|
NIỆM PHẬT SINH TỊNH ĐỘ
THÍCH THÁNH NGHIÊM
Người dịch : THÍCH CHÂN TÍNH
Tiểu sử Hòa thượng Thích Thánh
Nghiêm
Pháp sư Thánh Nghiêm sinh năm
1930 tại Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc. Năm 1943 ngài xuất
gia tu học tại chùa Quảng Giáo, núi Long Sơn, Nam Thông. Năm
1975, ngài tốt nghiệp Tiến sĩ văn học tại Đại học Lập Chánh,
Đông Kinh, Nhật Bản; và từ năm 1977 đến năm 1978 được bầu
làm Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Hoa Kỳ kiêm trụ trì Đại Giác tự. Từ năm 1978 làm Trưởng
Sở Nghiên cứu Học thuật viện Phật học
Trung Hoa. Từ năm 1978
trở về sau, ngài giảng dạy tại Đại học Văn hóa Trung Quốc,
Đại học Hoa Cang và Đại học Đông Ngô. Năm 1980, ngài khai
sơn và sáng lập
Trung tâm Thiền New York. Đương thời, ngài cũng là
người sáng lập Hội Phật
giáo Pháp Cổ Sơn (Dharma Drum Mountain Buddhist Association)
và trường Đại học
Pháp Cổ Sơn tại Đài Loan. Ngài cũng là người có nhiệm
vụ duy trì và phát huy
dòng Thiền Tào Động và Lâm Tế.
Những tác phẩm tiêu biểu : Tỷ
giảo Tôn giáo học, Thiền môn tu chứng chỉ yếu, Sinh hoạt
thiền, Thế giới Phật giáo thông sử, Phật giáo chánh tín,
Phật học quần nghi, Niêm hoa vi tiếu, Thiền và Ngộ… tổng
cộng trên 42 loại và nhiều trước tác có giá trị khác.
Pháp sư Thánh Nghiêm hiện là
bậc cao Tăng nổi tiếng của Phật giáo Đài Loan, tài đức kiêm
toàn và rất được mọi giới quần chúng ngưỡng mộ tôn kính.
Lời người dịch
Phật pháp là phương thuốc hay
chữa tâm bệnh cho chúng sinh, là pháp bất định. Chúng sinh
có nhiều loại bệnh, Phật pháp phải có nhiều môn. Phương
thuốc chủ yếu vẫn là giới, định, tuệ, tùy theo đó mà gia
giảm cho phù hợp với căn bệnh, miễn sao cho người bệnh lành
bệnh là được.
Phật pháp thì vô lượng, hiện
nay giới Phật tử chúng ta chủ yếu tu tập theo ba pháp môn
chính là Thiền, Tịnh và Mật. Các pháp môn này đã được Tăng
Ni Phật tử thực nghiệm với quá trình khá lâu dài, đã đem lại
nhiều kết quả tốt đẹp.
Một vị Thiền sư, Tịnh sư hay
Mật sư nếu chỉ biết đề cao pháp môn mình tu và chê bai pháp
môn khác thì đó là người thiếu trí, thiển cận. Bởi lẽ đã là
người Phật tử chân chính thì không nên khen mình chê người,
không nên chấp trước nhân ngã bỉ thử. Hậu quả của tâm đố kỵ
ấy chỉ làm cho Phật pháp suy yếu mà thôi. Đúng như câu “Chỉ
có vi trùng của sư tử ăn thịt sư tử”.
Pháp sư Thánh Nghiêm là bậc cao
Tăng cận đại của Phật giáo Đài Loan. Ngài có sở học và sở tu
rất thâm hậu, đã viết rất nhiều tác phẩm Phật giáo chủ yếu
là thiền. Ngài đã từng mở nhiều khóa tu thiền tại Mỹ và Đài
Loan. Thế nhưng ngài cũng tổ chức các khóa tu Phật thất,
khuyến khích Phật tử tu Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sinh.
Đây quả là một bậc trí, biết khéo dùng phương tiện để độ
chúng sinh. Cách hoằng pháp này xứng đáng là tấm gương để
Phật tử chúng ta học tập.
Nhận thấy những lời khai thị
niệm Phật của ngài rất phù hợp với khóa tu Phật thất tại
chùa Hoằng Pháp, nên chúng tôi dịch ra Việt văn để giúp cho
Phật tử có thêm tài liệu tham khảo, hầu tăng trưởng niềm tin
kiên cố, tinh tấn hành trì niệm Phật.
Trong bản dịch này có một đoạn
văn Hán cổ do Đại đức Thích Nguyên Hiền phiên dịch. Xin chân
thành tri ân Đại đức.
Ngày 10-8-2001
Lời tựa
Tôi thường niệm Phật, cũng
thường dạy người niệm Phật, khuyên người niệm Phật.
Hơn 30 năm trước, tôi từng
được mời chủ trì Phật thất Di Đà tại chùa Đông Sơn, thành
phố Bình Đông, Nam bộ Đài Loan. Từ năm 1980 về sau, tôi ở
Nông Thiền tự Bắc Đầu, Đài Bắc, mỗi năm chủ trì một lần Phật
thất Thanh minh báo ân, và cũng tại Nông Thiền tự này thành
lập hội niệm Phật Phước Huệ mỗi tuần cộng tu một lần. Cho
nên tôi đã từng khai thị pháp môn niệm Phật cho đại chúng,
tôi cũng đã từng đảm nhận các khóa giảng về Tịnh độ học
nhiều năm tại Trung Hoa Phật học Nghiên cứu Sở, nhưng tôi
chỉ viết một thiên “Khảo sát tư tưởng Tịnh độ” cho “Hoa
Cương Phật học học báo” mà thôi, chứ chưa xuất bản tác phẩm
giới thiệu về pháp môn niệm Phật.
Lý do vì tôi ở nước ngoài
nên bất kỳ là diễn giảng hay viết bài đều được người ta yêu
cầu, phần nhiều là lấy phạm vi thiền làm chủ đề, chưa gặp cơ
hội người ta yêu cầu khai thị pháp môn niệm Phật.
Mãi đến năm nay (1993) từ
ngày 27-3 đến 4-4, trong thời gian Phật thất Thanh minh báo
ân tại Nông Thiền tự, mỗi ngày tôi đều khai thị pháp môn
niệm Phật sinh Tịnh độ, nói rõ Phật pháp xem trọng việc tri
ân báo ân, mọi người nên đem tấm lòng cảm ân tiếp nhận cuộc
sống hiện thực, lại đem tấm lòng báo ân phụng hiến tất cả
chúng sinh. Làm thế nào
mới có thể biểu đạt sự cảm ân và báo ân chính xác ?
Phải nên tu học pháp môn niệm Phật, vì pháp môn này chân tục
toàn thâu, sự lý viên dung, thế xuất thế pháp, cho đến phước
lợi hiện đời hoặc cảnh giới tốt đẹp ở thân sau đều bao dung
trong đó cả.
Tu học pháp môn niệm Phật
như thế nào, mỗi ngày tôi đều giới thiệu một hạng mục bao
gồm bảy hạng mục : 1/ Báo ân cha mẹ người thân nên niệm Phật.
2/ Niệm Phật nên đầy đủ bốn thứ tâm : Tín
tâm, chí thành tâm, thâm
tâm, hồi hướng phát
nguyện tâm. 3/
Tịnh độ có bốn loại : Nhân gian, thiên quốc, Phật quốc, tự
tâm. 4/ Siêu độ có hai loại : Đối với vong linh, đối với
người sống. 5/ Phải nên tu hành sám hối nghiệp chướng làm
thường khóa mỗi ngày. 6/ Mang nghiệp (đới nghiệp), tiêu
nghiệp đều sinh Tịnh độ. 7/ Vãng sinh Tịnh độ phương Tây,
nên kiến thiết Tịnh độ nhân gian làm cơ sở.
Sau khi băng ghi âm của tôi
lưu truyền, nhiều người nghe được rất hoan hỷ. Có một vài đệ
tử nhiệt tâm, từ trong băng ghi âm viết lại thành văn tự,
đưa tôi duyệt lại, tôi nhận rồi đem về Mỹ quốc. Cho đến ngày
22 tháng 11 tôi mới rảnh rỗi đem ra duyệt và phát hiện nội
dung rỗng tuếch, cách hành văn cũng không giống tôi chút nào.
Vì thế tôi phải tốn mất mười ngày để viết lại và sửa chữa bổ
sung. Cũng nhờ nhân duyên này khiến tôi đọc kỹ lại ba kinh
Tịnh độ, ôn lại những tác phẩm của các Đại sư Tịnh độ hơn 30
loại, hơn 70 cuốn.
Sau khi viết xong thấy ý vẫn
chưa tận, cho nên thêm vào hai tiết “Nguồn gốc Phật thất” và
“Phương pháp niệm Phật”. Văn chương hơn bốn vạn lời, ngoài
giá trị thực dụng cũng rất giàu về giá trị tham khảo.
Đông Sơ Thiền tự tại Nữu Ước
Ngày 2 tháng 12 năm 1993
Thích Thánh Nghiêm
1.- BÁO ÂN CHA MẸ THÂN QUYẾN
NÊN NIỆM PHẬT
Lúc người mới mất, sau khi
chúng ta trợ niệm, thường hay phát hiện người được vãng sinh
gương mặt tươi vui. Điều này biểu thị người ta tuy chết thần
thức vẫn còn, chỉ cần họ nghe được âm thanh niệm Phật, thì
sẽ sinh khởi tâm tín ngưỡng, tâm hoan hỷ, tâm thanh tịnh,
liền có thể lìa khổ được vui, vãng sinh Tịnh độ.
Phật thất thanh minh của chúng
ta, còn gọi là Phật thất báo ân, cho nên hôm nay sẽ bàn về ý
nghĩa của báo ân. Theo quan niệm truyền thống của Phật giáo,
ân có bốn loại là : ân Tam Bảo, ân cha mẹ, ân quốc gia và ân
chúng sinh. Người Trung Quốc đặc biệt xem trọng ân dưỡng dục
của cha mẹ, đối với ba ân kia dường như không xem trọng mấy.
Bởi vì từ thời đại Tiên Tần khai thủy đã đề xướng hiếu đạo,
Hiếu Kinh của Nho gia cũng từ quan điểm luân lý hiếu thân mà
giảng về đạo lý lập thân, thực hành đạo đức giáo hóa mọi
người, không chỉ hiếu thân mà còn luận bàn cả tiêu chuẩn làm
vua thiên hạ. Do từ trong Ngũ luân lấy quan hệ cha mẹ con
cái làm nền tảng và khởi điểm, cho nên hiếu với cha mẹ thân
quyến rất là trọng yếu. Đời Hán từng đề xướng lấy hiếu lập
quốc, bao gồm hiếu kính và liêm khiết. Người con hiếu ắt
phải thanh liêm, muốn chọn bậc quan liêm khiết, khí tiết
phải từ người con hiếu mà chọn. Cho nên nói chọn trung thần
nơi cửa hiếu là vậy. Nếu là người con hiếu thảo nhất định
đối với mọi người trong xã hội cũng phải có sự quan tâm chăm
sóc. Ngược lại, một người nếu đối với cha mẹ mình không quan
tâm, hoặc là kẻ nghịch tử, mà muốn họ chí công vô tư quan
tâm đến nỗi khổ của nhân dân là điều rất khó thực hiện.
Thế nhưng đến xã hội cận đại, từ khi phương
Tây “cách mạng công
nghiệp” thì kết cấu của gia
đình và xã hội chuyển đổi,
quan niệm về luân lý bị
phá sản, mỗi người tự lấy
chế độ tiểu gia đình làm
chính, chỉ biết lợi cho
mình, khiến cho xã hội loài
người càng thêm tai nạn. Xã hội Trung Quốc ở phương
Đông cũng
bị ảnh hưởng rất nặng, dần dần đối với quan niệm luân lý
hiếu đạo xem là cổ hủ bảo thủ, quan hệ cha mẹ con cái dần
dần lạnh nhạt. Cũng tức là mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái chỉ còn ràng buộc nhau khoảng thời gian hơn mười năm
trước khi thành niên. Sau khi con cái đã thành nhân, mỗi
người tự lo kiếm sống, đối với cha mẹ không còn quan tâm gì
nữa. Lại còn cho rằng cha mẹ nuôi con là trách nhiệm, con
cái quan tâm đến cha mẹ là thi ân. Bởi vì con người là tự tư,
thường vì tiền đồ của mình mà không đoái hoài đến việc sống
chết và nhu cầu của cha mẹ.
Ngày nay tại xã hội Đài Loan,
cũng không thể không đi theo con đường ấy. Tuy nhiên vẫn có
những nhân viên chính phủ đang khuyến khích chế độ đại gia
tộc như tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường, nếu làm được
như vậy sẽ được khen thưởng ưu đãi, song chỉ có một số ít
người làm được, cũng chỉ có một số ít nhân viên chính phủ
làm theo ý tưởng này. Bởi vì hoàn cảnh chung của toàn thể
thế giới đã diễn biến như thế, chúng ta hy vọng phổ biến và
khôi phục chế độ đại gia tộc của thời đại xã hội tiền nông
thôn không phải là dễ.
Thế nhưng người Trung Quốc vẫn
bảo tồn được phong tục tập quán đối với việc hoài niệm tổ
tiên, như tảo mộ vào tiết Thanh minh, thăm viếng lễ bái mộ
tổ, biểu thị lòng tưởng nhớ đối với tổ tiên hoặc người thân
quá cố. Chúng ta đối với phong tục này nên tán thán. Kỷ niệm
tổ tiên chính là uống nước nhớ nguồn, cũng tức là hiếu đạo,
là niệm ân cảm ân. Tuy nhiên phong tục này mới chỉ là hình
thức chưa phải là ý nghĩa báo ân thực sự. Vậy làm thế nào để
tổ tiên ta có được công đức ?
Hôm nay có ba vị cư sĩ từ phía
Nam xa xôi đến Nông Thiền tự Đài Bắc để thăm tôi, tôi khuyên
họ nên tham gia tùy hỷ niệm Phật một ngày, dùng công đức
niệm Phật này hồi hướng cho tổ tiên họ rất tốt, nhưng họ
không quan tâm cho lắm. Nguyên nhân là họ thuộc ba thế hệ
già lão, trung niên và thiếu niên, mỗi người có mộ tổ của
mình và bên ngoại, tranh thủ ngày nghỉ đi một vài nơi để tảo
mộ lễ tổ, cho nên họ phải vội vã đi. Tôi khuyên họ : chỉ đi
quét mộ thôi, ý nghĩa không lớn lắm. Tốt nhất là từ khi bắt
đầu xuất phát tại Nông Thiền tự nên niệm Phật, đến trước mộ
cũng niệm Phật, tại nghĩa trang niệm Phật, tảo mộ xong trên
đường trở về nhà cũng nên niệm Phật; trước sau Thanh minh
niệm Phật, ngày thường cũng niệm Phật. Một mặt đem công đức
hồi hướng cho tổ tiên, mặt khác hy vọng người quá cố ở trong
cảnh u minh nghe được danh hiệu Phật cũng có thể tin Phật,
học Phật, niệm Phật. Ba vị cư sĩ sau khi nghe xong rất hoan
hỷ. Tôi hy vọng họ nghe theo lời khuyên của tôi mà thực hành
thì rất tốt.
Quý vị đến tham gia Phật thất
Thanh minh báo ân, một mặt là tu hành, một mặt là vì báo ân.
Người ta phần lớn vì tổ tiên và người thân lập bài vị vãng
sinh, đốt đèn vãng sinh, để làm gì ? Là hy vọng họ tiếp thụ
công đức niệm Phật, nếu chưa được chuyển sinh thì linh thể
của họ đến chùa này, nghe chúng ta niệm Phật và khởi niệm
cùng tu với chúng ta thì càng có ý nghĩa. Quý vị có tin
không ? Hiện tại có rất nhiều tiên vong quyến thuộc của quý
vị đang nghe tôi khai thị. Nhất định phải tin. Nếu không,
quý vị đến làm Phật sự niệm Phật như vầy, không phải là tự
dối mình còn dối ai ?
Vì sao chúng ta niệm Phật chính
là báo ân ? Đối với tổ tiên và quyến thuộc quá cố có tác
dụng
gì ? Rất đơn giản, lúc người mới mất sau khi chúng ta trợ
niệm, thường phát hiện người chết tắt hơi rồi, nhưng gương
mặt biểu lộ tình cảm vui tươi. Xưa nay người chết gương mặt
thường xạm đen hay trắng xám, song lúc chúng ta vì họ trợ
niệm chí thành khẩn thiết, thì mặt và môi người chết có phần
hồng hào hơn, điều này biểu thị người tuy chết nhưng thần
thức của họ vẫn nghe được tiếng niệm Phật của chúng ta. Chỉ
cần nghe được tiếng niệm Phật liền sinh khởi tâm tín ngưỡng,
tâm hoan hỷ và tâm thanh tịnh, thì có thể lìa khổ được vui,
nhất định vãng sinh Tịnh độ. Cho nên chỉ có làm như vậy mới
là báo ân chân chính.
Những quyến thuộc đã mất thấy
chúng ta niệm Phật, cúng Phật, lạy Phật họ rất hoan hỷ. Bởi
vì lúc niệm Phật không nói lời xấu, không làm việc xấu. Do
lẽ đó khiến cho người mất đối với bạn an tâm buông xả, lại
còn cảm thấy rất an ổn, cho nên dùng niệm Phật để kỷ niệm và
siêu độ họ là phương pháp tốt nhất. Thực ra mỗi năm đến lúc
Thanh minh tảo mộ chỉ đem hương, đốt đèn, đốt vàng mã, cúng
hoa tươi v.v… không bằng đến tham gia cộng tu niệm Phật một
lần. Nói thế không phải tôi phản đối việc tảo mộ, mà tôi chỉ
khuyên nên niệm Phật tốt hơn nhiều. Ngoài lúc Thanh minh tảo
mộ cũng nên đến tự viện tham gia tu hành niệm Phật báo ân
bảy ngày, thì đối với người mất càng có ý nghĩa, càng có
công đức. Cho dù là đến tùy hỷ niệm Phật một cây hương hoặc
tham gia niệm Phật một ngày cũng rất tốt.
Tôi rất khâm phục lão Hòa
thượng Đông Sơ tiên sư của tôi, ngài di chúc để lại yêu cầu
chúng tôi sau khi chôn hoặc thiêu đều không nên lưu lại tro
cốt hoặc xá lợi để cúng dường, mà nên đem tán ra trộn với
bột thả xuống biển cho cá ăn để kết duyên. Lúc ngài còn tại
thế từng nói với tôi : Làm người không nên ngu xuẩn quá lắm,
đã biết đời sống đều là tướng giả tạm, sau khi chết lại còn
làm mồ to mả đẹp, há chẳng đáng cười ư ? Tôi bèn theo di
chúc của ngài mà làm. Thế nhưng sau khi hỏa thiêu tiên sư,
phát hiện có rất nhiều xá lợi, tôi không dám làm nữa, lúc ấy
rất nhiều tín đồ tranh nhau lấy. Có người thấy vậy nói với
tôi rằng : Thưa Pháp sư Thánh Nghiêm, họ tranh nhau lấy xá
lợi của Hòa thượng như thế, Trung Hoa Phật giáo Văn hóa quán
của chúng ta có cần lưu lại một ít không ? Tôi trả lời : Đã
có những người lấy cúng dường như thế chẳng phải là rất tốt
hay sao ? Thế nhưng cuối cùng tôi cũng vẫn phải theo ý kiến
của họ lưu lại một ít xá lợi của Hòa thượng cúng dường tại
Tổ đường. Song tôi cũng thể hội được ý tứ của Lão Hòa thượng,
ngài không muốn chúng tôi lấy phong tục tảo mộ để kỷ niệm
ngài, mà là phải tuân theo di chí của ngài để hoằng dương
Phật pháp, tu hành theo lời Phật dạy chính là kỷ niệm ngài,
báo ân ngài, điều này so với sự cúng dường xá lợi của ngài
hoặc dùng việc tảo mộ để kỷ niệm ngài thì có ý nghĩa hơn
nhiều.
Hiện nay tôi kế thừa di chí của
Hòa thượng, dùng Đạo tràng của ngài để lại, ngoài việc tu
hành bản thân còn hoằng dương Phật pháp, chỉ đạo tu hành,
dùng cách thức này để thay thế việc tảo mộ, làm kỷ niệm thì
công đức càng lớn hơn. Thứ công đức này cũng không phải xuất
phát nơi tôi, mà là do cái nhìn xa thấy rộng của Hòa thượng.
Quý vị có biết năm nay tôi bao
nhiêu tuổi không ? (Đại chúng mặc nhiên lắc đầu). Bởi vì từ
trước tới nay tôi không tổ chức sinh nhật, cho nên cũng quên
mất mình bao nhiêu tuổi. Từ khi tôi ghi chép tư liệu truyện
ký mà xét thì năm nay tôi đã 64 tuổi rồi, tôi vẫn có thể có
64 năm khác để sống không ? Không thể ! Quý vị cho là có thể
nhưng tôi thì không tin như vậy. Do đó hôm nay tôi cũng
tuyên bố : Sau khi tôi chết, không được chôn, cũng không
được để vào trong tháp cốt hoặc tháp xá lợi, không thu xá
lợi đem về cúng dường, tôi cũng muốn học theo Hòa thượng
tiên sư của tôi. Khi tôi chết hàng đệ tử đem tôi hỏa thiêu,
sau đó nghiền nát tro cốt rải trên Pháp Cổ Sơn. Hòa thượng
tiên sư muốn tôi đem tro cốt của ngài rải xuống biển, lại bị
trắc trở, riêng tôi thì quý vị không được tự ý đem tro cốt
rải xuống biển. Tôi không muốn làm phiền các đệ tử, cứ đem
rải trong rừng trên Pháp Cổ Sơn, trải qua thời gian gặp mưa
theo nước chảy xuống các khe nước, rồi chảy ra biển cả. Tôi
không muốn lưu lại thứ gì hết, chỉ hy vọng lưu lại hai câu :
Đề cao phẩm chất con người
Kiến thiết Tịnh độ nhân
gian
Nếu có thể thực hành được hai
câu này tức là đã kỷ niệm tảo mộ tôi. Quý vị hiện nay đã hộ
tôi tảo mộ sống, đúng không ? Đức Thích Ca nhập Niết bàn hơn
2500 năm. Chúng ta là đệ tử rất khó mà đến được chỗ hỏa
thiêu của Ngài để tảo mộ, mà chỉ có cách vâng theo lời dạy
của Ngài, hoằng dương Phật pháp cúng dường Tam Bảo để kỷ
niệm Ngài. Đó mới là việc làm đầy đủ ý nghĩa, mới chính là
Phật tử chân chính.
Phương pháp báo ân tốt đẹp nhất
là dùng thân thể mà cha mẹ đã tạo ra chúng ta, để làm những
việc có lợi ích cho mình và cho chúng sinh, nói những lời có
lợi ích cho mình và chúng sinh, nghĩ những gì có lợi ích cho
mình và chúng sinh, đó mới là báo ân chân chính. Quý vị há
chẳng nghe qua hai câu : “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam
đồ khổ” sao ? Trên thực tế một mặt chúng ta nên phụng hiến
thân mình để làm lợi ích chúng sinh; mặt khác, chúng ta cũng
phải uống nước nhớ nguồn, tri ân báo ân. Các bậc đại đức cao
tăng xuất gia cho đến hàng đại thiện tri thức tại gia thường
hay nói câu : “Vì báo đáp ơn sâu Tam Bảo, thề nguyện mãi về
sau hiến thân mạng mình, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ
chúng sinh, hoằng dương Phật pháp, hộ trì Tam Bảo”. Ý này
cũng tức là nói : Ân Tam Bảo chúng ta không cách gì báo đáp,
chỉ phải đem những gì mình biết, mình có để làm công tác học
pháp, hoằng pháp và hộ pháp, mới thực là báo ân.
Quý vị đến đây tham gia Phật
thất Thanh minh, tức là tu học Phật pháp, hộ trì Tam Bảo,
cũng tức là báo ân. Quý vị nhất định phải biết câu : “Thừa
tiên khải hậu” (kế thừa người đi trước, khai mở cho người
sau). Chúng ta kế thừa di ấm và phước trạch của tổ tiên, bao
quát thân thể của chúng ta và hoàn cảnh sinh tồn, lịch sử
của chúng ta và di sản văn hóa, chúng ta phải có trách nhiệm
phát huy công năng tự lợi lợi tha, khiến cho di trạch của tổ
tiên tồn tại mãi, đó mới thực là phương pháp báo ân tốt nhất.
Thời quá khứ rất nhiều người Trung Quốc chỉ biết cha truyền
con nối, vì tổ tiên giữ “hương hỏa”, nhưng lại không biết
phát dương hương thơm đức hạnh của tổ tiên thêm sáng rỡ, vì
tổ tiên làm tăng ánh sáng đức hạnh, vì đời sau làm thêm
phước, đó mới là sự truyền thừa tốt đẹp nhất. Không phải chỉ
có lấy việc đốt hương, đốt giấy tiền để kỷ niệm tổ tiên mới
gọi là “thừa tiên khải hậu”. Tín đồ Phật giáo chúng ta nên
lấy việc tu học Phật pháp, tịnh hóa xã hội, để báo đáp ân
đức của tổ tiên.
Ba năm trước tôi trở về Đại lục
thăm người thân, gặp chị dâu thứ ba của tôi, chị ấy lặp đi
lặp lại : Chú thấy đấy, tôi đã sinh cho họ Trương năm đứa
con. Ý của chị ta nói là tôi xuất gia không có sinh cho dòng
họ đứa con nào thật là bất hiếu. Chị ta đã sinh cho họ
Trương chúng tôi những đứa con như thế mới trọn vẹn hiếu đạo.
Tôi cười và nói : “Thật là cực khổ cho chị quá”. Đối với vấn
đề này, tôi muốn hỏi quý vị, như tôi xuất gia làm Pháp sư
như vầy, trọn đời tu học Phật pháp, quan tâm đến đại chúng,
phục vụ cho mọi người, đối với cha mẹ tôi mà nói không phải
là hiếu thuận và báo ân sao ?
2.- BỐN
THỨ TÂM CỦA PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
Dùng tín tâm
đối với bản thệ nguyện lực của Đức Phật A Di Đà.
Dùng chí
thành tâm miệng niệm tâm nhớ.
Dùng thâm tâm niệm Phật
niệm niệm buộc tâm.
Lại dùng hồi hướng phát
nguyện tâm, đem công đức niệm Phật hồi hướng cho tất cả
chúng sinh, đều lìa khổ được vui, đều tin Phật học Pháp kính
Tăng, đều niệm Phật thành Phật.
Hôm nay tôi sẽ giảng về bốn thứ
tâm của người tu hành theo pháp môn niệm Phật, đó là : Tín
tâm, chí thành tâm, thâm tâm và hồi hướng phát nguyện tâm.
1.- Tín tâm
Ở trong Phật pháp cho dù tu
pháp môn nào trước tiên phải có tín tâm, như trong kinh đã
nói : Tin thì có thể vào. Người học Phật lấy tín tâm làm
điều kiện trọng yếu thứ nhất. Đối tượng của tín tâm là tin
pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói trong kinh, đều là
chân ngữ thật ngữ, câu câu đều
hữu dụng, chữ chữ quý như
vàng. Đứng ở lập trường phàm phu dù không đủ sức làm
được đều phải nên tin. Vì đó gọi là Thánh ngôn lượng, đối
với lời nói của bậc đại Thánh Phật Đà, lời lời đều chân thật
không được hoài nghi, không nên cân nhắc. Đặc biệt là phương
pháp tu hành rất nhiều, có vô lượng pháp môn, mỗi một pháp
môn đều tùy theo căn tính bất đồng. Người không cùng chủng
loại với nhau có căn tính tương đồng và căn tính bất đồng.
Người không cùng hoàn cảnh thời đại cũng có căn tính tương
đồng và căn tính bất đồng, cần phải đem pháp môn vô lượng để
tiếp dẫn chúng sinh vô biên. Cho nên lúc chúng ta nhận định
chính xác và chấp nhận theo một vị Thiện tri thức nào tu
hành, không nên hoài nghi về cá nhân họ nữa, cũng không nên
hoài nghi về pháp môn mà họ đã dạy với pháp môn khác có
giống nhau không ? Có mâu thuẫn không ?
Trái lại thì sẽ không có
cách gì sản sinh tín tâm kiên cố, cũng không đạt được
chỗ thọ dụng chân chính.
Chúng ta đang ở trong khóa tu
Phật thất, niệm là niệm Phật A Di Đà, tu là tu pháp môn Tịnh
độ. Pháp môn này trong kinh Phật có hơn 60 loại nói về Tịnh
độ phương Tây của Phật A Di Đà, trọng yếu nhất là Kinh A Di
Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, hợp
lại gọi là ba kinh Tịnh độ. Ở vào thời đại Ngụy Tấn của
Trung Quốc (khoảng trước sau thế kỷ thứ 5 Tây lịch), việc
tạo tượng Phật A Di Đà đã được thịnh hành. Ngài Đàm Loan
thời Bắc Ngụy, ngài Huệ Viễn thời Đông Tấn, ngài Đạo Xước
thời Tùy Đường, ngài Thiện Đạo thời Sơ Đường, về sau có các
vị như Từ Mẫn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang v.v… hoằng dương Tịnh
độ Di Đà, nghiễm nhiên trở thành một dòng chính lớn của Phật
giáo Trung Quốc. Lần này các vị Bồ Tát đến bổn tự tham gia
đả thất niệm Phật có hơn 380 vị là thuộc tổ Tinh tấn, còn có
khoảng 500 vị khác là tùy hỷ, trong số này có nhiều vị đã
từng tu hành qua các pháp môn khác, cũng đến tham gia tu
hành niệm Phật, điều này biểu thị đối với pháp môn Di Đà
cũng có tín tâm. Cho nên nói đường nào cũng đến Trường An,
tuy đường có khác mà đích đến là một, pháp môn tuy vô lượng,
nhưng cùng mục đích là đưa người đến chỗ lìa khổ được vui,
thành tựu đạo Bồ đề. Chúng ta nhất định phải tin pháp môn
trước mắt đang tu trì là rất tốt, là rất đáng tin cậy.
Chúng ta tin gì ? Tin trong
kinh điển nói có thế giới Cực lạc phương Tây, tin bản thệ
nguyện lực của Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sinh hữu duyên
đồng đăng chín phẩm sen ở cõi Tịnh độ phương Tây. Trước hết
phải có tín tâm đối với bản nguyện của Phật A Di Đà, có tâm
nguyện cầu sinh Tịnh độ, thì mới có thể quyết định được Đức
Di Đà tiếp dẫn vãng sinh về thế giới Cực lạc phương Tây.
Thế nhưng phương pháp tu hành
trong ba kinh Tịnh độ đã giới thiệu cũng có khác biệt. Kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật chủ trương dùng 16 pháp môn quán
tưởng, tu trì theo quán tưởng tam muội và niệm Phật tam muội
để đạt thành mục đích vãng sinh ba bậc chín phẩm. Kinh Vô
Lượng Thọ chủ trương tín ngưỡng 48 lời nguyện của Phật A Di
Đà, y nguyện tu hành, cho dù phàm phu còn hoặc nghiệp cũng
nhất định được vãng sinh Phật quốc. Kinh A Di Đà chủ trương
lấy tín nguyện hành, chấp trì danh hiệu Di Đà, cầu nguyện
vãng sinh cõi Phật. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật cũng yêu cầu
phải trì giới, tu phước, phát tâm Bồ đề. Kinh A Di Đà thì
yêu cầu phải trì danh đến chỗ nhất tâm bất loạn. Kinh Vô
Lượng Thọ chủ trương nếu chỉ có thể tin vui không sinh tâm
nghi, từ mười niệm cho đến một niệm, người cầu nguyện vãng
sinh cũng được như nguyện. Vì Phật giáo Trung Quốc xem trọng
Kinh A Di Đà, cho rằng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn mới
có thể vãng sinh Tịnh độ phương Tây, do đó khiến cho rất
nhiều người niệm Phật biến thành tự tư, không quản đến sự
việc thế gian, chỉ cầu chuyên tâm niệm Phật, sợ đến lúc lâm
chung không được nhất tâm bất loạn sẽ không được vãng sinh
Cực lạc. Tín ngưỡng Tịnh độ của Nhật Bản thì không như vậy,
họ xem trọng Kinh Vô Lượng Thọ, cho nên Tịnh độ tông của
phái Pháp Nhiên, Tịnh độ Chân tông của phái Thân Loan, đặc
biệt cường điệu bản nguyện tha lực của Phật A Di Đà, chỉ cần
tin bản nguyện của Đức Di Đà cũng có thể nương nhờ sức Phật
mà được cứu, tư tưởng này cũng giống như niềm tin Thượng đế
của Cơ Đốc giáo, nhưng trên thực tế thì chẳng đồng. Bởi vì
tín đồ Cơ Đốc giáo tin Chúa, tự mình không thể thành Chúa
được, còn tín đồ Phật giáo niệm Phật kết quả sẽ thành Phật.
Hiện nay tôi chủ trương
phải tin kinh Phật, tin lời Phật, nếu y theo Kinh A
Di Đà trì danh hiệu Phật, từ một ngày đến bảy ngày nhất tâm
bất loạn, lâm chung thấy Phật đến tiếp dẫn, quả là quý báu
vô cùng, cho nên cần dùng phương thức tu Phật thất để trợ
duyên tu chứng. Nếu căn cứ theo Kinh Vô Lượng Thọ thì trừ
người phạm tội ngũ nghịch ra, người nào muốn sinh về cõi
Tịnh độ nên hết lòng tin vui, cho
đến niệm Phật mười niệm
cũng đều quyết định vãng
sinh. Theo phương pháp này thì không phải lo không được nhất tâm
bất loạn và không được vãng sinh Tịnh độ nước Phật. Nếu y
theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật thì so ra phiền phức hơn,
phải chia làm ba điểm tiến hành tu trì Tịnh độ Di Đà. 1/ Tu
ba phước (bao hàm luân lý thế gian, quy giới thập thiện,
phát tâm Bồ đề, tụng kinh Đại thừa). 2/ Tu 16 pháp quán
tưởng. 3/ Tu pháp chín phẩm vãng sinh. Cho nên kinh này tại
Trung Quốc và Nhật Bản đều ít người tu. Thời xưa Trung Quốc
và Nhật Bản xem trọng Kinh Vô Lượng Thọ. Người Trung Quốc
hiện nay xem trọng Kinh A Di Đà, cứu cánh của pháp môn Tịnh
độ ở tại chữ tín, có tin
bản nguyện của Đức Di Đà, mới có thể niệm Phật vãng
sinh. Ngay như Bồ Tát Long Thọ cũng nói, Tịnh độ thuộc về
đạo dễ hành nhờ tha lực trợ giúp, nếu tu thiền quán thì cũng
giống như Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói, ngược lại có điểm
giống như đạo khó hành phải tự lực giải thoát.
Pháp môn tu hành Tịnh độ Di Đà,
pháp này sở dĩ được nhiều người sùng tín tại Trung Quốc và
Nhật Bản, là ở chỗ bản nguyện tha lực của Đức Di Đà ban cho
người ta tín tâm tuyệt đối an ổn, không phải suy nghĩ công
đức của mình đã làm nhiều hay ít, cũng không cần quan tâm
đến công sức lớn nhỏ mà mình tu chứng. Chỉ cần tín ngưỡng
bản nguyện của Phật A Di Đà, lập thệ vãng sinh là được, sau
đó có thể an tâm gánh vác những việc tự lợi lợi tha. Cho dù
trì giới không nghiêm, phiền não chưa đoạn hết, cũng có Đức
Phật A Di Đà y theo bản thệ nguyện lực của Ngài đến tiếp dẫn.
Hành giả Tịnh độ có thể an tâm tu tập.
Quý vị Bồ Tát đến tham gia Phật
thất thanh minh báo ân, chấp trì Thánh hiệu Di Đà, cần phải
tin bản thệ nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, tin người niệm
Phật lúc lâm chung quyết định thấy được Đức Phật A Di Đà từ
bi tiếp dẫn, trong bảy ngày tu có thể được nhất tâm niệm
Phật rất tốt, cho nên cần phải mỗi niệm dùng tâm niệm. Nếu
vẫn tán tâm niệm mà không được hiệu quả nhất tâm cũng không
lo, như trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật đã nói, dù là
người phạm tội ngũ nghịch thập ác, nếu đến lúc lâm chung gặp
được bậc tri thức dạy cho niệm Phật A Di Đà, niệm được mười
niệm thì thấp nhất cũng được hạ sinh hạ phẩm vãng sinh Cực
lạc. Thế nhưng đã đến đây tham gia Phật thất niệm Phật thì
không được để tâm giải đãi, nếu bạn không kịp thời niệm Phật,
niệm cho thành tập quán, đợi đến khi lâm chung, ai có thể
bảo chứng bạn gặp được thiện hữu đến khuyến dẫn, ai lại có
thể bảo chứng lúc ấy bạn còn đủ sáng suốt để niệm được mười
niệm danh hiệu Phật A Di Đà ? Do đó phải ngay tại trong Phật
thất này tinh tấn niệm Phật, nếu có thể trì niệm liên tục
mọi lúc mọi nơi, thì đó là sự chuẩn bị rất tốt cho việc vãng
sinh cõi nước Cực lạc phương Tây.
2.- Chí thành tâm
Là tâm khẩn thiết, tâm thiết
tha, không phải lòng này ý khác, tính khí bốc đồng, làm lấy
lệ cho xong. Lúc niệm Phật phải miệng niệm tâm nhớ, như Đức
Phật A Di Đà đang ở trước mặt mình, tiếng từ miệng xuất, lại
từ tai vào, tiếng tiếng in vào ruộng tâm, câu câu đều từ tâm
xuất. Niệm niệm đều là danh hiệu Phật, chỗ chỗ đều là cõi
Phật. Nếu như không có cách gì chuyên tâm niệm Phật thì nên
quán tưởng : bạn là hành khách trên chiếc thuyền, gặp phải
nạn biển bị bể, trồi hụp trong những cơn sóng dữ. Rất may
lúc ấy bạn với được tấm ván thuyền bể, tất phải nắm chắc ôm
chặt, không được sơ suất, ngược lại sẽ bị sóng to nhận chìm.
Chỉ cần sơ ý lỏng tay một chút là tấm ván vuột ra khỏi tay
trôi đi biền biệt, khi đó muốn nắm giữ cũng không còn kịp
nữa. Lúc ấy thân bạn ở trong biển cả mênh mông, chỉ còn có
con đường chết mà thôi. Lúc chúng ta niệm một câu danh hiệu
Phật, cũng giống như người ở trong biển cả mênh mông sắp bị
chết chìm ôm được tấm ván thuyền kia, ôm giữ danh hiệu Phật
để niệm cũng vậy, lúc niệm phải đem danh hiệu Phật làm chiếc
ván nổi cứu mạng trong biển, không thể đem tâm lơ là mà niệm
Phật. Tôi tin rằng quý vị đã xem câu biểu ngữ treo trên điện
Phật tại Nông Thiền tự này rồi : “Miệng cùng với tâm tiếng
tiếng tương ưng, niệm cùng với Phật bước bước không lìa”.
Lúc ngồi niệm Phật thường dùng
câu thứ nhất, dùng sức
niệm lớn tiếng, dùng tâm
niệm cao tiếng. Lúc kinh
hành niệm Phật, thường dùng câu thứ hai, mỗi một câu
niệm đều cùng với danh hiệu Phật tương ưng, mỗi một bước đều
phối hợp với tiết tấu niệm Phật, niệm niệm không gián đoạn,
bước bước không xa lìa. Đem toàn bộ ba nghiệp thân khẩu ý
chăm chú vào từng câu niệm Phật.
3.- Thâm tâm
Phẩm Phật quốc trong Kinh Duy
Ma có nói : “Thâm tâm tức là Tịnh độ”, còn trong phẩm Bồ Tát
của kinh này thì lại nói : “Thâm tâm là đạo tràng hay tăng
trưởng công đức”. Tín tâm kiên cố không lay chuyển là do chỗ
kinh nghiệm tu chứng và sự ứng nghiệm niệm Phật mà có. Khởi
tâm niệm niệm buộc tâm niệm Phật, khi thành thói quen rồi
thì tự nhiên lúc nào cũng niệm Phật, đó chính là thâm tâm
niệm Phật. Nếu lúc niệm lúc không, ngày có ngày không, một
ngày nóng mười ngày lạnh, thì đó là thiển tâm niệm Phật. Nếu
vừa niệm Phật lại vừa khởi vọng tưởng, vừa niệm Phật lại vừa
hôn trầm ngủ gục thì đó là thiển tâm niệm Phật.
Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ ở vào
đầu đời Tống cuối đời Đường, đề xướng Thiền Tịnh song tu,
nhưng lại lấy Tịnh độ làm chỗ quy thú, mỗi ngày trì niệm
danh hiệu Phật A Di Đà 100.000 câu. Đây là tấm gương của
thâm tâm niệm Phật, phải niệm liên tục cả lúc ăn cơm, làm
công việc, đi vệ sinh, không lúc nào lìa câu niệm Phật mới
có thể một ngày niệm đủ số 100.000 câu. Nếu có thể thâm tâm
niệm Phật như vậy thì phiền não vọng tưởng không có cách gì
sinh khởi được.
Đủ chứng tỏ thâm tâm tức là tâm
vi tế miên mật, là định tâm thật sự, là huệ tâm sáng suốt.
Nếu có thể dùng thâm tâm niệm Phật, thì chính là nhất tâm
niệm Phật, như vậy không chỉ thông đạt sự nhất tâm, cũng có
thể tương ưng với lý nhất tâm. Không chỉ nhất định được vãng
sinh Tịnh độ phương Tây, còn có thể tự mình thể nghiệm được
Tịnh độ tự tính và Tịnh độ tự tâm. Thảo nào ngài Vĩnh Minh
Diên Thọ chủ trương Thiền Tịnh song tu, khác đường nhưng
chung mục đích đến. Nếu có thể thâm tâm niệm Phật cho đắc
pháp đắc lực, thì đã thông cả cửa ngộ của người tu thiền rồi.
4.- Hồi hướng phát nguyện
tâm
Ý cạn của hồi hướng là đem mục
đích niệm Phật mà cầu vãng sinh Tịnh độ phương Tây, là đem
tất cả công đức tu hành hồi hướng vãng sinh thế giới Cực lạc
phương Tây. Ý sâu của hồi hướng là phát tâm Bồ đề rộng độ
chúng sinh, nghĩa là nguyện đem công đức niệm Phật của mình
hồi hướng cho tất cả chúng sinh, đều lìa khổ được vui, đều
tin Phật học Pháp kính Tăng, đều niệm Phật, thành Phật. Cũng
đem công đức niệm Phật hồi hướng cải biến chúng sinh có tâm
cang cường, khiến cho họ hồi tâm tín ngưỡng Phật giáo, tu
học Phật pháp, sớm được vãng sinh về thế giới Cực lạc, sớm
thành tựu Vô thượng Bồ đề. Đủ biết mục đích hồi hướng niệm
Phật có hai : cầu nguyện mình được vãng sinh, cầu phước cho
tất cả chúng sinh đều được vãng sinh.
Không nên chỉ vì tự mình cầu
vãng sinh Tịnh độ mà niệm Phật, còn phải vì tổ tiên được
vãng sinh phương Tây mà niệm Phật, cũng nguyện cho tất cả
chúng sinh nhờ sự niệm Phật của chúng ta mà được vãng sinh
phương Tây. Cho nên ý của hồi hướng phát nguyện tâm và phát
đại Bồ đề tâm tương ưng tương thông.
Thông thường người ta đến tham
gia niệm Phật cộng tu Phật thất, chỉ mong tự thân được tiêu
tai giải nạn gặp điều may mắn. Khi chúng ta nghe lời khai
thị trên rồi, phải biết ngoài việc tự thân cầu phước cầu
tiêu tai khỏi nạn, chúng ta niệm Phật, lễ Phật, kinh hành,
làm các việc công đức, nên vì phát tâm Bồ đề rộng độ chúng
sinh. Xưa nay oán thân trái chủ của chúng ta, nhờ đem công
đức tu hành này hồi hướng cho họ, họ sẽ biến thành kẻ hộ trì,
tăng thượng duyên cho chúng ta, giúp chúng ta tiêu tai khỏi
nạn. Thế nhưng chẳng thể nói nhờ bạn niệm một vài câu danh
hiệu Phật mà có thể tiêu tai được, mà là do oán thân trái
chủ thấy bạn phát tâm Bồ đề đại nguyện, tương lai bạn sẽ
thành Bồ Tát, Phật, thì oán thân bình đẳng, cho nên không
quấy rầy bạn nữa, họ cũng nhờ sự tu hành niệm Phật của bạn
mà được lợi ích, đủ thấy niệm Phật rất tốt. Như vậy điều tốt
ấy từ đâu đến ? Là từ trong phát nguyện hồi hướng mà đến, là
từ trong sự phát Bồ đề nguyện rộng kết thiện duyên mà đến.
3.- BỐN LOẠI
TỊNH ĐỘ TÙY BẠN THÍCH
Người có trí tuệ biết rằng
phàm sự việc gì đều có nguyên nhân của nó, không nên oán
trời trách người, vì có oán trách cũng không bổ ích gì, tuy
sinh nơi ác thế ngũ trược của thế giới Ta Bà, nhưng vẫn có
thể hưởng được sự tự tại vô ngại của Tịnh độ nước Phật.
Hôm nay tôi sẽ giảng cho quý vị
về các loại Tịnh độ, tổng hợp từ trong các kinh luận thì có
thể chia làm bốn loại là : Tịnh độ nhân gian, Tịnh độ thiên
quốc, Tịnh độ Phật quốc, Tịnh độ tự tâm. Tôi đã viết một bài
khảo sát tư tưởng Tịnh độ đăng trong Hoa Cương Phật học học
báo, giới thiệu và so sánh rất rõ về bốn loại Tịnh độ trên,
về sau lại được trích đăng trong “Mục ngưu dữ tầm kiếm”, quý
vị muốn tham khảo thêm nên tìm đọc.
Hôm nay tôi sẽ từ góc độ của
cuộc sống hiện thực mà bàn về bốn loại Tịnh độ này.
1.- Tịnh độ nhân gian
Ý của Tịnh độ nhân gian là chỉ
cho hoàn cảnh sinh hoạt hiện thực của chúng ta tức là Tịnh
độ. Nơi chúng ta đang ở trong kinh Phật gọi là thế giới Ta
Bà đầy dẫy khổ nạn. Kinh A Di Đà hình dung là kiếp, kiến,
phiền não, chúng sinh, mạng đều là “ngũ trược ác thế” không
trong sạch. Thế nhưng lúc chúng ta nghe pháp Phật, tu hành
giới định huệ, thậm chí chỉ cần có một người tu hành, người
ấy liền thấy Tịnh độ, nếu có hai người tu hành, hai người ấy
có thể thấy Tịnh độ, nhiều người tu hành thì nhiều người đều
có thể thấy được Tịnh độ nhân gian. Nếu do tu hành mà thể
nghiệm được sự thanh tịnh của thân tâm thì Tịnh độ hiển hiện
trước mặt của bạn.
Hay trì tịnh giới thì không tạo
nghiệp ác, ba nghiệp thân khẩu ý dần dần thanh tịnh, tuy ở
tại nhân gian nhưng trong tâm không còn lo sợ cảm thọ khổ
báo, đã không sợ thì không có ưu sầu, không nghĩ đến việc
trốn thoát, cõi đời này há chẳng phải là Tịnh độ ư !
Hay tu thiền định, nội tâm tự
nhiên bình an. Bình an là không bị hoàn cảnh quấy rối mà
khởi phiền não, không vì sự động loạn của hoàn cảnh mà nội
tâm khởi sóng gió không yên. Tâm định như nước lặng yên, như
gương trong sáng, như khoảng trời xanh biếc vạn dặm không
mây, thì thân thể tuy trụ cõi đời xấu ác năm trược cũng
không khiến chúng ta cảm thấy phiền não bất an, có thể xem
thế giới dơ bẩn này là Tịnh độ nhân gian.
Ví như có một lần chiếc xe hơi
của chúng tôi đang chạy trên đường cao tốc, đột nhiên phát
hiện bên cạnh có một chiếc xe hơi chạy rất nhanh đang vượt
qua chiếc xe của tôi, ngoài ra, phía sau lại có một chiếc xe
hơi tăng tốc chạy bám sát cũng muốn vượt vào con đường phía
trước mặt chúng tôi, kết cuộc khiến cho xe của chúng tôi
tiến thoái không được, nếu chạy nhanh sẽ đâm vào xe trước,
còn chạy chậm sẽ bị xe sau đâm vào xe mình. Đệ tử của tôi
quá sợ hãi, người thì la lên, người thì tái mặt, tâm lo sợ
không yên. Tôi ngồi kế bên người lái xe trước sau vẫn giữ
thái độ trầm mặc. Một lúc sau qua khỏi nguy cơ rồi, họ bèn
hỏi tôi : Bạch sư phụ, sư phụ không sợ sao, còn một chút xíu
nữa là bị xe tông chết rồi ? Tôi nói : Đã có sư phụ ở trên
xe rồi còn gì phải lo sợ xe tông. Trên thực tế câu nói ấy là
để cho họ an tâm thôi. Tôi lại nói : Đã chết thì không chết
cũng không được, sợ cũng chẳng có tác dụng gì. Không chết,
dù thế nào cũng không chết, cho nên chẳng có gì phải sợ. Về
sau quý vị phải học tập thái độ như vậy, giữ tâm bình khí
hòa cẩn thận khi lái xe. Họ lại nói : Bạch sư phụ, chúng con
chưa có cách gì công phu được như vậy. Tôi bèn khuyến khích
họ : Quý vị mỗi ngày phải tập ngồi tịnh, giữ cho tâm được
bình tĩnh, khi gặp phải tình huống như vừa nãy sẽ không bị
hoảng hốt, biết cách ứng phó xử lý vấn đề. Nếu gặp việc nguy
cấp mà la toáng lên thì không giải quyết được gì cả.
Phải tùy cơ ứng biến, gặp việc
nguy không được rối loạn, nếu có định lực biết rằng thiên hạ
vốn vô sự thì mọi việc sẽ xử lý tốt.
Nếu hay tu trí tuệ thì không
khởi phiền não. Trí tuệ vô ngã có thể từ chỗ nghe Phật pháp,
thể nghiệm Phật lý, phản quan tự ngã, nhìn thấu nhân sinh mà
có được. Cũng có thể từ tu hành bố thí, rộng kết thiện duyên,
thường biết hổ thẹn, và từ trong chỗ tu thiền định mà có
được. Người có trí tuệ thì không dùng tâm phiền não để xử lý
việc của chính mình, lại khéo dùng tâm bình thường để đối
diện với hoàn cảnh trước mắt. Đã chấp nhận xem nhân gian là
hoàn cảnh tu hành đạo Bồ Tát, thì việc thiện ác, được mất,
phải trái, lợi hại xem như những hiện tượng do nhân duyên
giả sinh giả diệt, không vì vui quá phát cuồng, cũng không
phải đau khổ mà muốn chết.
Người có trí tuệ biết rõ sự
phát sinh của tất cả hiện tượng trên thế gian, đều có nguyên
nhân của nó, nếu có thể nỗ lực đem sự việc trước bổ cứu cho
sự việc sau thêm hoàn thiện thì rất tốt, oán trời trách
người thì vô ích, việc gì phải si mê phiền não cho mệt.
Cho nên người có trí tuệ tuy
sống nơi đời ác năm trược của cõi Ta Bà này, nhưng vẫn có
thể hưởng thụ được sự tự tại vô ngại của Tịnh độ Phật quốc.
2.- Tịnh độ thiên quốc
Tu hành thập thiện thì sinh lên
cõi trời (thiên quốc). Cõi trời vẫn nằm trong phạm vi tam
giới, vẫn còn hữu lậu hữu hạn. Do nhờ tích phước mà hưởng
thụ dục lạc ở cõi trời Dục giới, hoặc nhờ tu thiền định mà
hưởng thụ định lạc ở các cõi trời Thiền.
Song lúc hưởng thụ hết
phước báo ở cõi trời Dục, lúc định lực thối thất ở
cõi trời Thiền, lại phải từ cõi trời rớt xuống nhân gian
hoặc có thể đọa lạc nơi tam đồ ác đạo. Cho nên dù cõi trời
đáng ưa nhưng một ngày
nào đó lại trở thành khói mây qua mắt.
Chẳng qua sinh lên cõi
trời hưởng thụ phước trời
một thời gian nào thôi,
so với các hiện tượng tai nạn, những khổn ách ở nhân
gian thì cõi trời đã là
một mảng Tịnh độ rồi. Trong cõi trời Dục giới không
có loạn lạc, không có tội phạm, không có tai biến,
không có bệnh tật, muốn
ăn có ăn, muốn mặc có
mặc, bay đi tự tại, đến
đi tùy ý, thân nhẹ như hư không, sở cầu như ý, kỹ
nhạc tùy thân, tuyệt không tối tăm. Cho nên có rất nhiều tôn
giáo khuyến khích tín đồ cầu sinh thiên quốc. Chỉ có điều họ
không biết khi được sinh lên trời rồi một ngày nào đó cũng
hưởng hết phước, lúc ấy có năm thứ tướng suy hiện ra trước
mắt, cho dù quý như vua trời Đao Lợi, cũng chung số phận như
Kinh Niết Bàn quyển 19 đã nói “Thích Đề Hoàn Nhân, mạng sống
sắp hết, có năm tướng hiện : 1/ Y phục dơ bẩn. 2/ Hoa trên
đầu khô héo. 3/ Thân thể hôi hám. 4/ Nách ra mồ hôi. 5/
Không ưa chỗ ngồi”. Cho nên đối với người thông thường, cõi
trời là Tịnh độ. Còn đối với tín đồ Phật giáo thì cho rằng
thà sinh tại nhân gian tu học Phật pháp, còn hơn là sinh về
thiên quốc để hưởng phước trời.
Căn cứ theo kinh Phật, cõi trời
có hai loại, một là chỗ ở của hàng phàm phu hữu lậu, hai là
chỗ ở của hàng Bồ Tát bổ xứ. Như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
trước khi thành Phật thân sau cùng của Bồ Tát ở trên trời
Đâu Suất, đồng thời Ngài cũng giới thiệu đức Bồ Tát Di Lặc
sẽ đến nhân gian thành Phật, hiện nay cũng đang ở cõi trời
Đâu Suất tầng thứ tư của cõi trời Dục giới. Cõi trời này
chia thành hai viện nội ngoại, ngoại viện là nơi ở của hàng
phàm phu dục lạc, nội viện là khu giáo hóa của đức Di Lặc,
thật là Tịnh độ thiên quốc thanh tịnh. Ở đây khác với phàm
phu cõi trời Dục là thấy được pháp tướng của đức Di Lặc,
thân nghe ngài thuyết pháp, không chỉ hưởng thụ phước trời
mà còn tu hành Phật pháp. Cho nên nếu đại chúng muốn sinh về
cõi trời thì khuyên quý vị nên chọn nội viện Đâu Suất của Bồ
Tát Di Lặc thì tốt hơn. Đợi đến lúc Di Lặc hạ sinh nhân gian
thành Phật, chúng sinh ở nội viện Đâu Suất đều theo đức Di
Lặc giáng sinh nhân gian, đều trở thành đệ tử của Phật, cùng
chung tu hành, tịnh hóa nhân gian, Long hoa tam hội, người
người ở trong hội chúng đều được giải thoát. Chỉ cần sinh
lên nội viện Đâu Suất của Di Lặc thì đã bảo đảm được giải
thoát rốt ráo. Vì trong Kinh Di Lặc Hạ Sinh có nói Di Lặc sẽ
ở dưới cây Long Hoa. Hội đầu thuyết pháp có 96 ức người đắc
A la hán, đại hội thứ hai nói pháp có 94 ức người đắc A la
hán, đại hội thứ ba nói pháp có 92 ức người đắc A la hán.
Trong ba hội độ thoát tất cả chúng sinh hữu duyên. Cho nên
Phật giáo sử Trung Quốc, từ lúc Pháp sư Đạo An thời Đông Tấn
khai thủy, trải qua Đại sư Huyền Trang, Đại sư Khuy Cơ đời
Sơ Đường, Đại sư Thái Hư thời cận đại cho đến Pháp sư Từ
Hàng viên tịch tại Đài Loan, các ngài đều phát nguyện vãng
sinh Tịnh độ thiên quốc nội viện Đâu Suất.
3.- Tịnh độ Phật quốc
Phật quốc tại đâu ? Là chỉ cho
quốc độ do phước đức trí tuệ và bản thệ nguyện lực của chư
Phật tạo thành, Tịnh độ này có hai tác dụng : Một là thị
hiện công đức quả báo của Phật, hai là tiếp dẫn hóa độ tất
cả chúng sinh hữu duyên, tu học Phật pháp, đồng thành Phật
đạo, cho nên gọi là Tịnh độ Phật quốc.
Đức Thích Ca tại thế giới uế độ
này thành Phật, nhưng Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 24 thì nói
: “Chớ nói chư Phật xuất hiện nơi thế giới bất tịnh”. Kinh
Pháp Hoa quyển 5 cũng nói : “Núi Linh Thứu ở Ấn Độ nằm trong
cõi Tịnh độ”. Đủ chứng tỏ hễ chỗ nào có Phật nơi đó là Tịnh
độ Phật quốc. Song tổng hợp trong các kinh luận thì Tịnh độ
Phật quốc chia làm ba, chỗ ở Pháp thân Phật tự tính, chỗ ở
Báo thân tự tha thọ dụng, chỗ ở Ứng hóa thân Phật, cho nên
mới có luận về ba thân, bốn độ. Như các ngài Pháp Thường,
Trí Nghiễm, Đạo Tuyên, Đạo Thế đời Đường, có thuyết bốn loại
Tịnh độ là : Pháp tính, Thật báo, Sự, Hóa như : Pháp thân
Phật ở tại Pháp tính độ, Tự thọ dụng thân Phật ở tại Thật
báo độ, Tha thọ dụng thân Phật ở tại Sự Tịnh độ, Ứng hóa
thân Phật ở tại Hóa Tịnh độ. Ngài Thiên Thai Trí Khải thì
chủ trương : 1/ Phàm thánh đồng cư độ như thế giới Cực lạc
phương Tây. 2/ Phương tiện hữu dư độ, là chỗ ở của Bồ Tát
địa tiền và hàng Thánh nhân nhị thừa. 3/ Thật báo vô chướng
ngại độ, là chỗ ở của Pháp thân Bồ Tát từ Sơ địa trở lên. 4/
Thường tịch quang độ là chỗ qua lại của chư Phật Như Lai.
Bốn độ phối hợp với ba thân là lấy Ứng hóa thân Phật trụ ở
Đồng cư độ và Phương tiện hữu dư độ. Báo thân Phật trụ ở
Thật báo độ, Pháp thân Phật vĩnh trụ ở Tịch quang độ.
Từ Kinh A Di Đà có thể thấy
được Tịnh độ chư Phật sáu phương, cho đến quốc độ Cực lạc
của Phật A Di Đà, nếu theo chỗ thấy của ngài Trí Khải đều là
chỗ ở của Ứng hóa thân Phật, trên thực tế có Tịnh độ chư
Phật mười phương vô lượng vô số, và chúng ta có nhân duyên
rất lớn với cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà ở thế giới Cực lạc
phương Tây. Nương bản nguyện của Phật, phàm phu có thể vãng
sinh Phật quốc còn ba cõi Tịnh độ kia đều phải tự tu phước
trí mới được kết quả hiện tiền.
Điều kỳ lạ là chúng ta ở thế
giới này, thường thường lúc sống cầu xin Đức Phật Dược Sư độ
cho được trường thọ bất tử, tiêu tai khỏi nạn, nhưng lại
không nghĩ đến về cõi Tịnh độ Lưu Ly Quang phương Đông, lúc
sắp chết chỉ mong cầu vãng sinh thế giới Cực lạc phương Tây
của Phật A Di Đà, dường như hai vị Phật này, một vị là thọ
tinh, một vị là thần chết. Loại quan niệm này đã đem tín
ngưỡng Tịnh độ làm sai lệch đi. Thật ra trong “Đông phương
Tịnh độ phát vi” của Pháp sư Ấn Thuận có nói : “Sự nhiếp hóa
của Tịnh độ phương Đông đối với hàng chúng sinh ở cõi này,
không những sau khi chết được an ổn, mà hiện đời cũng có thể
miễn trừ các loại tai nạn nguy ách”. Ngài lại nói : “Cầu
vãng sinh phương Tây mà không thành tựu, cũng có thể thừa
uy quang của Phật Lưu Ly
Quang, lúc sắp mạng chung, được sự nhiếp dẫn của tám
vị đại Bồ Tát mà đến được phương Tây”. Pháp sư Ấn Thuận còn
nói : “Phật và Tịnh độ là
sư phạm, là thế giới lý tưởng của chúng ta, nhưng
đồng thời chẳng phải chỗ hướng ngoại tìm cầu mà là thể hiện
đức hạnh ở bên trong”. Ngài lại nói : “Nếu giác ngộ được
pháp tính thanh tịnh, viên mãn rốt ráo, đó là Lưu Ly Quang
Phật”. Đủ chứng tỏ tu pháp môn Dược Sư cũng có thể tương
thông với Tịnh độ của Phật A Di Đà phương Tây. Kẻ phàm phu
công cạn chướng sâu, tu Tịnh độ phương Đông và Tịnh độ
phương Tây đều được vãng sinh Phật quốc. Nếu là chúng sinh
công sâu chướng ít, dù chuyên tu pháp môn Tịnh độ nào cũng
sẽ tự thân thấy được Di Đà Như Lai tự tính, Phật Lưu Ly
Quang Pháp thân.
Song mục đích Tịnh độ Phật Dược
Sư, ở chỗ khích lệ nhân gian, tịnh hóa nhân gian, đó là sự
thật, vậy mà trong Kinh Dược Sư cũng vẫn tán thán Tịnh độ
phương Tây. Vì Tịnh độ của Phật A Di Đà là ba căn thượng
trung hạ đều độ tận. Bất luận thượng trí hạ ngu chỉ cần tin
vào nguyện lực của Phật A Di Đà, nguyện sinh về Tịnh độ
phương Tây liền được Đức Phật từ bi nhiếp thọ, tiếp dẫn vãng
sinh. Do đó trong các kinh điển Đức Phật Thích Ca đều hết
sức tán thán nguyện lực rộng sâu của Phật A Di Đà. Nhất là
khiến cho rất nhiều chúng sinh nghị lực yếu kém, không đủ tự
tin đều có thể nhờ nguyện lực này mà được bảo đảm vãng sinh
Phật quốc. Nhờ nguyện lực này mà lòng người được an định,
tín tâm được tăng trưởng, được công đức lớn. Cho dù trình độ
tu hành của mình như thế nào đi nữa, chỉ cần đầy đủ đức tin
vào bản nguyện lực của Phật Di Đà, cho đến niệm Phật mười
tiếng thì có thể vãng sinh cõi nước Cực lạc. Đủ chứng tỏ
pháp môn Tịnh độ của Phật A Di Đà có chỗ thù thắng độc đáo
như thế.
4.- Tịnh độ tự tâm
Tịnh độ tự tâm tức là nói ở
trong tâm của mỗi người, dù phàm hay thánh vốn đầy đủ Phật
tính. Cũng tức là từ xưa tới nay chưa từng xa lìa Tịnh độ
Phật quốc. Hôm qua đã nói đến thâm tâm, tức là tâm chúng
sinh và tâm Phật tương đồng, thế giới chúng sinh và cõi Phật
không khác. Chẳng qua tâm chúng sinh bị phiền não ngăn che,
không cách gì thấy được bản tâm thanh tịnh bất động, cũng
không cách gì thể hội được sinh hoạt ở Tịnh độ Phật quốc.
Nếu có thể soi thấu phiền não lưới trần, xét rõ chỗ sâu xa
của tâm thì sẽ phát hiện tâm Phật tức là tâm mình, thế giới
này với Phật quốc giống nhau. Bởi vì nếu tâm thanh tịnh nhìn
thế giới này cũng thanh tịnh, nếu tâm không thanh tịnh thì
hoàn cảnh sinh hoạt sẽ là khổ hải vô biên.
Thế giới Hoa Tạng trong Kinh
Hoa Nghiêm, pháp môn Tâm địa Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng,
Tịnh độ Linh Sơn trong Kinh Pháp Hoa, chân tâm, thâm tâm
trong Kinh Duy Ma là Tịnh độ Bồ Tát. Lại nói : “Tùy tâm mình
tịnh thì quốc độ tịnh” v.v… đều là chỉ cho Tịnh độ tự tâm.
Ngay như tại Trung Quốc, các vị như Tri Lễ và Nguyên Chiếu
đại học giả Thiên Thai đời Tống, các bậc thầy như Duy Tắc
đời Nguyên v.v… đều chủ trương tư tưởng duy tâm Tịnh độ, đề
xướng thuyết “Duy tâm Tịnh độ, bản tính Di Đà”. Và nói, mười
phương vi trần quốc độ chỉ là cõi
trong tâm của ta. Lại nói
: “Cực lạc há chẳng phải duy
tâm Tịnh độ sao ?”. Đại
sư Ngẫu Ích cuối đời Minh cũng
chủ trương : “Tâm này là
Phật, tự tâm làm Phật”. Dùng niệm Phật tam muội mà
vượt thẳng tam giới liền thấy duy tâm Tịnh độ. Dùng phương
tiện tha lực mà vượt ngang tam giới, thì sinh Tịnh độ phương
Tây. Điều này cũng rất giống với chỗ nói trong Đàn Kinh của
Lục Tổ Huệ Năng bên Thiền tông như : “Người mê niệm sinh cõi
kia, người ngộ tự tịnh tâm mình”.
Làm thế nào để tự tịnh tâm của
mình ? Người thường không dễ gì thể hội được, đương nhiên
cũng không làm được. Nếu người tu pháp môn niệm Phật,
ngay lúc niệm Phật đem
tất cả tạp niệm trong tâm
buông bỏ hết, chỉ chuyên
tâm niệm Phật, tâm này với
Phật tương đồng, trong
tâm lúc ấy không có tạp niệm
như lo sợ, hoài nghi,
tham, sân, kiêu ngạo v.v… Nếu có thể tiến thêm một
bước, trong khoảng nhất thời toàn bộ tạp niệm lìa bạn mà đi,
lúc ấy cùng với Tịnh độ
của Phật tương ưng. Một niệm tương ưng một
niệm thấy Tịnh độ, hai
niệm tương ưng hai niệm là
Tịnh độ, niệm niệm tương
ưng niệm niệm trụ nơi Tịnh độ.
Tuy ở giai đoạn phàm phu
không thể niệm niệm tương ưng với Phật, không thể
niệm niệm trụ nơi Tịnh độ.
Nhưng nếu bạn niệm niệm niệm Phật,
niệm niệm đặt nền tảng ở tín tâm, thâm tâm, chí thành tâm, hồi
hướng phát nguyện tâm thì sẽ dần nhập cảnh diệu, thiên hạ
vốn vô sự, vọng tưởng từ đâu khởi.
Niệm niệm đều ghi nhớ
danh hiệu Phật, giữ cho
thường hằng, thời gian
không lâu có thể tu thành niệm
Phật tam muội, Tịnh độ tự
tâm hiện bày rõ ràng.
Người công phu cạn có thể
cảm ứng được Tịnh độ phương Tây, người công phu sâu
thì thấy được Phương tiện độ và Thật báo độ, cho đến Thường
tịch quang Tịnh độ, chỉ có Phật với Phật mới qua lại thấy
được.
Tôi có một người đệ tử tu hành
ở trong núi sâu, ban ngày thì rất tốt, chiều tối khi ngồi
thiền nghe rất nhiều chúng sinh ở gần đó dọn nhà, nhóm họp,
cãi nhau bèn mở cửa ra quan sát rất kỹ, nhưng không thấy gì
cả, lúc trở lại ngồi thiền tiếp thì lại nghe những tiếng ấy.
Ông ta nghĩ : Hiện tại tâm ta bị cảnh chuyển, phải làm sao
cho cảnh tùy tâm chuyển mới đúng. Vì thế ông ta quán tưởng
những tiếng quấy nhiễu kia đều là y chính trang nghiêm của
thế giới Cực lạc, đều là tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, nghe âm thanh này cũng giống như nghe âm thanh của thế
giới Cực lạc phương Tây. Quán tưởng như thế chẳng bao lâu
những âm thanh kia không còn nghe nữa.
Lấy một ví dụ khác xuất phát ở
Nghị viện Văn hóa, có một vị nhân viên cao cấp của chính phủ
đương nhiệm, mới vừa học Phật nhưng lại học chú Chuẩn Đề.
Mỗi lần ông đến nghị viện, các nghị viên đều dùng đủ loại
ngôn từ để chọc giận ông, làm nhục ông, phê bình ông. Trước
đây ông rất dễ nổi nóng, thậm chí có lúc muốn từ quan không
làm nữa, nhưng nay, ông đã định tâm bình tĩnh lắng nghe tất
cả, thuật hàng phục của ông là mặc niệm chú Chuẩn Đề, viết
chú Chuẩn Đề, một bên nghe nghị viên chỉ trích, một bên tâm
niệm một bên tay chép. Lúc nghị viên trách mắng ông, vẫn cho
là ông đang ghi chép rất nghiêm chỉnh. Lúc bị trách mắng đã
không phản bác, lại còn mỉm cười vui vẻ. Sau khi các nghị
viên la mắng xong, ông chỉ đứng lên nói : “Xin đa tạ các
nghị viên, tôi xin tiếp thu hết tất cả”. Lần nào ông cũng
làm như vậy và cảm thấy phiền não ít đi, các nghị viên đối
với ông cũng hòa nhã lại, thật là đạt được mục đích cảnh tùy
tâm chuyển.
Đủ chứng tỏ, nếu không bị hoàn
cảnh làm cho dao động trong tâm mình chính là Tịnh độ. Tịnh
độ tự tâm tuy không ở ngoài tâm, song hoàn cảnh bên ngoài
cũng tùy theo tâm bạn mà chuyển. Đây là điều rất thiết thực,
cứ làm rồi sẽ thấy.
Niệm Phật liền thấy Phật,
tâm tịnh quốc độ tịnh.
4.- SIÊU ĐỘ KẺ CÒN
NGƯỜI MẤT
Siêu độ là dùng sự hiểu
biết và thực hành, tín ngưỡng và kinh nghiệm tu học Phật
pháp, giúp cho người ta từ trong khổ nạn đạt được an lạc, từ
trong nguy hiểm đạt được an toàn, từ trong trói buộc đạt
được giải thoát.
Nhân dịp Thanh minh báo ân, rất
nhiều người vì tiên vong thân hữu lập bài vị siêu độ. Cho
nên buổi khai thị chiều nay là : Siêu độ gồm có hai loại lớn
: 1/ Siêu độ đối với vong linh. 2/ Siêu độ đối với người
sống.
Ý nghĩa siêu độ là dùng sự hiểu
biết và thực hành, tín ngưỡng và kinh nghiệm tu học Phật
pháp, giúp cho người ta từ trong khổ nạn đạt được an lạc, từ
trong nguy hiểm đạt được an toàn, từ trong trói buộc đạt
được giải thoát.
Có một vị cư sĩ từ Cao Hùng đến,
chiều nay
sẽ siêu độ cho tôi, vì ông ấy thấy tôi đã suy yếu, có hơi mà
không có lực, công việc thì lại bề bộn quá nhiều, cho rằng
tôi sống rất thống khổ, cho nên tuyển tặng tôi một thùng dầu
thanh lương tinh chế rất bổ dưỡng, khuyên tôi nên uống sẽ
khỏe mạnh trở lại. Đủ biết tôi được ông ta siêu độ, tôi cũng
sẽ siêu độ lại quý vị.
1.- Siêu độ vong linh
Trong ấn tượng của người Trung
Quốc nói chung, cho siêu độ là làm Phật sự, chỉ vì người mất
làm các nghi thức như niệm Phật, tụng kinh, bái sám, Mông
sơn thí thực, Diệm khẩu thí thực v.v… nhờ sức Phật siêu tiến,
khiến cho người mất được vãng sinh Phật quốc hoặc chuyển
sinh cõi lành.
Do đó, đối với người
Trung Quốc, siêu độ có
hai ý nghĩa : một là theo
thói tục, trong nhà có người
qua đời, theo tập quán
mời Tăng Ni hoặc Đạo sĩ đến tụng vài ba quyển kinh,
cử hành một số nghi thức tôn giáo, mới cảm thấy an tâm,
ngược lại không những bị thân hữu bàn tán mà dường như trong
tâm cũng không yên. Xin hỏi đó là vì siêu độ người sống, hay
là vì siêu độ người chết ? Thật ra rất mập mờ, chính vì cầu
an tâm nên mới mời Tăng Ni Đạo sĩ đến niệm kinh siêu độ,
người này không nhất định tin người mất có ích lợi, chỉ vì
không dám làm trái với tập tục mà thôi. Hai là thật vì siêu
độ vong linh, tin tưởng
Phật pháp có thể khiến cho người mất siêu sinh thoát
khổ, lúc sắp mạng chung vì họ mà trợ niệm. Mỗi thất đều có
tụng kinh, trong 49 ngày thường làm Phật sự, tu phước cúng
dường, nhờ lời kinh tiếng kệ và danh hiệu Phật Bồ Tát, khiến
cho vong linh nghe được hiểu được và bỏ những oán hận, buồn
bực trong tâm, cùng tất cả các thứ chấp
trước, nhờ đó mà tâm khai
ý mở, không bị đọa vào ác đạo, được sinh về thiện đạo,
nếu thiện căn sâu dầy có thể vãng sinh Tịnh độ của Phật A Di Đà. Hoặc nương theo
nguyện lực từ bi của Phật Bồ Tát, siêu độ vong linh thoát
khỏi khổ thú, phương pháp này
nên y theo lời dạy trong
Kinh Địa Tạng mà thực hành.
Phương pháp siêu độ vong linh
theo như trong kinh Phật có thể nêu ra hai cuốn như :
1/ Kinh Vu Lan Bồn :
Kinh này do Đức Thích Ca vì Tôn giả Mục Kiền Liên muốn siêu
độ vong mẫu bị đọa trong loài ngạ quỷ mà nói. Phương pháp
siêu độ là vào lúc chư Tăng tự tứ trong ngày 15 tháng 7 “sắm
cơm trăm vị trái cây năm thứ, đặt vào trong bồn các thứ dầu
thơm, đèn cầy, tất cả những thứ ngon ngọt cùng giường nằm
chiếu lót, cúng dường mười phương đại đức chúng Tăng”. Người
cúng dường các thứ ấy cho chư Tăng nhân ngày tự tứ, hiện tại
cha mẹ, sáu loại thân thuộc được ra khỏi cảnh khổ tam đồ,
liền được giải thoát, ăn mặc tự nhiên đầy đủ. Nếu cha mẹ
hiện còn được hưởng phước lạc trăm năm, nếu đã mất rồi, cha
mẹ bảy đời được sinh lên trời, tự tại hóa sinh, được vào cõi
trời Hoa Quang, hưởng vô lượng khoái lạc. Đó là lấy công đức
cúng dường Tăng ngày 15 tháng 7 làm Phật sự siêu độ tiên
vong, trước lúc cúng dường thỉnh cầu chư Tăng tụng kinh niệm
Phật siêu độ cho người mất.
2/ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện : Được lưu truyền tương đối sâu rộng trong Phật
giáo Trung Quốc, vì kinh này đề xướng tư tưởng hiếu thân,
lại đề xướng pháp môn siêu độ vong thân cẩn trọng đối với
người chết, cho nên đặc biệt được dân tộc Trung Quốc tôn
sùng vì rất gần với văn hóa Nho gia. Trong Kinh Địa Tạng có
nói : “Chúng sinh tạo ác ở Diêm Phù Đề, người mới chết, sau
khi trải qua 49 ngày không người kế tự, vì họ mà làm công
đức, cứu bạt khổ nạn, lúc sống lại không làm được nhân lành,
căn cứ tội nghiệp xưa mà cảm nơi địa ngục”. Lại nói : “Như
sau khi người đã chết, lại có thể trong 49 ngày vì người ấy
mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể giúp cho người chết
đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sinh lên cõi trời hoặc người
hưởng lấy nhiều sự rất vui”. Lại có đoạn nói : “Thần hồn vơ
vẩn mịt mờ, chưa rõ là tội hay phước, trong 49 ngày như ngây
như điếc… Người mất đó lúc chưa được thụ sinh, trong 49 ngày
luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước
lành để cứu vớt họ. Qua khỏi 49 ngày thời cứ theo nghiệp mà
thọ lấy quả báo”. Những dẫn chứng trên nêu rõ người ta sau
khi chết trong vòng 49 ngày mong muốn thân bằng quyến thuộc
vì họ mà làm phước để siêu độ, qua khỏi thời gian đó phải
chuyển sinh tùy theo nghiệp mà thọ báo. Tuy siêu độ vẫn có
một số tác dụng, nhưng không phải hữu dụng liền.
Đặc biệt trong thất đầu rất là
trọng yếu, Kinh Địa Tạng nói : “Giả sử thần thức của người
ấy phân tán đến hơi thở đã dứt, thời 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày,
4 ngày cho đến 7 ngày, lớn tiếng tán thán (ca ngợi việc tu
phước hành thiện của người chết), lớn tiếng tụng kinh, sau
khi người đó chết cho dù tội nặng từ trước như tội ngũ vô
gián cũng vĩnh viễn được giải thoát”. Điều này nói rất rõ
siêu độ cho người chết trong thời gian bảy ngày đầu rất tốt.
Thế nhưng siêu độ tốt nhất vẫn
là lúc còn sống tự mình phải tu hành. Cho nên Kinh Địa Tạng
nói : “Sau khi người mạng chung, hàng quyến thuộc lớn nhỏ,
vì người chết mà làm các điều phước lợi, tất cả việc về
Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức, người chết hưởng
một phần, còn sáu phần công đức người sống hưởng. Vì cớ ấy
nên những thiện nam tín nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời
nói này nên cố gắng tu hành sẽ hưởng trọn phần công đức”.
Nếu lúc sống chưa biết tin Phật, chưa tu các thiện pháp, sau
khi chết còn ở giai đoạn trung ấm thân trong vòng 49 ngày
mới phải nhờ thân thuộc vì họ tu phước siêu độ. Như lúc còn
sống sớm tin Phật pháp, tinh tấn niệm Phật hồi hướng cầu
nguyện vãng sinh Tịnh độ phương Tây, đến lúc lâm chung liền
có ba vị Thánh : Một vị Phật và hai vị Bồ Tát ở phương Tây
đến tiếp dẫn, thân nhân thiện hữu vì người đó mà trợ niệm,
giúp cho tín tâm người đó được tăng trưởng, vãng sinh Cực
lạc quốc. Cho nên trong các kinh luận đều khuyến tấn người
ta lúc sinh tiền nên cố gắng tu hành.
2.- Siêu độ người sống
Siêu độ người sống quan trọng
hàng đầu. Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo, kinh pháp
mà Ngài nói, đối tượng chủ yếu trong các bộ kinh Đại Tiểu
thừa chính là bảy chúng đệ tử tại nhân gian, kế đến là thiên
thần, cho nên gọi Phật là thầy của trời người hoặc giáo chủ
của người trời.
Chúng hội trong các kinh Đại
thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, ngoài chư Phật Bồ Tát và hàng
nhị thừa Thánh giả là thất chúng nhân gian và bát
bộ thiên chúng. Chúng
sinh ở ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh không
có phước báu tham dự đại hội. Tuy trong Kinh Địa Tạng quyển
Trung có nói : “Đức Thế Tôn… nói khắp tất cả cõi nước
chư Phật, chư Bồ Tát Ma
ha tát và thiên long quỷ
thần, nhân cùng phi nhân
v.v… nghe ta ngày nay ca
ngợi tán thán Ngài Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát”. Đủ
chứng tỏ quỷ thần nói
trên là chỉ cho quỷ nhiều
phước chứ không phải quỷ
tội ác hoặc ngạ quỷ, nên
được xem là quỷ thần ở
Địa Cư thiên và Không Cư
thiên. Vì thế trong kinh
Địa Tạng lại nói : “Tuyên thuyết về các việc nhân quả
của ngài Địa Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho hàng trời người… vì
các ông nói lược về những phước đức của ngài Địa Tạng Bồ Tát
làm lợi ích cho người và trời”. Kinh Vô Lượng Thọ cũng vì :
“Khai hóa cho tất cả chư thiên và nhân dân mà nói kinh này”.
Đặc biệt cường điệu lợi ích nhân thiên, chính là biểu thị sự
siêu độ chủ yếu của Phật pháp là con người (nhân), thứ đến
là trời (thiên).
Trong quyển 36 Kinh Tăng Nhất A
Hàm nói rõ lúc Đức Phật ra đời, vì người trời mà rộng diễn
giáo pháp, đạt đến chỗ Niết bàn. Vậy mà chúng sinh ở trong
địa ngục, loài súc sinh, ngạ quỷ, người sống ở biên địa, ở
Trường thọ thiên đều không nghe, không thấy. Quyển 26 Kinh
Tăng Nhất A Hàm nói : “Chư Phật Thế Tôn, đều xuất hiện nơi
nhân gian”. Lấy thân thể loài người để thành Phật, cũng lấy
loài người làm đối tượng chủ yếu để nhiếp hóa họ. Cho nên
cha của Da Thâu Già, vị đệ tử tại gia đầu tiên của Phật là
người. Đức Phật tại Lộc Uyển sơ chuyển pháp luân độ năm vị
đệ tử Tỳ kheo là người. Thường theo Phật có 1250 vị đại A la
hán toàn là người. Cho đến lúc Ngài sắp nhập Niết bàn, người
đệ tử cuối cùng được độ là Tu Bạt Đà La 120 tuổi cũng là
người. Đủ chứng tỏ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trên mặt lịch sử,
đệ tử Tăng tục bảy chúng theo Ngài tu học đều là loài người.
Như vậy tương lai lúc Đức Phật Di Lặc hạ sinh nhân gian, các
đệ tử của Ngài ở nội viện Đâu Suất, cũng đều phải hạ sinh
nhân gian, dùng thân phận con người, nghe Phật pháp, rồi
chứng đạo giải thoát.
Siêu độ đối với người sống, ý
là vận dụng sự tin hiểu tu chứng pháp của Phật mà siêu việt
nhà lửa tam giới, vượt qua biển khổ sinh tử.
Ví dụ nhà lửa xuất phát từ phẩm
Thí Dụ trong Kinh Pháp
Hoa, như : “Tam giới không an, giống như
nhà lửa. Các khổ lẫy lừng, thật đáng sợ hãi, thường có các thứ
sinh già bệnh chết lo sợ v.v… như lửa
cháy mãi không dứt”. Cho
nên lấy xe dê, xe nai, xe
trâu lớn để thí dụ Phật nói pháp phương tiện và
pháp cứu cánh như nhị
thừa, tam thừa và duy nhất Phật
thừa nhằm đưa chúng sinh
ra khỏi nhà lửa sinh tử
trong tam giới. Thí dụ
biển khổ được thấy rất nhiều
trong các kinh. 1/ Phẩm
Thọ Lượng trong Kinh Pháp
Hoa nói : “Ta thấy các chúng sinh đắm chìm trong biển khổ”. 2/ Kinh Lăng
Nghiêm quyển 4 có nói : “Hướng dẫn chúng sinh u mê ra khỏi
biển khổ”.
3/ Kinh Tâm Địa Quán nói : “Thường ở trong biển khổ sinh tử
làm đại thuyền sư cứu vớt chúng
sinh”. Nếu theo thứ tự
nhân quả trước sau mà xét thì nhà lửa là phiền não tham sân
v.v… Biển khổ là quả báo của sinh tử v.v… Nếu chúng sinh
không kịp thời tu học Phật pháp, siêu thoát biển khổ sinh tử
ba cõi, thì cứ mãi mãi từ nơi phiền não mà tạo nghiệp, do
tạo nghiệp mà chịu khổ báo, lúc thọ khổ báo lại sinh
phiền não mà tạo nghiệp, về sau lại chịu khổ báo
nữa, cứ thế mà xoay vần
nổi chìm trong biển lớn vô biên.
Ở trong biển khổ sinh tử mênh
mông này, làm thế nào để được lên bờ, nếu không nhờ vào sự
cứu độ của thuyền từ Phật pháp, thì khó có hy vọng thoát ra
khỏi. Thuyền từ Phật pháp là những lời dạy của Đức Phật như
Tam quy, Ngũ giới, Thập thiện, Cụ túc giới, Bồ Tát giới cho
đến Tam học giới định huệ, hoặc Lục độ tứ nhiếp, tự lợi lợi
tha.
Đức Phật đầu tiên thuyết pháp ở
Lộc Dã uyển, tức là chuyển pháp luân Tứ đế gồm khổ tập diệt
đạo. Biết có khổ thì không tạo tác nhân để chịu khổ, muốn
diệt tuyệt gốc khổ thì phải tu chứng Bát chánh đạo, 37 Bồ đề
đạo phẩm, cho đến tất cả pháp môn như tam học, lục độ v.v…
không chỉ tự cầu diệt khổ, cũng cần phải giúp người diệt khổ,
tự lợi rồi phải lợi tha. Chúng ta cần phải học hiểu các pháp
trên, vận dụng chúng để được lợi ích cho mình và cứu giúp
mọi người.
3.- Niệm Phật siêu độ
Pháp môn siêu độ dễ dàng nhất
là niệm Phật. Bất luận lúc nào, bất luận căn cơ nào chỉ cần
niệm Phật liền được lợi ích. Nếu lấy mục đích mà nói thì
pháp môn niệm Phật Di Đà Tịnh độ phương Tây đích thực là lấy
việc sau khi chết vãng sinh về thế giới Cực lạc làm chính.
Song Kinh A Di Đà cũng nói : Bộ kinh này được hết thảy chư
Phật hộ niệm. “Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nào nghe
kinh này mà thọ trì, cùng nghe được danh hiệu của chư Phật,
thì người thiện nam thiện nữ ấy, đều được tất cả chư Phật hộ
niệm, đều được bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chính đẳng
Chính giác”. Kinh Pháp Hoa nói : “Niệm Phật một tiếng, tội
diệt hà sa”. Dù niệm Phật nào cũng đều tiêu trừ tội lỗi,
tiêu tai khỏi nạn, được lợi ích hiện tại, cũng được lợi ích
cả đời sau. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật cũng nói : “Hai
tay chắp lại, xưng niệm
Nam mô A Di Đà Phật, xưng
danh hiệu Phật rồi trừ
được tội lỗi trong đường sinh tử 50 ức kiếp”. Kinh
này lại nói : “Chí tâm xưng danh hiệu Phật, trong mỗi một
niệm trừ được tội lỗi trong đường sinh tử 80 ức kiếp”. Lại
nói : “Nếu có người niệm Phật, nên biết người này chính là
hoa Phân Đà Lợi (hoa sen thanh tịnh) trong loài người, đức
Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát là bạn tốt của
người ấy, và người này ngồi ở đạo tràng, trụ tại nhà của chư
Phật”. Người niệm Phật có nhân cách cao thượng tinh khiết
giống như hoa sen trong loài người, đương nhiên đây chính là
biểu trưng của tự lợi lợi tha. Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ có
nói : “Người nghe được danh hiệu Đức Phật A Di Đà, vui mừng
hớn hở, cho đến một niệm nên biết người này được lợi ích lớn,
có đầy đủ công đức vô thượng”. Nghe danh hiệu Phật tâm sinh
hoan hỷ, cho đến chỉ cần
một niệm cũng được công đức vô thượng, huống chi
thường thường niệm Phật, tùy chỗ niệm Phật.
Trong Tông Kính Lục của Thiền
sư Vĩnh Minh Diên Thọ thường nói đến : “Một niệm tương ưng
một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật”.
Chỉ cần niệm Phật không
luận là tán tâm hay chuyên tâm đều có công đức.
Chuyên tinh nhất tâm đương nhiên là tốt, mà tán tâm niệm
Phật cũng không đến nỗi kém, chỉ cần muốn niệm là niệm, niệm
niệm đều tốt. Một niệm niệm Phật, một niệm
liền từ vọng tưởng
ác nghiệp mà được siêu độ, niệm niệm niệm Phật, niệm niệm
đều từ vọng tưởng ác nghiệp mà được siêu độ. Có người siêu
độ được một phút, có vài người siêu độ được một giờ hoặc một
ngày. Quý vị ở đây niệm Phật bảy ngày tức là siêu độ bảy
ngày. Quý vị Bồ Tát thuộc tổ Tùy hỷ, trong thời gian tùy hỷ
một hoặc hai cây hương, miệng thanh tịnh, tai thanh tịnh,
mắt thanh tịnh, tức là từ thế giới trần lao, nói chuyện
huyên thuyên, ồn ào nhốn nháo, hoa cả con mắt liền được siêu
độ tức khắc.
Đến như mong muốn đạt
được siêu độ vĩnh cửu là chỉ cho người đại giải thoát
đại ngộ triệt để, đòi hỏi người này phải có tâm tu hành dài
lâu, thường hành đạo Bồ Tát, ngày ngày tăng trưởng trí tuệ,
thời thời giữ lòng từ bi, độ mình rồi lại độ người.
4.- Tự độ độ người
Người mê phải nhờ Phật độ,
người ngộ thì mình tự độ. Bước đầu cần nhờ người khác độ,
khi đã ở trên đường, có phương hướng rồi, thì phải học theo
bi nguyện của Phật Bồ Tát, phát nguyện tự độ rồi độ người.
Tôi thấy có một ông già, chưa biết niệm Phật tu hành, tôi
bèn khuyên ông nhưng ông lại nói : “Việc này để cho con cháu
của ông làm, sau khi ông qua đời chúng sẽ siêu độ cho ông”.
Tôi nhận thấy con của ông đều rất hiếu thuận, tôi hỏi ý kiến
của chúng, chúng đều đáp là : “Dạ đúng như thế, lúc đó sẽ
bái thỉnh sư phụ hoan hỷ đến tụng kinh niệm Phật, trợ giúp
cho ông được siêu độ”. Họ chỉ biết hy vọng người xuất gia
giúp cho họ siêu độ mà thôi.
Lần này là khóa Phật thất thanh
minh báo ân. Vậy báo ân gì ? Báo tất cả ân mà mình thọ, chủ
yếu là thân ân. Lấy cái gì để báo ? Lấy siêu độ để báo ân.
Siêu độ ai ? Siêu độ vong linh, cũng là siêu độ chính mình.
Thật ra do công đức niệm Phật siêu độ chính mình, khiến cho
tiên vong thân hữu đã qua đời cũng nhờ đó mà được siêu độ.
Không chỉ siêu độ chính mình, siêu độ cho vong linh, mà còn
do sự tu hành của quý vị cải thiện được hành vi của ba
nghiệp thân khẩu ý. Sau khi trở về nhà hoặc nơi làm việc,
quý vị nên đem ánh sáng trí tuệ và lòng từ bi cảm hóa và
siêu độ cho người thân và bạn đồng nghiệp trong sinh hoạt
hằng ngày được thấm nhuần Phật pháp thì thật là công đức vô
lượng.
Tu Phật thất xong, trở về đời
sống hằng ngày của mình, tất cả những suy nghĩ, lời nói,
nhân cách, cử chỉ, cư xử với người, chúng ta phải nên tỏa
sáng vị đạo của người niệm Phật, đó chính là tinh thần từ
bi, trí tuệ, là biểu thị công năng giáo hóa thế gian mà bản
thân mình đã được siêu độ rồi cần phải siêu độ cho người.
5.- SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG LÀM HẰNG KHÓA
Sám hối là thừa nhận bản
thân mình có bệnh, biết tìm thuốc, cầu chữa trị, chịu uống
thuốc. Nếu “dấu bệnh tránh thuốc”, bệnh càng thêm nặng, đi
đến chỗ không thể cứu chữa được.
1/ Chủng loại và phương pháp
sám hối
Mỗi tối trong thời gian Phật
thất, chúng ta đều xướng tụng bài kệ sám hối, vừa lễ vừa
xướng : “Con xưa đã tạo
bao nghiệp ác, đều do vô thủy tham sân
si, từ thân miệng
ý phát sinh ra, nay đối trước Phật cầu sám hối”. Đồng thời
cũng khuyên tất cả quý vị ngoài công khóa cùng tu, mỗi ngày
nên tự mình lễ Phật ít nhất là 300 lễ trở lên. Mục đích là
để sám trừ những nghiệp
ác từ vô thủy đến nay, tiêu trừ chướng ngại vô tận,
để cho việc tu hành được thuận lợi.
Do đó tối hôm nay tôi sẽ khai
thị cho quý vị về “Sám hối nghiệp chướng”.
Từ “Sám hối” trong các kinh
luật Đại Tiểu thừa thường thấy và cũng rất coi trọng. Bởi vì
tác dụng của sám hối cũng giống như người ta mỗi ngày đều
phải súc miệng, rửa mặt vậy. Đối với Đại thừa nếu chưa đạt
đến Sơ Địa thì không thể sáu căn thanh tịnh. Đối với Tiểu
thừa nếu chưa đạt đến địa vị Sơ quả thì không thể trì giới
thanh tịnh. Trên nguyên tắc tu đến địa vị sáu căn thanh tịnh
mới không đến nỗi tâm tạo tội ác. Cho nên đại chúng học Phật
còn ở địa vị phàm phu cần phải mỗi ngày sám hối, mới có thể
mỗi ngày một thêm mới, mỗi ngày một thêm tiến bộ.
Sám hối vốn thuộc thời khóa
phải tu của phạm vi giới luật, người đệ tử Phật là do thọ
Tam quy ngũ giới, cho đến Cụ túc và Bồ Tát giới mà thành tựu.
Đã thọ giới mà không phạm dường như là việc khó có thể, song
nếu phạm, tùy theo lỗi nặng nhẹ mà như pháp sám hối thì sẽ
được thanh tịnh trở lại.
Công năng của sám hối có hai
loại : 1/ Trải qua một lần sám hối, là một lần tự mình kiểm
thảo và làm tăng sức sống cho bản thân. 2/ Trải qua một lần
sám hối là đối với hành vi của mình biểu thị toàn bộ trách
nhiệm. Bởi vì tội chia làm hai loại : người chưa thọ giới
tạo nghiệp ác, nếu là tính tội thì dù chưa thọ qua giới luật
của Phật, phạm tội vẫn phải chịu quả báo. Người đã thọ giới
mà tạo nghiệp ác, ngoài tính tội ra còn tăng thêm một loại
giới tội nữa. Giới tội nặng không thể sám hối, nhẹ thì trải
qua sám hối liền được thanh tịnh trở lại.
Phương thức sám hối cũng có hai
loại : 1/ Sự sám, còn gọi là tác pháp sám. Phạm giới tội,
lớn thì phải có Tăng đoàn tập họp làm pháp yết ma sám hối,
trung bình thì đối với một người mà sám hối, còn nhỏ thì tự
trách tâm mình mà sám hối. Giới tội phải dùng sự sám. 2/ Lý
sám, còn gọi là Thật tướng sám hoặc Vô tướng sám. Là dùng
thật chứng tính không vô ngã, thân chứng bản tính của tất cả
các pháp đều không, do tâm tạo tác, dù là giới tội hay tính
tội, một khi ngộ nhập thật tướng vô tướng, chân tính vô tính,
liền tức thời tiêu diệt. Loại lý sám này tợ hồ như trái
ngược với nhân quả thế gian, kỳ thật không phải vậy, ý nói
diệt tội là chỉ cho trong tâm không còn lo sợ ác báo nữa,
bởi vì người này đã đem thiện ác khổ vui đối xử bình đẳng,
không phải lẩn tránh, trốn nợ mà là đối với nghiệp ác đã tạo
sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm. Người chưa ngộ thật tướng sẽ
bị động khi chịu khổ báo, cho nên có tâm lo sợ. Người đã
chứng vô tướng, thừa theo nguyện lực chủ động đi sâu vào
chúng sinh, rộng kết thiện duyên, ra tay cứu tế, tuy cũng
thọ khổ thọ nạn, nhưng tâm đã được tự do cho nên cũng không
lấy khổ nạn làm khổ nạn. Do đó gọi là tiêu diệt tội nghiệp.
Sám hối lại có hai loại : 1/
Tội trái ngược với giới luật, dùng “Chế giáo sám” chỉ hạn
cuộc trong việc vi phạm giới luật hiện đời, và do Tăng đoàn
năm chúng xuất gia sử dụng. 2/ Tội trái ngược với đạo nghiệp,
dùng “Hóa giáo sám”, thông dụng cho cả Tăng tục bảy chúng,
cũng thông dụng cho cả Đại Tiểu thừa, lại thông dụng cả thập
ác nghiệp đạo ba đời.
Trong giới Phật giáo Trung Quốc,
rất ít sử dụng “sự sám” hoặc gọi là “chế giáo sám” để phân
biệt với “Chúng pháp sám” “Đối thủ sám” “Tâm niệm sám”, cử
tội, xuất tội, trừ tội. Ngược lại hay dùng “lý sám” và “hóa
giáo sám”, để sám trừ các loại tội nghiệp. Chẳng qua các vị
đại đức Thiền tông và các vị đã đạt đại thành tựu lúc dùng
lý sám, ắt phải minh tâm kiến tính, thân chứng bản tính vô
tính, mới đạt được mục đích sám hối. Cho nên có thể có nghi
quỹ sám pháp, cũng có thể không có nghi thức tác pháp nhất
định. Pháp Hoa tam muội Sám nghi của Đại sư Trí Giả tông
Thiên Thai là một trong bốn loại tam muội chỉ quán viên đốn,
là dùng sự sám làm phương pháp để đạt thành mục đích lý sám.
Vô tướng sám của Thiền tông không có nghi quỹ. Đến như Hóa
giáo sám là phương pháp mà bảy chúng Tăng tục Phật giáo
Trung Quốc thường dùng và thông dụng, như Lương Hoàng Bảo
Sám, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, Đại Bi Sám v.v… đều thuộc loại
hình Hóa giáo sám.
Sám hối, chữ Ấn Độ là sám ma (Ksama)
chữ Hán là hối quá, âm nghĩa hợp dịch mà tạo thành từ mới.
Nó còn có nghĩa là hối tội, diệt tội, trở lại thanh tịnh.
Như trong Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 9 có nói : “Đại vương
nên biết. Thần nghe Phật nói : Người trí có hai, một là
người không làm các điều ác, hai là người phạm lỗi mà biết
sám hối… hối rồi hổ thẹn không dám làm nữa… Đại vương, nếu
người sám hối, ôm lòng hổ thẹn tội liền trừ diệt, trở lại
thanh tịnh như xưa”.
Sám hối có vô lượng công đức,
như Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán quyển 3 có nói :
“Nếu người có thể như pháp sám hối, những phiền não thảy đều
tiêu trừ”. Kinh lại nói : “Sám hối có thể thiêu đốt củi
phiền não, sám hối có thể vãng sinh cõi trời, sám hối có thể
được cái vui tứ thiền, sám hối mưa báu Ma ni châu, sám hối
có thể kéo dài tuổi thọ kim cang, sám hối có thể nhập cung
Thường Lạc, sám hối có thể ra khỏi ngục tam giới, sám hối có
thể khai hoa Bồ đề, sám hối thấy được đại viên kính của Phật,
sám hối có thể đến nơi bảo sở”. Do đó nên biết, pháp môn sám
hối cũng là tổng trì của Phật pháp, nếu hay tu trì đắc lực
thì đó chính là pháp môn tối thượng.
Các nghi quỹ tu hành sám pháp
của Đại thừa cũng giống như đàn thành của Mật tông, yêu cầu
phải trang nghiêm, cúng dường, thanh tịnh, uy nghi, tề chỉnh.
Như Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo quyển thượng, Viên
Giác Kinh Tu Chứng Nghi của Thiền sư Tông Mật - Ngũ tổ tông
Hoa Nghiêm, Pháp Hoa Tam Muội Nghi Sám của Đại sư Trí Giả
tông Thiên Thai, Kim Quang Minh Tối Thắng Sám Nghi của Tứ
Minh Tri Lễ cho đến các loại sám nghi đã nêu trước hiện đang
lưu hành đều có nghi quỹ thiết đàn, thỉnh thánh, cúng dường,
lễ tụng v.v…
Làm thế nào để biết được hiệu
quả công đức sau khi sám hối ? Có thể nêu ra hai kinh để dẫn
chứng như :
1/ Kinh Chiêm Sát Thiện Ác
Nghiệp Báo quyển thượng có nói : Sau khi như pháp sám hối,
nếu được thanh tịnh, có thể phát sinh các loại tướng lành.
“Hoặc có chúng sinh lúc được tướng lành ba nghiệp (thân khẩu
ý), trong một ngày một đêm, lại thấy ánh sáng đầy khắp trong
nhà, hoặc có mùi hương thơm thù thắng kỳ diệu, thân ý an vui.
Hoặc chiêm bao lành, trong chiêm bao thấy được sắc thân Phật,
thị hiện chứng minh, dùng tay xoa đầu người ấy, ca ngợi lành
thay, ngươi nay thanh tịnh ta đến chứng minh cho. Hoặc mộng
thấy Bồ Tát thân đến chứng minh. Hoặc mộng thấy hình tượng
Phật phóng quang mà chứng minh cho”.
2/ Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới
Bổn có nói : Nếu có người thọ giới Bồ Tát rồi mà phạm một
điều trong mười điều giới trọng nên dạy họ sám hối như : “Ở
trước tượng Phật Bồ Tát, ngày đêm sáu thời, tụng mười giới
trọng và 48 giới khinh (tức là Bồ Tát Giới bổn trong Kinh
Phạm Võng), chí thành khẩn thiết lễ ngàn vị Phật ba đời, cho
đến lúc thấy được hảo tướng, hoặc bảy ngày cho đến một năm
sẽ thấy được hảo tướng. Hảo tướng là thấy Phật đến lấy tay
xoa đầu, thấy ánh sáng và thấy hoa báu, các loại tướng lạ,
tội chướng liền được tiêu diệt”.
Hai loại pháp sám hối này tương
đối khó, nếu không có hoàn cảnh thuận lợi và thời gian rảnh
rỗi, không dễ gì thực hành thành tựu được. Không bằng dùng
pháp môn niệm Phật, dễ dàng hơn nhiều, không nhất định phải
thấy tướng lạ mới diệt trừ tội lỗi được, như trong Kinh Quán
Vô Lượng Thọ Phật có nói : “Chí tâm xưng niệm danh hiệu Phật,
trong mỗi một niệm, trừ được tội trong đường sinh tử 80 ức
kiếp”. Đó cũng chính là nguyên nhân vì sao chúng tôi đề
xướng pháp môn niệm Phật Tịnh độ của Phật A Di Đà, và cũng
chính là vì trong kỳ Phật thất Di Đà tiết Thanh minh này,
tôi có dụng ý muốn giới thiệu với quý vị về pháp môn sám hối.
2.- Chuyển biến nghiệp
chướng thành phước báo
Nghiệp chướng có hai hàm nghĩa
: 1/ Do từ nơi công việc của nghề nghiệp nào đó khiến cho
không được rảnh rỗi để tu học Phật pháp, cũng không muốn tu
học Phật pháp. 2/ Do tạo các loại nghiệp ác bất thiện, cho
đến kéo theo các loại chướng ngại thuộc tiên thiên tính và
hậu thiên tính, không có cách gì tu học Phật pháp chính tín,
chính hạnh, chính tri, chính kiến được. Do đó nếu phân tích
tỉ mỉ thêm thì có nghiệp chướng, báo chướng, phiền não
chướng, nếu phân tích thêm nữa thì gọi là tám vạn bốn ngàn
cửa chướng. Bao quát các ma chướng từ hoàn cảnh thân tâm cho
đến quỷ thần yêu linh. Nghiệp chướng phần lớn chẳng phải từ
ngoài đến mà là do tâm tạo ra, tự tâm hiện ra, tự làm tự
chịu. Cũng có cả nhân tố của ngoại ma, sám hối cũng có thể
tiêu trừ được.
Nghiệp chướng, báo chướng và
phiền não chướng, ba loại này có thể quy kết thành một hạng
mục, đó chính là nhân quả. Tạo nhân nhất định phải chịu quả
báo. Bất cứ một loại chướng ngại nào đều khởi nguồn từ “gieo
nhân nào, gặt quả nấy”.
Quả báo của nghiệp chướng có
lúc khiến cho người ta nhận lầm là phước báo. Như thấy người
sống giàu sang sung sướng, đứng ở góc độ Phật pháp mà xét
không phải là phước báo, bởi vì hưởng phước không phải là có
phước, tiếc phước, bồi phước mới thật là có phước.
Có một số người cả đời đều rất
khổ chẳng hạn khổ như tôi vậy, xin hỏi đó có phải là một
loại quả báo không ? Đối với bản thân tôi, tâm tôi tình
nguyện mỗi ngày sinh hoạt bận rộn khổ cực mà không ngại. Vì
tôi đang trả nợ, trả được càng nhiều thì chủ nợ càng ít, tôi
càng hoan hỷ. Như vậy sự cảm thọ ấy của mỗi người như thế
nào ? Có thể dùng quan niệm Phật pháp để đo lường không ?
Nếu có thể ứng dụng quan niệm Phật pháp thì phước báo thế
gian chẳng phải là khởi đầu của khổ báo sao ? Bởi vì phước
báo hưởng hết, tiếp đến là khổ báo kéo tới. Nếu hiện tại
chúng ta biết nắm lấy cơ hội, không thấy là khổ sở, không so
bì nhục nhã, mà lại hay giúp đỡ người khác giải quyết mọi
khổ nạn, càng không vì tiếng tăm lợi dưỡng của bản thân,
luôn luôn nỗ lực cầu tiến bộ, đem hết khả năng của mình cống
hiến trợ giúp cho người, trên thực tế đó chính là cầu phước,
bồi phước.
Bình thời, những thứ sinh hoạt
trong cuộc sống của bản thân mình nên tiết kiệm không xa hoa
lãng phí, để lấy những tài vật đó trợ giúp cho người. Loại
hành vi này xem ra tợ hồ như tự làm khổ mình, thậm chí bị
chê là có phước mà không biết hưởng. Nếu chúng ta sợ người
khác chê bai như thế thì không có cách gì tu phước được, chỉ
là người nghèo cùng ngu xuẩn mà thôi. Ngược lại, hay thực
hành như trên thường xuyên thì mới gọi là người phú quý có
trí tuệ.
Có một vị cư sĩ thường cúng rau
cho đạo tràng của chúng ta, người chấp sự nhà bếp thấy nhiều
quá, chỉ chọn lựa lấy những lá non còn lá già và rễ bỏ đi.
Vị cư sĩ đó thấy vậy, không nói một lời bèn gom tất cả lá
già, cọng rau lại chuẩn bị đem về nhà. Có người hỏi : “Cư sĩ
đã đem rau này cho chúng tôi rồi lại còn đem về nhà làm gì
?”. Vị cư sĩ ấy đáp : “Quý vị không ăn tôi có thể ăn. Tôi
chỉ cần đem muối những lá rau này liền biến thành dưa muối,
hoặc đem luộc lấy nước uống có rất nhiều dinh dưỡng. Còn
cọng rau hoặc rễ thì tước vỏ già bỏ đi, dùng muối nhào sạch
ăn rất ngon. Nếu quý vị thích ăn, đợi tôi làm xong sẽ đem
đến cúng dường”. Đây thật là một bài học rất quý giá. Từ đấy
về sau chúng xuất gia chúng tôi không dám mặc ý bỏ phí một
thứ gì cả.
Tu hành không đắc lực, là vì
thiện căn không thâm hậu, đó chính là chướng ngại. Trong tâm
có phiền não là nghiệp chướng, muốn tu hành mà lại không có
thời gian, lúc nào cũng có người có việc làm trở ngại bạn,
đó cũng là chướng ngại. Những thứ chướng ngại này đều do
nghiệp nhân đã tạo đời quá khứ, cho nên đời nay mới sinh ra
như vậy, dù là trên sinh hoạt, tâm lý, thân thể, hoàn cảnh,
nhân sự đều có thể có sự trở ngại. Hoặc có một số người cho
rằng bản thân mình là không có vấn đề gì, có chăng là do
hoàn cảnh, ví như muốn tham gia Phật thất tinh tấn, nhưng
người chủ không cho phép nghỉ, quan trên không ký tên, hoặc
người nhà đột nhiên có sự cố v.v…
Có một vị cư sĩ đến tham gia
Phật thất kiên trì tu tập cho đến ngày thứ ba rồi phải xin
về. Tôi hỏi : “Nguyên nhân gì mà lại về ?”. Người ấy trả lời
: “Con muốn tham dự khóa tu Phật thất này cho được trọn vẹn,
nhưng nó lại không cho phép con được tiếp tục nữa”. Tôi hỏi
: “Nó là ai ?”. “Bạch thầy là thân thể của con, hiện tại
không cách gì chịu đựng được nữa, cho nên con đành phải bỏ
cuộc”. Thân thể của anh ta khiến cho anh ta không thể tu
Phật thất trọn vẹn, vậy thân thể của anh ta cứu cánh là gì ?
Là nghiệp chướng từ đời quá khứ đem theo. Nếu anh ta có thể
kiên định tu trì, thì thân thể ấy không phải là nghiệp
chướng mà là phước báo.
Cũng có người lúc niệm Phật
trong tâm rất bồn chồn, không cách gì an tâm được, càng
không an tâm lại càng chán nản niệm Phật. Tôi hỏi họ vì sao
? Họ trả lời ý nghĩ quá nhiều. Tự thân họ cũng không hiểu vì
sao, tuy họ không nghĩ gì nhưng ý nghĩ cứ tự động xuất hiện
liên tục. Loại ý nghĩ này là gì ? Cũng là nghiệp chướng từ
đời quá khứ mang theo. Nếu họ có thể chuyên tâm niệm Phật,
mỗi ý đều chuyển hướng niệm Phật thì ý nghĩ của họ không còn
là nghiệp chướng nữa mà là phước báo. Vì lúc niệm Phật chỉ
thấy nghiệp chướng trùng trùng mà không thấy được phước báo
hiện tiền, làm thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng đây ? Chỉ
có cách là chí tâm sám hối.
3.- Nguyện tiêu ba chướng
các phiền não
Ba chướng là :
a/ Nghiệp chướng
: Nghiệp chướng nghĩa hẹp là chỉ cho nghề nghiệp, có một số
nghề nghiệp khiến cho người ta không có biện pháp soi rọi
lại mình để tu hành Phật pháp, ví như nhiều đời làm nghề
nuôi heo, nuôi bò, đánh cá, cờ bạc v.v… một thời gian ngắn
không thể thay đổi được. Cũng có một số người một năm 365
ngày đều phải làm việc, lại có người phải làm việc ban đêm
ban ngày thì ngủ, đối với việc tu hành Phật pháp đều cấu
thành chướng ngại về mặt nghề nghiệp.
b/ Báo chướng :
Chỉ cho thân thể và hoàn cảnh, thân thể của chúng ta không
thể thực hiện nguyện vọng của mình, muốn làm gì thì làm. Như
bạn rất muốn nghe kinh thính pháp tu học, kết cuộc thân thể,
hoặc hoàn cảnh khiến cho bạn không cách gì như nguyện tu
hành Phật pháp, đó chính là báo chướng. Nếu sinh làm thân
thể động vật như trâu, ngựa, heo, chó v.v.. thì không biết
đến việc học Phật, nếu thiện căn thâm hậu, muốn tu Phật thất
cũng không thể tiếp thụ được đạo tràng Phật thất. Dù là động
vật phóng sinh ở trong tự viện, cũng không có cách gì tham
gia cộng tu niệm Phật và lễ Phật, đó chính là báo chướng.
Lại như người mù không thấy được tượng Phật trang nghiêm, kẻ
điếc không nghe được pháp âm vi diệu, người câm không thể
dùng miệng hoằng dương Phật pháp. Một số người này có thể là
Bồ Tát thị hiện nhưng phần lớn là do báo chướng.
c/ Phiền não chướng
: Chỉ cho tâm không theo mình, lúc nào ở trong tâm cũng sinh
ra các thứ phiền não vu vơ như : tham, sân, đố kỵ, kiêu mạn,
hoài nghi, lo sợ v.v… mong cầu cái này lại chán ghét cái kia,
hy vọng lại thất vọng… Những vấn đề này thường ở trong tâm
nổi lên không ngừng, khiến cho mình rối loạn không thôi,
chẳng những niệm Phật khó chuyên tâm, mà lúc ăn uống cũng
loạn tưởng. Do vì phiền não quá nặng nên không thể tu học
Phật pháp, thật là chướng ngại.
Việc giải thích như trên là hợp
lý, thế nhưng ở trong kinh luận đối với việc giải thích ba
chướng là chỉ cho “Chướng chính đạo hại thiện tâm” có ba
loại chướng : 1/ Phiền não chướng, tức là các hoặc như tham
dục, sân hận, ngu si v.v… 2/ Nghiệp chướng, tức là nghiệp
ngũ nghịch thập ác. 3/ Báo chướng, tức là quả báo địa ngục,
ngạ quỷ, súc sinh v.v…
Y cứ vào A Tỳ Đạt Ma Phát Trí
Luận quyển 11 có chép : Ba chướng là phiền não chướng,
nghiệp chướng, dị thục chướng (tức là báo chướng). Thế nào
là phiền não chướng ? Do lửa phiền não tham sân si đốt cháy
bản tính, nên khó có thể sinh yếm ly, khó có thể giáo huấn,
khó có thể khai ngộ, khó được giải thoát. Thế nào là nghiệp
chướng ? Đó là nghiệp ngũ gián. Thế nào là dị thục chướng ?
Là chỉ cho các hữu tình ở Na Lạc Ca (địa ngục), bàng sinh,
ngạ quỷ, Bắc Câu Lư Châu (phước báo rất tốt nên không dễ gì
học Phật), trời Vô tưởng (thuần là cõi trời ngoại đạo).
Tôi thường nói Phật pháp tốt
đẹp như vầy, vì sao người biết đến thì quá ít, người hiểu
lầm lại nhiều ? Ấy là do nhân tài hoằng pháp của chúng ta
quá ít, cũng là do chúng sinh có ba chướng này quá nhiều.
Cho nên giới Phật giáo cần phải bồi dưỡng nhân tài hoằng
pháp. Người biết Phật pháp là tốt mà không có duyên tu học,
cho đến người có duyên tiếp xúc Phật pháp nhưng lại gặp
nhiều chướng ngại, cần phải khuyên họ dùng pháp môn sám hối
để tiêu trừ ba chướng.
Xin khuyên các vị thiện tri
thức đang lúc học Phật niệm Phật tu hành Phật pháp, nếu thời
thời chỗ chỗ đều có lòng sám hối thì chướng ngại tự nhiên
giảm dần, trái lại nếu không biết hổ thẹn và sám hối thì
chướng ngại cứ chồng chất. Ýù nghĩa của sám hối là thừa nhận
bản thân mình có bệnh, biết thân mình có bệnh chướng thì
phải tìm thầy chữa trị, uống thuốc có như vậy thì các loại
bệnh chướng tự nhiên dần dần tiêu trừ, nếu không biết hổ
thẹn và sám hối thì bệnh càng thêm nặng, diễn tiến trở thành
không thể cứu chữa được. Cho nên sám hối nghiệp chướng là
hằng khóa phải tu mỗi ngày của tín đồ Phật giáo.
xem
tiếp>>>
|