|
1. Dạy Pháp Nguyên
Công phu Niệm Phật chỉ quý ở
tín tâm chân thật. Thứ nhất phải tin rằng: Ta là Phật chưa
thành, Di Ðà là Phật đã thành, thể vốn không hai. Kế đó, tin
Sa Bà thật sự là khổ, An Dưỡng đích xác đáng quay về, ưa -
chán rành rành. Tiếp đó, tin mỗi một hành động hiện tại đều
có thể hồi hướng về Tây Phương. Nếu chẳng hồi hướng, dù là
thượng phẩm thiện vẫn chẳng thể vãng sanh. Nếu biết hồi
hướng, dẫu trót lầm gây hạnh ác, nhưng nhanh chóng dứt tâm
tương tục (1), khởi lòng trân trọng sám hối; nhờ sức sám hối
cũng được vãng sanh. Huống là trì giới, tu phước, bao nhiêu
nghiệp thù thắng, há chẳng đủ để trang nghiêm Tịnh Ðộ ư?
Chỉ vì tín lực chẳng sâu nên
thắng nghiệp chìm trong hữu lậu, lại muốn bỏ pháp này để
chọn pháp khác, lầm lạc lắm thay! Chỉ nên tăng thêm lòng tin
chân thành, chẳng cần phải thay đổi hết thảy các hạnh nghiệp
vậy.
2. Dạy Vương Tâm Quỳ
Kinh
Pháp Hoa đã ân cần khen ngợi phương tiện. Phải biết rằng có
phương tiện thế gian: bố thí, ái ngữ, hiếu, đễ (2), trung,
tín v.v...; có
phương tiện xuất thế gian là các pháp môn: Khổ, Không, Vô
Thường, Vô Ngã, Bất Tịnh, Sổ Tức, Nhân Duyên, Viễn Ly, Tri
Túc v.v... Còn có phương tiện xuất thế thượng thượng: Thập
Ba La Mật, Tứ Nhiếp, Tứ Biện, tám vạn bốn ngàn tam muội tổng
trì v.v...
Lại còn có phương tiện thù
thắng khác lạ chẳng thể nghĩ bàn: tin trong tự tánh ta thực
sự có đức A Di Ðà Như Lai hiện thành Phật đạo ở Tây Phương,
ở ngay trong tâm ta thực sự có thế giới Cực Lạc trang nghiêm.
Tin sâu, nguyện rộng, quyết chí vãng sanh. Chẳng những các
phương tiện thượng thượng chỉ là tư lương của nó, mà hết
thảy các phương tiện dù là thế gian, xuất thế gian, không gì
chẳng phải là pháp phụ trợ cho việc vãng sanh mà thôi. Pháp
môn này chính là thủ đoạn để điểm sắt hóa vàng, chẳng cần
phải trải qua A Tăng Kỳ kiếp, chóng đạt lên Bất Thoái, bặt
danh nghĩa, tuyệt đối đãi vậy.
3. Dạy Tĩnh Văn
Hương Sơn đến tham phỏng ngài Ô
Sào, Ngài bảo thẳng rằng: “Ðừng làm các điều ác, vâng giữ
các điều lành”. Ðứa trẻ lên ba cũng nói được, ông già
tám mươi làm chửa xong. Trước đây, chư tổ chỉ điểm pháp
thoát ly sanh tử tối giản dị, tối minh bạch, bất tất phải vẽ
vời huyền diệu... Những năm đầu Mã Tổ chỉ nói: “Tức tâm
thành Phật. Nếu thực sự biết là tức tâm thành Phật thì tự
nhiên chẳng làm các điều ác, vâng giữ các điều thiện. Nếu
quả thật chẳng làm các điều ác, vâng giữ các điều thiện thì
liền biết tức tâm thành Phật”.
Vì thế, biết rằng: Muốn ngộ
“tức tâm thành Phật” thì phải trì giới, niệm Phật. Trì giới
thanh tịnh, niệm Phật thiết tha, trần cấu tự trừ, quang minh
tự hiện. Kệ rằng:
Trì giới tiện thị bình tâm,
Niệm Phật tiện thị trực hạnh,
Tham đắc cá điểm huyền quan,
Bất đồng bát vu thảo bính,
Nhược tiện giả, dã, chi, hồ,
Thất khước Phật, Tổ tánh
mạng!
(Tạm dịch:
Trì giới là để tâm bình,
Niệm Phật là
hạnh để mình tu thân,
Lẽ mầu dù ngộ
một phần,
Chẳng bằng tu
tập tinh thuần đó thôi,
Cứ luận giáo
nghĩa xuông hoài,
Tánh mạng Phật,
tổ mất rồi còn đâu!)
4. Dạy Quách Thiện Hữu
Biển cả Phật
pháp, lấy Tín để vào, lấy Trí để chứng. Nếu có tín tâm nhưng
thiếu trí huệ, chỉ e khó tránh phân vân đôi ngả. Phật dạy:
“Ðời mạt đấu tranh kiên cố, ức ức người học đạo, hiếm có
một người chứng quả. Chỉ nương vào niệm Phật cầu sanh Tịnh
Ðộ, mới có thể vượt ngang ra khỏi luân hồi”. Nếu tin
tưởng sâu xa niệm Phật, lễ bái là cái nhân chân chánh để
thành Phật, thành Tổ thì đích xác là chẳng bị giòng đời xoay
chuyển, lại còn là trí huệ đại quang minh, vượt thẳng lên
Tịnh Ðộ, vĩnh viễn chẳng sợ bị lạc đường nữa.
5. Dạy Tống Dưỡng Liên
Hai câu “Tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ”,
đời tranh nhau truyền tụng, nhưng chẳng biết thế nào là tâm
tánh. Ôi, Tánh không có đạo lý, nhưng không gì là chẳng
thuộc trong Tánh. Vì thế, đấng Ðạo Sư đã thành Phật từ mười
kiếp chẳng ở ngoài Tánh.
Tâm không duyên
ảnh, nhưng không gì chẳng đủ. Vì thế, cõi Cực Lạc cách xa
mười vạn ức cõi Phật thật sự ở trong tâm.
Bởi Di Ðà tức
là tự tánh Di Ðà nên chẳng thể không niệm. Bởi Tịnh Ðộ chính
là duy tâm Tịnh Ðộ nên chẳng thể không sanh về.... Trên thì
từ Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Thiên Thân, dưới
thì đến các loài ngọ nguậy, bay, bò, loài có vẩy, lũ có
lông, chỉ có mỗi sự này.
Ðối với sự này
thì điều thứ nhất là phải tin đến cùng cực, thứ hai là phải
luôn luôn phát nguyện, ba là công phu niệm Phật đừng gián
đoạn. Ðủ ba điều này thì kẻ thậm ngu cũng được vãng sanh.
Thiếu ba điều này dù thông minh lanh lợi cũng chẳng được
sanh. Ai báng pháp này chính là báng tam thế chư Phật, Bồ
Tát. Trên đảnh Tỳ Lô trở thành tầng thấp nhất ngục của A Tỳ
(3). Buồn thay!
6. Dạy Lục Dụ Liên
Siêu sanh thoát
tử nhưng bỏ qua pháp môn Tịnh Ðộ thì quyết chẳng còn phương
tiện hoành siêu, thẳng chóng nào khác nữa. Nhưng [muốn] sanh
về Tịnh Ðộ mà bỏ pháp Niệm Phật thì chắc chắn chẳng còn công
phu “vạn người tu, vạn người đậu” nào nữa! Gần đây, kẻ manh
Thiền (4) lầm bảo chẳng cần phải niệm Di Ðà, chẳng cần sanh
Tịnh Ðộ. Bướng bỉnh, mù quáng, hung hăng, sa hầm, sụp hố.
Ôi, đêm lúc sắp ngủ, gối chiếu xộc xệch, còn phải xếp lại
cho ngay. Ba cõi như nhà cháy nhưng chẳng nghĩ xuất ly há có
được chăng?
Nếu buông tuồng
đáp: “Tôi làm chủ được tâm, nơi này chính là cõi Tịch Quang”
thì sao chẳng bảo: Chửi rủa nặng nề chính là khen ngợi, đánh
đập tàn nhẫn chính là cúng dường, phẩn uế chính là chiên
đàn, trát tro chính là cung trời, điện báu? Vẫn chưa thể
nuốt phân nằm tro thì nhất quyết chẳng thể sanh về Tịnh Ðộ
được. Dù có làm được như vậy thì cũng chỉ giống như heo lợn,
gà, chó mà thôi!
Sao bằng già giặn, chắc thật niệm Phật, lấy
Tín dẫn đường, lại phải phát nguyện chóng ngự lên chín phẩm
đài sen, cùng Quán
Âm, Thế Chí,
Hải Chúng làm quyến thuộc! Ngó lại kẻ ác kiến tà thiền trống
rỗng, mượn hư danh Tổ Sư vênh váo một thời, đọa nỗi khổ thực
sự: kéo lưỡi trâu cày trong vạn kiếp, khác gì mây sánh với
bùn! Bất luận tán tâm, định tâm, chỉ khắc định khóa trình,
trọn đời chẳng khuyết, mỗi ngày càng thêm siêng gắng, thiết
tha thì hoa nhụy cõi Tịnh Ðộ ngày càng tươi tốt thêm!
7. Dạy ưu-bà-di Tịnh Kiên
Người cực thông
minh lại bị thông minh làm cho lầm lạc, cho nên chẳng thể
niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Trái lại, kẻ ngu, đàn bà chịu
chán nỗi khổ Sa Bà, sâu xa cầu xuất ly. Thế mới biết rằng:
Kẻ thông minh kia đúng là ngu si, còn người ngu si đây lại
chính là đại trí huệ. Tốt xấu dễ phân, chớ tự lầm lẫn!
Thường thấy
những kẻ dốt nát, dối trá, đại ngôn, dối đời giả danh thiện
tri thức, gặp kẻ tiều phu, nông phụ ngu độn, chất phác cũng
dạy tham thiền, đẩy qua kéo lại, rồi tự vỗ tay. Những người
chất phác ấy lầm tưởng là thật, phá hoại thiện căn. Rốt cục,
tham thiền tham chẳng tới, niệm cũng niệm chẳng thuần, chỗ
đặt chân chẳng ổn, tâm tình bàng hoàng. Ôi! Chẳng đáng thảm
sao!
Tôi khuyên bà:
Nhằn đinh, nhai sắt, tin chắc vào Tây Phương, phát nguyện
khẩn thiết, trì giới, tu phước để hỗ trợ. “Không Thiền có
Tịnh Ðộ, vạn người tu vạn người đắc, chỉ cần thấy Di Ðà, lo
gì không khai ngộ”. Ðấy là lời phán định ngàn đời [đúng
thật], bà chớ nên nghi. Hạng tà sư không biết xấu hổ kia dám
vu báng thánh hiền đời trước, dám tự tiện thay đổi, chỉ càng
lộ rõ ác kiến của họ mà thôi. Sao lại dám thay đổi lời phán
định của cổ nhân!
8. Dạy Phương Nhĩ Giai
Pháp môn Niệm Phật tuy bao trùm tám giáo,
thâu trọn vô lượng trăm ngàn tam muội, nhưng cách thực hiện
lại rất thẳng tắt, nhanh chóng. Hễ niệm tướng hảo, niệm pháp
môn, niệm Thật Tướng v.v... thì trước hết phải khai giải
thật sự, rồi mới tu tập, muôn phần không còn chút nghi tình
nơi lý nữa. Riêng mình pháp
môn Trì Danh đây, chỉ hâm mộ là tu được ngay, chẳng dùng đến
ba tâm, hai ý.
Tin sâu Tịnh Ðộ
thì sanh, phát nguyện quyết định vãng sanh, lấy Trì Danh làm
Chánh Hạnh, lấy Lục Ðộ v.v... làm Trợ Hạnh. Vạn người tu,
vạn người vãng sanh, tuyệt đối bảo đảm. Nếu tâm còn một điểm
háo thắng, tu lấn sang Tham Cứu, cho là “hướng thượng” thì
chỗ đặt chân chẳng ổn, mất cả Thiền lẫn Tịnh! Là bậc trí thì
chẳng thể không quyết đoán chỗ mình toan hướng đến!
9. Dạy Lưu Kim Ðộ
Trong ba hạng
người thuộc Thượng Phẩm Thượng Sanh, đầu tiên là “từ tâm
bất sát, đủ các giới hạnh”. Bởi lẽ, Giới thống lãnh vạn
hạnh, thế nhưng từ tâm chẳng giết lại là điều cần phải làm
trước tiên trong Giới. Dùng những điều này phát trọn vẹn ba
tâm thì cõi nào lại chẳng tịnh? Ba tâm là:
- Trực tâm
chánh niệm Chân Như thì gọi là Chí Thành Tâm, hiển Pháp Thân
đức.
- Thích chứa
góp hết thảy công đức thì gọi là Thâm Tâm, hiển Bát Nhã đức.
- Thệ nguyện
sâu rộng vô tận, gọi là Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm, hiển Giải
Thoát đức.
Giới cũng có ba
loại:
- Nhiếp Luật
Nghi Giới: không ác nào chẳng đoạn, tức là thành Pháp Thân.
- Nhiếp Thiện
Pháp Giới: không thiện nào chẳng viên mãn, tức là thành Bát
Nhã.
- Nhiêu Ích Hữu
Tình Giới: không chúng sanh nào chẳng độ, tức là thành Giải
Thoát.
Từ cũng có ba:
- Sanh Duyên
Từ: chẳng sát sanh, duyên quán hết thảy chúng sanh đều là
cha mẹ, anh em, lục thân quyến thuộc của mình.
- Pháp Duyên
Từ: chẳng sát pháp, duyên quán hết thảy địa, thủy đều là
thân đời trước của mình, hết thảy hỏa, phong đều là bản thể
của mình.
- Vô Duyên Từ:
chẳng chấp Ngã, duyên quán hiện tiền nhất niệm Phật tánh
không chỗ nào chẳng hiện hữu, mười phương tam thế hữu tình
vô tình đồng một giác thể, không hai, không khác.
Niệm niệm tu ba
lòng Từ này liền tịnh Tam Tụ. Tam Tụ Giới đã tịnh thì liền
đầy đủ ba tâm, đắc Thượng Phẩm Thượng Sanh không còn ngờ gì
nữa!
Hơn nữa, nếu
quán hạnh tam tâm thì sanh vào Thượng Phẩm Phàm Thánh Ðồng
Cư Ðộ. Nếu tương tự tam tâm thì sanh trong Thượng Phẩm
Phương Tiện Hữu Dư Ðộ. Nếu chứng được một phần Tam Tâm thì
sanh trong Thượng Phẩm Thật Báo Trang Nghiêm Ðộ. Rốt ráo tam
tâm thì sanh trong Thượng Phẩm Thường Tịch Quang Ðộ. Ngài
Vĩnh Gia nói: “Ai vô niệm, ai vô sanh. Nếu thực vô sanh
thì là vô bất sanh”. Kinh Kim Cang dạy: “Hãy đừng trụ
vào đâu cả để sanh tâm”, “Hết thảy hiền thánh đều do pháp vô
vi mà có sai biệt” là nói về ý này.
10. Dạy Huyền Trứ
Phật tri, Phật
kiến chẳng là gì khác, chỉ là nhất niệm tâm tánh hiện tiền
của chúng sanh mà thôi. Hiện tiền nhất niệm tâm tánh vốn
chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng
thuộc vào tam thế, chẳng thể dùng tứ cú để diễn tả được (5).
Chỉ vì chẳng chịu quán sát kỹ càng, lầm nhận bóng dáng của
lục trần là tướng của tự tâm nên tạo thành tri kiến của
chúng sanh.
Nếu quán sát tỉ mỉ tri kiến chúng sanh ấy thì
nó chẳng ở trong các nơi: trong, ngoài, trung gian, chẳng
thuộc ba đời, chẳng rớt vào tứ cú, thì bản thể của tri kiến
chúng sanh vốn là tri kiến của kiến của Phật vậy. Nếu như
chẳng thể tin nhận ngay điều này cũng chớ khởi nghi tình,
cũng như đừng uổng công đảm đương, chỉ nên
thâm tâm trì
giới, niệm Phật. Nếu trì đến thanh tịnh, niệm đến mức thân
thiết, bỗng tự nhiên tin nhận, như thường nói: “Lại dùng
phương tiện khác để giúp Ðệ Nhất Nghĩa hiển lộ”. Gậy này
đập vào đầu người đá, dãi dầu luận chuyện thực. Nếu muốn
“chi, hồ, giả, dã” (6), tốn nước dãi [luận chuyện] các nơi
thì tôi chẳng biết đến. Kệ rằng:
Chúng sanh
tri kiến, Phật tri kiến,
Như thủy kết
băng, băng hoàn hãn,
Giới lực
xuân phong, Phật nhật huy,
Hoàng hà
sách thanh chấn lưỡng ngạn,
Thiết mạc si
cuồng hướng ngoại cầu,
Triệt ngộ y
nhiên đảm bản hán.
(Tạm dịch:
Tri kiến chúng
sanh, tri kiến Phật,
Như nước đóng
băng, băng lại tan,
Gió xuân Giới
lực, Phật nhật rạng,
Băng sông Hoàng
nứt rền hai bờ,
Chớ có si cuồng
cầu bên ngoài,
Ngộ rồi, vẫn
như kẻ ngốc nghếch).
Xem Tiếp
|