thượng.
- Hai là một mực chuyên niệm Phật Vô
Lượng Thọ.
- Ba là có tu thiện ít nhiều phụng trì
trai giới.
- Bốn là dựng lập tháp tượng Phật.
- Năm là nuôi sa-môn cơm ăn.
- Sáu là treo tranh, thắp đèn, rải hoa,
đốt hương để cúng dường.
- Bảy là hồi hướng nguyện sinh về An
Lạc.
Người này vào lúc lâm
chung, mộng thấy Phật Vô Lượng
Thọ, cũng được vãng sinh. Trí huệ công
đức đứng sau hạng trung.
Lại có một loại
vãng sinh về An Lạc mà không thuộc vào ba hạng. Đó
là tâm nghi hoặc mà tu các công đức, cũng nguyện sinh An
Lạc. Không hiểu rõ về Phật trí là trí không thể suy lường,
trí không thể sánh bằng, trí Đại thừa, trí không gì bằng,
không gì sánh, tối thượng thắng hết.
Đối với các trí ấy nghi hoặc không tin, song vẫn còn tin
tội phúc và tu tập gốc thiện. Người này khi sinh An
Lạc, sẽ sinh vào cung điện bảy báu của nước An Lạc, hoặc
rộng lớn trăm do tuần, hoặc năm trăm do tuần.
Mỗi vị ở trong ấy hưởng thọ các khoái
lạc như trời Đao Lợi. Và cũng đều tự nhiên trong
khoảng năm trăm năm luôn không thấy Phật, không nghe kinh
pháp, không thấy thánh chúng Bồ Tát Thanh Văn. Cõi nước An
Lạc gọi đó là biên địa, cũng nói là thai sinh. Biên địa là
vì nói họ trong năm trăm năm không thấy hay nghe đến Tam
bảo, nghĩa này cũng đồng với nạn biên địa, hoặc cũng là do
ở tại biên giới tối cùng của cõi nước An Lạc. Thai sinh là
ví như người do thai sinh, lúc mới sơ sinh chưa thành nên
pháp cách con người. Biên địa là nói cho nạn của người ấy,
thai sinh là nói cho sự tối ám
của người ấy. Hai tên này đều là mượn cái này so sánh với
cái kia vậy, chứ không phải là
biên địa thuộc tám nạn, cũng không phải là thai sinh thuộc
bào thai. Do đâu mà biết? Bởi cõi nước An Lạc duy chỉ hóa
sinh mà thôi, nên biết không phải thật là
thai sinh. Bởi năm trăm năm sau
còn được nghe thấy Tam Bảo, nên biết không phải là biên địa
thuộc tám nạn vậy.
Hỏi rằng: Người
thai sinh kia ở cung điện bảy
báu có hưởng thụ khoái lạc không? Lại
nhớ tưởng được những gì?
Đáp rằng: Kinh ví dụ rằng: Ví
như con của vua Chuyển Luân đắc tội với vua, cho vào trong
hậu cung, dùng khóa vàng gài lại.
Tất cả mọi thứ cung cấp không thiếu thứ
gì, cũng y như vua. Vương tử lúc
ấy tuy có đủ loại đồ dùng tuyệt hảo để tự vui thú, song tâm
không thọ lạc mà chỉ tưởng nghĩ tìm các phương tiện mong
sao được ra khỏi. Người thai
sinh kia cũng y như vậy. Tuy ở nơi cung điện bảy báu có sắc,
hương, vị, xúc tốt đẹp, song không lấy đấy làm lạc, mà chỉ
không thấy Tam Bảo, không được cúng dường tu các gốc thiện,
lấy đó làm khổ. Rõ được do tội của mình, hết lòng tự hối
trách, cầu lìa chốn kia, liền
được như ý, lại đồng với ba hạng sinh kia. Song phải cuối
năm trăm năm kia mới biết hối
tội vậy.
Hỏi rằng: Do tâm nghi hoặc vãng
sinh An Lạc thì gọi là thai sinh.
Tại sao lại khởi nghi?
Đáp rằng: Trong kinh chỉ nói
nghi hoặc không tin, chứ không đưa ra tại sao lại có ý nghi.
Xét theo chỗ hiểu rõ năm câu,
thời dám lấy nghĩa đối trị để mà nói.
Không rõ trí Phật (Phật trí) nghĩa là không thể tin hiểu
trí biết tất cả chủng loại của Phật. Do không biết
nên khởi nghi. Một câu này trình bày
tóm mọi điều nghi. Bốn câu sau
mỗi câu đối trị các điều nghi. Nghi có bốn ý:
- Một là nghi rằng chỉ niệm tưởng Phật
A Di Đà chưa chắc được vãng sinh
An Lạc. Tại sao nghi như vậy? Kinh có nói: Nghiệp đạo như
bàn cân, cái nặng kéo trước. Tại sao mà một đời hoặc trăm
năm, hoặc mười năm, hoặc một tháng, không ác nào không làm,
mà chỉ do mười niệm tương tục là được vãng sinh, nhập ngay
vào chính định tụ, rốt cuộc không thối chuyển, vĩnh viễn
cách xa các khổ của ba nẻo được? Nếu quả thật như thế, thì
cái nghĩa cân nặng kéo trước còn gì đáng tin nữa? Lại bao
kiếp đến nay đều tạo các pháp hữu lậu thuộc hành, hệ thuộc
vào ba cõi, mà chỉ cứ dùng một thời gian niệm Phật
A Di Đà là ra khỏi ba cõi được?
Ý nghĩa nghiệp trói buộc tại sao phải
cần nữa. Do đối trị ý nghi này nên mới nói trí không
thể suy lường (bất tư nghị trí). Trí
không thể suy lường nghĩa là trí lực của Phật có thể lấy ít
làm nhiều, lấy nhiều làm ít, lấy gần làm xa, lấy xa làm gần,
lấy nhẹ làm nặng, lấy nặng làm nhẹ, lấy dài làm ngắn, lấy
ngắn làm dài. Do như thế Phật trí vô lượng vô biên
không thể suy lường. Ví như trăm người phu trong trăm năm
chất củi chứa cao đến ngàn nhận, đốm lửa bằng hạt đậu đốt
trong nửa ngày là tận. Không lẽ có thể nói được rằng củi
chứa trong trăm năm đốt nửa ngày không tận sao? Lại như
người đi bộ quá giang thuyền người khác, nhân thế lực của
gió buồm, một ngày đi đến ngàn dặm, không lẽ có thể nói
được rằng người đi bộ kia tại
sao một ngày mà đi đến ngàn dặm chăng?
Lại như người hạ tiện bần cùng được một vật quý đem cống
hiến chủ. Chủ cũng mừng được vật
quý, thêm phần trọng thưởng. Kẻ bần cùng
kia chỉ cần chốc lát phú quý
tràn đầy. Không lẽ lại nói được rằng do có thể mấy chục năm
mà người ta chịu đủ mọi siêng khổ, và người nào người nấy
còn chưa thành đạt vinh quy rồi có thể nói kẻ bần cùng
kia mà mau lẹ trở thành phú quý,
không thể có chuyện như thế được? Lại như kẻ yếu tự
leo lên lưng lừa còn chưa nổi,
nhưng đi theo vua Chuyển Luân liền cưỡi hư không mà bay
bổng tự nhiên, lại có thể do kẻ yếu leo lừa không nổi rồi
cho rằng chắc chắn kẻ ấy không thể cưỡi hư không mà bay hay
sao? Lại như dây tơ mười ngàn người cũng không làm gì nổi,
đứa bé con vung kiếm nháy mắt thành hai phần. Không lẽ có
thể nói được là sức một đứa bé không thể cắt đứt dây tơ hay
sao? Lại như chim Trậm nhào vào nước, cá sò đều vì vậy mà
chết, sừng tê giác chạm vào bùn lầy, các loài bị chết
kia đều sống dậy.
Không lẽ có thể nói được là tính mệnh
đã đoạn không thể sống lại hay sao? Lại như Hoàng
Hộc gọi “Tử An”, Tử An sống lại.
Không lẽ có thể nói được là dưới mộ
ngàn năm chắc chắn không thể sống lại được sao?
Tất cả vạn pháp đều
có tự lực, tha lực, tự nhiếp, tha nhiếp, ngàn mở vạn đóng
vô lượng vô biên. Làm sao lại đem cái thức có ngại
ra mà nghi pháp vô ngại kia được
sao? Lại trong năm cái không thể suy lường, Phật pháp là
không thể suy lường hơn hết, mà xem cái ác trăm năm làm
trọng, nghi mười niệm niệm Phật cho là nhẹ, không thể được
vãng sinh An Lạc nhập tụ chính định, điều nghi này quả thật
không đúng.
Hai là nghi trí
Phật so với người không phải là thâm tuyệt.
Tại sao nghi như vậy? Thường thì
tất cả danh tự do đối đãi với nhau mà sinh. Giác trí do
không giác mà sinh, như thế mê hướng do nhớ hướng mà sinh.
Nếu cứ mê là tuyệt hẳn không mê, thì mê
rốt cuộc phải là không tỏ. Mê
nếu có thể tỏ, ắt là người mê tỏ, và cũng có thể nói ngược
lại là người tỏ mê. Mê và tỏ, tỏ và mê như bàn
tay ngửa úp vậy. Thế mới có thể
nói sáng trí tối trí khác nhau, và cũng vì thế nên siêu
nhiên thế nào được đây? Do khởi lên nghi này, nên đối với
trí huệ Phật sinh nghi không tin. Đối
trị nỗi nghi này nên nói trí không thể sánh bằng (bất khả
xứng trí). Trí không thể sánh
bằng là nói trí Phật tuyệt hết mọi so sánh giảng nói, chẳng
phải do hình tướng mà đối đãi được. Do đâu mà nói
vậy? Nếu pháp là có, ắt phải có cái trí
biết có. Pháp nếu là không có,
cũng phải có cái trí biết không có.
Nay các pháp lìa khỏi có và không có.
Cho nên Phật thầm khế các pháp, ắt trí
của Ngài dứt hết đối đãi với nhau.
Ông đưa tỏ mê ra ví dụ, vẫn là thêm một
lẽ mê nữa mà thôi, chứ không thành được lẽ mê tỏ.
Cũng như trong mộng giúp người khác
giải mộng, tuy nói là giải mộng mà chẳng phải là không có
mộng. Lấy cái biết để cho đó là
Phật thì không thể nói là biết Phật được. Lấy cái
không biết để cho đó là Phật cũng không phải là biết Phật.
Lấy cái không phải biết cũng không phải là không biết cũng
không phải là không biết để cho đó là Phật, cũng không phải
là biết Phật. Lấy cái không phải là không biết cũng không
phải là không phải không biết để cho đó là Phật, cũng không
phải là biết Phật. Trí Phật lìa bốn câu này, nếu muốn duyên
vào trí Phật thời tâm hành lại diệt, nếu muốn loại bỏ trí
Phật thời ngôn ngữ lại đoạn. Do ý nghĩa ấy, Thích Luận nói
rằng: “Nếu người nào thấy là có Bát Nhã, như thế cũng là
bị ràng buộc, nếu không thấy Bát Nhã, như thế cũng là bị
ràng buộc. Nếu người nào thấy Bát Nhã, như thế ắt là giải
thoát, nếu không thấy Bát Nhã, như thế cũng là giải thoát”.
Điều này trong kệ có nói: Không lìa bốn cú ấy là ràng buộc,
lìa bốn câu ấy là giải thoát. Ông nghi
trí Phật so với trí con người không phải là thâm tuyệt,
điều nghi ấy không đúng.
Ba là nghi Phật
thật sự không thể độ hết tất cả chúng sinh.
Tại sao nghi như vậy? Trong đời
quá khứ đã có vô lượng A-tăng-kỳ hằng
sa chư Phật, hiện tại trong các thế giới ở khắp mười
phương cũng có vô lượng vô biên A-tăng-kỳ hằng sa chư Phật.
Nếu giả sử Phật thật sự có thể độ hết tất cả chúng sinh, ắt
phải không còn có ba cõi từ lâu rồi. Vị
Phật thứ hai ắt không phải vì chúng sinh mà phát tâm Bồ Đề,
trọn tu Tịnh Độ nhiếp thọ chúng sinh. Song thật có
các Phật thứ hai nhiếp thọ chúng sinh, cho đến thật có vô
lượng chư Phật trong ba đời mười
phương nhiếp thọ chúng sinh. Cho nên đủ
biết Phật thật sự không thể độ hết tất cả chúng sinh.
Do khởi lên nghi ấy, nên đối với Phật A
Di Đà có tư tưởng cho là Phật có lượng.
Vì đối trị nỗi nghi này nên nói trí Đại Thừa rộng lớn (Đại
Thừa quảng trí). Trí Đại Thừa
rộng lớn là nói Phật không pháp nào không biết, không phiền
não nào không đoạn, không thiện nào không có đủ, không
chúng sinh nào không độ. Lý do có ba đời mười phương
các vị Phật là do có năm nghĩa:
- Một là nếu quả là không có Phật thứ
hai, cho đến không có A-tăng-kỳ hằng sa
chư Phật, thì Phật mới thật là không thể độ hết tất cả
chúng sinh. Do Phật thật sự có thể độ hết tất cả chúng sinh
nên ắt là có mười phương vô lượng chư
Phật. Vô lượng chư Phật chính là các chúng sinh do Phật
trước độ.
- Hai là nếu một Phật mà độ tận tất cả
chúng sinh thì cũng không cần sau còn có Phật nữa.
Tại sao vậy? Do không còn có ý
nghĩa giác ngộ cho kẻ khác thì y vào nghĩa nào nữa để nói
có ba đời chư Phật vậy? Do y vào
nghĩa giác ngộ người khác nên nói Phật này Phật khác đều độ
hết tất cả chúng sinh.
- Ba là Phật sau mà có thể độ được
chúng sinh thì vẫn còn là cái sức có thể của Phật trước.
Tại sao vậy? Vì do Phật trước
mới có Phật sau. Ví như áo giáp của đế vương được truyền
cho vua sau khoác, tức chính là do sức có thể của vua trước.
- Bốn là lực của Phật tuy có thể độ tất
cả chúng sinh, song cần phải có nhân duyên.
Nếu chúng sinh với Phật trước không có
nhân duyên thì lại phải cần tới Phật sau. Như thế
các chúng sinh không có duyên thì thẳng qua trăm ngàn vạn
Phật mà cũng không nghe không thấy, không phải do lực Phật
yếu kém vậy. Ví như nhật nguyệt xoay quanh bốn thiên hạ phá
các tối ám, song người mù lại không thấy, không phải mặt
trời không sáng vậy. Sấm nổ rung
tai mà kẻ điếc không nghe, không phải là âm thanh không dữ
dội vậy. Giác ngộ các lý nhân duyên, thì được gọi là Phật,
nếu do tình thức cưỡng ép vi
phạm lý nhân duyên thì không phải là chính giác vậy.
Cho nên chúng sinh vô lượng, thì Phật
cũng vô lượng. Đã nói đến Phật thì đừng có hỏi có
duyên hay không có duyên tại sao không độ hết tất cả chúng
sinh. Hỏi thế là lời nói phi lý vậy.
- Năm là chúng sinh nếu độ tận, thế
gian sẽ đọa vào bên có (hữu biên).
Do ý nghĩa ấy ắt có vô lượng Phật độ
tất cả chúng sinh.
Hỏi rằng: Nếu chúng sinh không
thể độ tận thì thế gian phải là đọa vào không có (vô biên).
Do bên không có (vô biên) ắt Phật thực sự không thể độ hết
chúng sinh.
Đáp rằng: Thế gian chẳng phải bên có (hữu
biên), chẳng phải bên không có (vô biên), và cũng tuyệt hẳn
bốn câu. Phật làm cho chúng sinh lìa
bốn câu này, thì gọi là độ. Thật
ra không phải độ cũng không phải không độ, không phải tận
cũng không phải không tận. Ví như mộng vượt qua biển
lớn, gặp các nạn sóng gió, người nằm mộng
kia sợ hãi, kêu ra thành tiếng,
người bên ngoài gọi dậy thời bình thản hết lo sợ, song đó
chỉ là vượt qua mộng chứ không phải vượt qua sông biển.
Hỏi rằng: Dù nói độ hay không độ
đều đọa vào biên kiến. Cớ sao chỉ nói
độ tất cả chúng sinh là trí Đại thừa rộng lớn mà không nói
là không độ chúng sinh là trí Đại thừa rộng lớn?
Đáp rằng: Chúng sinh không ai
không chán khổ cầu sướng, sợ trói buộc cầu thoát, nên nghe
có độ sẽ quy hướng về đó. Nếu nghe
không độ thì vì không biết cớ gì không độ, sẽ cho là Phật
không phải đại từ bi, ắt không chịu quy hướng về Phật.
Do không quy hướng nên thiếp mãi trong mộng dài, không cách
gì ngưng dứt. Vì những người ấy nên hay nói độ chứ không
nói không độ. Lại nữa Chư Pháp Vô Hành Kinh cũng nói:
“Phật không đắc Phật đạo, cũng không độ chúng sinh”.
Phàm phu khăng khăng phân biệt nào là
Phật, nào là độ chúng sinh. Nói
độ chúng sinh là đối trị tất đàn, nói không độ chúng sinh
là đệ nhất nghĩa tất đàn. Hai
cách nói đều có lý lẽ riêng, không mâu thuẫn với nhau.
Hỏi rằng: Như mộng dứt được, đó
không phải là độ sao? Nếu giấc mộng của
tất cả chúng sinh đều dứt, thế gian không lẽ không tận sao?
Đáp rằng: Nói mộng là thế gian,
nếu mộng dứt ắt không có người mộng.
Nếu không có người mộng thì cũng không nói có người được độ
nữa. Như thế thời biết thế gian
tức là xuất thế gian. Tuy độ vô
lượng chúng sinh mà sẽ không đọa vào điên đảo.
Bốn là nghi Phật
không có trí biết tất cả chủng loại (nhất thiết chủng trí).
Tại sao nghi như vậy?
Vì nếu có thể biết khắp các pháp, thì
các pháp lại đọa vào bên có (hữu biên).
Vì nếu không thể biết được khắp, ắt
không phải là trí biết tất cả chủng loại. Do đối trị
nghi này nên nói trí không gì bằng không gì sánh là tối
thượng trên hết (vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí).
Trí không gì bằng không gì sánh tối
thượng trên hết là trí phàm phu hư vọng, so với trí Phật
như thật. Hư và thật khác rất
sâu xa, về lý không bằng nhau được nên nói không gì bằng.
Thanh Văn, Bích Chi Phật muốn có cái biết này phải nhập
định mới biết, ra khỏi định là vẫn không biết.
Lại biết của Thanh Văn Bích Chi cũng có
hạn. Phật đắc tam muội như thật,
thường ở nơi định thâm sâu, song lại chiếu biết khắp các
pháp là hai và không có hai.
Pháp thâm sâu không gì sánh tầy, nên nói không gì sánh.
Bồ Tát từ địa thứ tám trở lên tuy đắc báo sinh tam muội
dụng công không cần phải ra vào, song tập khí tích tập nhỏ
nhiệm nên tam muội không cực sáng sạch.
Đem so sánh với trí Phật vẫn còn là có cái trên nữa.
Trí Phật đoạn gồm đủ như pháp mà chiếu.
Do pháp vô lượng, chiếu cũng vô lượng.
Ví như hộp lớn thì nắp đậy cũng lớn.
Nên nói là tối thượng. Ba câu
này cũng có thể tuần tự theo
nhau mà thành. Do vì trí Phật không gì bằng, cho nên không
gì sánh. Do không gì sánh nên tối thượng thắng hết.
Cũng có thể tối thượng thắng hết nên
không gì bằng. Do không gì bằng nên không gì sánh.
Chỉ cần nói không gì bằng (vô đẳng) là
đủ rồi, cần gì phải đến hai câu dưới nữa?
Như trí của Tu Đà Hoàn không bằng được
với trí của A La Hán, các kiểu nói như thế. Địa ban
đầu đến địa thứ mười cũng như vậy, trí tuy không bằng, song
không phải là không sánh được. Tại sao
như vậy? Do không phải là tối thượng.
Ông biết đem bên có, bên không có ra
vặn hỏi, mà còn nghi Phật là không phải bậc biết tất cả (nhất
thiết trí), sự thể (nghi ngờ) này không đúng vậy.
Hỏi rằng: Trong hạng hạ sinh,
nói là mười niệm tương tục là được vãng sinh.
Thế nào gọi là mười niệm tương tục?
Đáp rằng: Ví như có người, trong
đồng trống quay về gặp giặc cướp, tuốt đao hung
hăng, xông lại muốn giết.
Người này ra sức chạy, thấy có con sông
phải qua. Nếu qua được con sông thì đầu cổ mới toàn.
Lúc ấy chỉ tưởng phương tiện qua sông
“ta đến bờ sông để áo mà qua hay cởi áo mà qua?
Nếu để nguyên áo sợ không qua được, nếu
cởi áo ra sợ không kịp giờ”. Chỉ
có niệm ấy không duyên gì hết. Một niệm sao để sang
sông, chính là một niệm ở đây vậy. Cứ
như thế tâm không tạp, thì gọi là mười niệm tương tục.
Hành giả cũng vậy, niệm Phật A Di Đà như người kia niệm qua
sông, trải qua mười niệm, hoặc niệm danh tự của Phật, hoặc
niệm tướng tốt của Phật, hoặc niệm trí tuệ của Phật, hoặc
niệm bổn nguyện của Phật, không có tâm khác xen vào, tâm
tâm tiếp nối cho đến mười niệm, gọi là mười niệm tương tục.
Thoạt nói mười niệm tượng tục tựa như
không có gì khó. Song phàm phu
tâm như ngựa đồng (dã mã), thức quá khỉ vượn, đuổi bắt sáu
trần, không tạm ngừng nghỉ. Cần
phải dốc tín tâm tự cố khắc niệm, sẽ tích tập thành tính,
nhờ thế thiện căn kiên cố vậy. Như Phật bảo vua Tần
Bà Sa La, con người tích chứa
thiện hạnh, đến chết không có niệm ác, như cây ngả về hướng
Tây, ắt đổ tùy khúc. Nếu lại gặp gió
đao mà đến thời trăm khổ đổ về thân.
Nếu nghiệp tập trước không có đó thì
nói gì đến nhớ niệm. Lại cần
phải năm ba vị đồng chí hướng cùng tóm kết cái ngôn yếu của
đạo. Ngay lúc bạn lâm chung, thay phiên giảng rõ cho,
rồi vì người sắp chết đó mà xưng danh hiệu Phật A Di Đà,
nguyện sinh An Lạc, tiếng tiếng tiếp nối, làm thành mười
niệm vậy. Ví như ấn các ấn bằng sáp vào
bùn, ấn hư mà văn thành. Khi
mạng người này mất chính là lúc sinh về An Lạc, một phen
vào chính định thì còn âu lo gì nữa vậy.
Lược Luận
An Lạc Tịnh Độ Nghĩa hết