|
Lời Khai Thị của Chư Tổ

1. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Tuyết Hư.
Đại Sư dạy:Trong các bản Kinh Tịnh Độ có viết: Chí tâm
niệm Phật một câu, tiêu trừ được trọng tội trong 80 ức kiếp
sanh tử. Chí tâm là lúc niệm Phật trước hết phải dọn tâm
cho thật sạch sẽ, rỗng rang thì ngay khi ấy, một câu Phật
hiệu thông trên suốt dưới, không còn gì khác cả. Niệm chí
tâm như thế mới mong đạt được nhất tâm bất loạn. Nhưng làm
thế nào để được nhất tâm?
Xin đáp: Tội từ tâm khởi tùng tâm sám. Do còn
tội nghiệp nên tâm khởi phiền não. Lúc tâm khởi phiền não
thì sẽ tạo tội nghiệp. Ngay lúc ấy phải sám hối cho nó liền
tiêu mất. Tâm đã diệt rồi tội cũng không. Do còn tội
nghiệp nên chẳng thể chí tâm. Tội nghiệp nếu đã diệt trừ thì
tự nhiên ắt sẽ được chí tâm; bởi thế mới nói: Tội diệt, tâm
mất, thảy đều không, thế mới gọi là chân sám hối. Niệm Phật
như thế thì đạt được chí tâm, diệt được trọng tội, dù trời
long đất lở cũng chẳng nao núng suy suyển gì. Vậy có bài kệ
rằng:
Tâm nhất phân minh đoạn hoặc thì
Vãng sanh chứng quả thượng hà nghi
Tuy nhiên thường thuyết hoặc nan đoạn
Sám hối huyền môn tích bất tri!
có nghĩa là:
Tâm đã phân minh đoạn hoặc rồi
Vãng sanh chứng quả há nào sai
Tuy thường nói Hoặc Mê khó diệt
Pháp môn Sám Hối ít ai hay!
Nếu niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn thì chính đó là
lúc diệt được mê hoặc rồi vậy. Như vậy chắc chắn được vãng
sanh, vãng sanh rồi ắt mau chứng được Phật quả. Thế thì
pháp môn sám hối đích thực là một huyền môn, vô cùng mầu
nhiệm giúp hành nhân chúng ta sớm tiêu trừ được nghiệp
chướng. Niệm Phật mà biết phối hợp với pháp môn sám hối này
thì sẽ thành tựu được dễ dàng vậy. Tiếc thay người đời nay
ít có ai biết rõ được!
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sinh, đồng sanh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sinh.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)
2. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Aán Quang.
Đại Sư dạy: Đức Phật ra đời với nhân duyên mở bày chân
tánh, khiến cho chúng sanh thoát vòng mê khổ, ngộ vào bản
thể sáng suốt an vui. Bao nhiêu pháp môn, tất cả nghĩa lý
nhiệm mầu trong một đời giáo hóa của Đức Bổn Sư, đều không
ngoài mục đích ấy. Nhưng muốn tìm một lối thẳng tắt để mau
thoát khỏi đường sanh tử, một pháp môn hợp lý, hợp cơ cho
cho chúng sanh giữa thời buổi này, chỉ có pháp môn Tịnh Độ.
Tại sao thế? Vì trong đời mạt pháp, người tu hành bị nhiều
chướng duyên làm thoái chuyển. Ngẫm nhìn về thân phận con
người thì phần sắc thân hay đau yếu, mạng sống ngắn ngủi,
phần tâm tánh thì nghiệp báo sâu nặng, trí huệ tối mờ, không
hiểu rõ về lý Nhân Quả, Nhân Duyên. Xét về cảnh bên ngoài
thì phần đời thường xảy ra biết bao nhiêu là tai ương hỏa
hoạn lũ lụt, phần đạo lại ít gặp được bậc thiện tri thức hay
người chứng đạo dắt dẫn, vì thế dễ bị lung lay bởi những kẻ
tu hành giả dối đưa đến mê tín dị đoan, tà giáo ngoại đạo.
Cho nên trong Kinh Đại Tập, Đức Như Lai huyền ký lại rằng:
Đời mạt pháp, ức ức triệu triệu người tu hành song khó được
một kẻ ngộ đạo, chúng sanh chỉ nên nương nơi pháp môn niệm
Phật mà thoát khỏi luân hồi.
Kinh Thập Lục Quán có ghi chép lại rằng: Muốn sanh về Cực
lạc, cần phải tu ba thứ phước:
a. hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ Sư Trưởng, tâm từ
bi không giết hại, tu mười nghiệp lành,
b. thọ trì tam qui, giữ trọn các giới đã lãnh thọ, đừng
phạm oai nghi,
c. phát lòng bồ đề, tin sâu lý Nhân Quả, đọc tụng kinh
đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
Ba điều trên đây gọi là tịnh nghiệp.
Theo kinh Vô Lượng Thọ, trong số 48 đại nguyện của Đức A
Di Đà, có mấy điều thiết yếu sau đây:
Nguyện thứ 18: Khi Ta thành Phật, chúng sanh trong mười
phương hết lòng tin ưa muốn sanh về nước của Ta, xưng danh
hiệu Ta cho đến 10 niệm, nếu không được vãng sanh, Ta thề
không thành chánh giác.
Nguyện thứ 19: Khi Ta thành Phật, chúng sanh trong 10
phương phát lòng Bồ Đề, tu các công đức, chí tâm phát nguyện
cầu sanh về nước Ta, đến lúc lâm chung, nếu Ta không cùng
Thánh chúng hiện ra ở trước mặt người ấy, Ta thề không thành
chánh giác.
Nguyện thứ 21: Khi Ta thành Phật, hàng nhân thiên trong nước
Ta thảy đều đủ 32 tướng đại nhân, nếu chẳng được như thế, Ta
thề không thành chánh giác.
Nguyện thứ 27: Khi thành Phật, từ hàng nhân thiên cho đến
tất cả muôn vật trong nước Ta, hình sắc đều tốt đẹp, nghiêm
sạch sáng rỡ, vi diệu cùng cực, không thể tính kể. Nếu
những chúng sanh chứng được thiên nhãn mà có thể biện thuyết
rõ ràng được sanh số, Ta thề không thành chánh giác.
Nguyện thứ 32: Khi Ta thành Phật, từ cõi đất lên đến hư
không, những cung điện lầu quán, ao nước cây hoa, tất cả vạn
vật đều do vô lượng tạp bảo, trăm ngàn thứ hương hoa hiệp
lại tạo thành, nghiêm đẹp kỳ diệu, hơn các thiên cung. Mùi
hương trong nước Ta lan tỏa khắp 10 phương thế giới, các Bồ
Tát tiếp xúc được hương ấy đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng được
như thế, Ta thề không thành chánh giác.
Nguyện thứ 39: Khi Ta thành Phật, hàng nhân thiên trong nước
Ta đều hưởng sự an vui như bậc Lậu Tận Tỳ Khưu. Nếu chẳng
được như thế, Ta thề không thành chánh giác.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sinh, đồng sanh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sinh.
Nam mô A Di Đà Phật
3. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Triệt Ngộ.
Đại Sư dạy: Thật vì sanh tử, phát lòng Bồ Đề, dùng tín
nguyện sâu, trì danh hiệu Phật. Mười sáu chữ này là cương
tông giềng mối của pháp môn niệm Phật. Nếu không phát lòng
chơn thật thiết tha vì nỗi khổ sanh tử thì tất cả lời khai
thị đều là phù phiếm. Bởi vì tất cả sự khổ trong đời này
không gì hơn là việc sanh tử, chúng ta từ vô lượng kiếp đến
nay, sống chết, chết sống, ra khỏi bào thai này lại chui vào
một bào thai khác, bỏ lớp da này lại mang một lớp da khác,
khổ não đã quá nhiều không kham nổi, huống chi tự mình chưa
thoát luân hồi, làm sao tránh khỏi đọa lạc? Than ôi, khi
một niệm sai lầm liền rơi vào ba đường ác là địa ngục ngạ
quỉ súc sanh, dễ tới mà khó lui chân, chịu đọa đày khổ đau
kiếp kiếp! Cho nên đại chúng phải hết sức lo sợ mà nghĩ đến
vấn đề sanh tử như chịu tang cha mẹ, như cứu lửa đốt trên
đầu mà gắng công chuyên tinh tu tập; ta đã khổ vì sự sống
chết mà cầu thoát ly nên phát lòng từ bi liên tưởng đến tất
cả muôn loài cũng đau khổ như vậy. Chúng sanh cùng ta đồng
một bản thể, là cha mẹ của ta trong nhiều kiếp, là chư Phật
đời vị lai, nếu chẳng phát tâm cứu độ, chỉ cầu giải thoát
riêng mình thì đối với tình có chỗ chưa an, đối với lý có
điều sơ sót. Huống chi chẳng phát đại tâm thì ngoài không
thể cảm thông với Phật, trong không thể khế hợp với tánh
chân, trên không thể tròn quả Bồ Đề, dưới không thể độ khắp
muôn loài. Như thế làm sao báo đền ân nhân nhiều kiếp, làm
sao giải thích oan gia nhiều đời, làm sao thành tựu căn lành
đã gieo trồng từ xưa, làm sao sám trừ tội nghiệp oan khiên
đã tạo ra về trước? Và như thế thì tu hành chỗ nào cũng gặp
chướng duyên, dù có thành tựu cũng là quả vị thấp, cho nên
phải xưng tánh phát lòng Bồ Đề vậy.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật.
4. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Triệu Lưu:
Đại Sư dạy: Phép trì danh qúi ở một lòng không loạn, không
xen tạp, chẳng phải niệm mau niệm nhiều là hơn. Chỉ nên
nhất tâm trì niệm niệm nối nhau, không mau không chậm, khiến
cho danh hiệu Phật rành rẽ rõ ràng nơi tâm. Khi ăn cơm mặc
áo, đi đứng nằm ngồi, giữ một câu hồng danh nối liền chẳng
dứt, cũng như hơi thở, không tán loạn cũng không hôn trầm.
Trì danh như thế có thể gọi là một lòng tinh tấn trên phận
sự vậy. Người tu tịnh nghiệp đời nay, trọn ngày niệm Phật,
sám hối, phát nguyện, mà cõi Tây Phương Cực Lạc vẫn còn cách
xa, sự vãng sanh không bảo đảm ra sao? Aáy cũng bởi bề
ngoài tuy lễ niệm, phát nguyện, mà trong tâm dây tình còn
buộc chặt, gốc ái còn bám sâu đó vậy! Vậy phải xem sự tình
ái ở cõi Sa Bà là vô thường, giả dối, đồng như nhai sáp, dù
ở trong cảnh hoãn, gấp, động hay tịnh, vu khổ lo mừng, cũng
phải giữ chắc một câu niệm Phật như dựa vào núi Tu Di, tất
cả cảnh duyên đều không thể làm lay động. Nếu lúc nào tự
cảm thấy mỏi mệt, biếng trễ, nghiệp hoặc hiện lên, phải một
lòng phấn khởi mà niệm như thanh trường kiếm chống trời,
khiến cho quân ma phiền não trốn mất không còn, như lửa đỏ ở
lò hồng đốt tan tình thức từ vô thủy. Người nào giữ được
như thế, tuy hiện đang ở cõi ngũ trược mà toàn thân đã ngồi
nơi thế giới hoa sen, đợi chi Phật Di Đà đưa tay, đức Quán
Aâm dìu dắt, mới tin là mình vãng sanh hay sao?
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
5. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Đạo Phái:
Đại Sư dạy: Khi niệm Phật, nơi tâm thường không rời hai
chữ Tin, Nhớ nơi miệng không rời hai chữ xưng, kính. Bởi
muốn sanh về Tịnh Độ cần phải có lòng tin, ngàn người tin
thì ngàn người sanh, muôn người tin thì muôn người về. Nếu
tâm thường tin nhớ Phật, miệng thường xưng niệm Phật một
cách thiết tha, cung kính, chắc chắn Phật sẽ cứu độ hết.
Như thế mới gọi là tin sâu. Khi niệm Phật, cần phải mỗi chữ
rõ ràng, mỗi câu nối nhau, bởi không rõ ràng tức là hôn trầm,
không nối nhau tức là tán loạn. Hành trì như thế, một câu
niệm Phật thường rành rõi nơi tâm, lâu ngày tự nhiên thành
tựu pháp Niệm Phật Tam Muội.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
6. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Tĩnh Am:
Đại Sư dạy: Một chữ nguyện bao gồm cả tín và hạnh. Tín là
tin: tự, tha, nhân, quả, sự, lý, không hư dối. Tín tự là gì?
Nghĩa là tin tất cả do tâm tạo, mình niệm Phật sẽ được tiếp
dẫn. Tín tha là gì? Nghĩa là tin Đức Phật Thích Ca không
bao giờ nói dối, Phật A Di Đà không nguyện suông. Tín nhân
là gì? Nghĩa là tin niệm Phật là nhân vãng sanh giải thoát.
Tín quả là gì? Nghĩa là tin sự vãng sanh thành Phật là kết
quả của công phu niệm Phật. Tín sự là gì? Nghĩa là tin
cảnh giới Tây Phương, tất cả sự tướng đều có thật. Tín lý
là gì? Nghĩa lý tánh duy tâm bao trùm cảnh giới Phật. Mỗi
điều trên đây đều xác thật nên gọi là không hư dối. Hạnh là
chuyên trì danh hiệu Phật không xen tạp, không tán loạn.
Nguyện là mỗi tâm ưa thích, mỗi niệm mong cầu. Trong ba
điều kiện này, người tu tịnh nghiệp cần phải đủ, không thể
thiếu một mà nguyện là điểm thiết yếu.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
7. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Hám Sơn:
Đại Sư dạy: Điều cần yếu nhất trong sự tu hành là tâm tha
thiết về việc luân hồi sanh tử. Tâm sanh tử không thiết tha,
làm sao dám gọi là niệm Phật thành một khối? Nếu người thật
vì sự luân hồi mà tha thiết thì mỗi niệm như cứu lửa cháy
đầu, chỉ e mất thân người, muôn kiếp khó được. Lúc ấy quyết
giữ chắc câu niệm Phật, quyết đánh lui vọng tưởng, trong tất
cả thời tất cả chỗ, hiệu Phật thường hiện tiền, không bị
vọng tình ngăn che lôi kéo. Dùng công phu khẩn thiết như
thế, lâu ngày niệm sẽ thuần thục, tâm được tương ưng, tuy
không khởi tâm ham cầu mà niệm lực tự nhiên sẽ kết thành một
khối.
Ngày đêm sáu thời, chỉ đem một câu niệm Phật trấn định nơi
lòng, mỗi niệm không quên, mỗi tâm không u ám. Khi ấy gác
bỏ tất cả niệm đời, xem câu niệm Phật dường như tánh mạng
của mình, cắn răng giữ chặt, quyết không buông bỏ. Cho đến
lúc đi đứng ngồi nằm, uống ăn làm việc, câu niệm Phật đây
vẫn thường hiển hiện. Nếu gặp cảnh duyên phiền não, tâm
không được yên, chỉ nên chuyên niệm Phật, phiền não liền tự
tan mất. Bởi phiền não là cội gốc luân hồi, niệm Phật là
thuyền vượt qua biển khổ sanh tử, muốn thoát sanh tử chỉ đem
câu niệm Phật phá tan phiền não, đó là phương pháp đơn giản
mà rất hiệu nghiệm vậy.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
8. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Ngẫu Ích:
Đại Sư dạy: Pháp môn niệm Phật không gì kỳ lạ, chỉ tin sâu,
nguyện thiết, gắng sức thật hành mà thôi. Điều cần yếu là
tin cho thấu đáo, giữ cho bền lâu, một lòng chuyên niệm, mỗi
ngày đêm hoặc mười muôn, ba muôn, hay năm muôn câu, lấy số
quyết định không thiếu làm lệ. Hành trì như thế trọn một
đời, thề không thay đổi, nếu không vãng sanh thì chư Phật ba
đời thành ra đã nói dối vậy. Khi được vãng sanh, tất không
còn bị thoái chuyển, bao nhiêu pháp môn đều được hiện tiền.
Rất tối kỵ là tâm không thường hằng, hôm nay thế này, ngày
mai thế khác, thấy ai nói pháp chi huyền diệu liền xu hướng
chạy theo, thì không môn nào thuần thục được cả. Đâu biết
nếu một câu A Di Đà Phật niệm được thuần thục, thì ba tạng
mười hai phần Kinh, những giáo lý rút gọn đều ở trong đó;
một ngàn bảy trăm công án, đường lối hướng thượng đều ở
trong đó; ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, ba tụ tịnh
giới cũng ở trong đó.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
9. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Ngộ Khai:
Đại Sư dạy: Mở mắt niệm Phật, tâm dễ tán động, nên nhắm
mắt mà niệm. Trước khi niệm Phật phải ngồi yên giây phút,
buông bỏ tất cả, để lòng rỗng không, rồi từ từ tuyên danh
hiệu Phật, vừa niệm vừa nghe, vừa nghe vừa niệm, mật niệm
nối nhau, hành trì lâu, tâm phát ra, mỗi câu tha thiết nhớ
mong Tịnh Độ. Có phương pháp hệ niệm là khi không niệm Phật,
đem tâm niệm mình buộc để trên thân đức A Di Đà Phật. Làm
như thế, tâm được thanh tịnh, không lay động, chính là chỗ
dụng công đắc lực.
Có người thắc mắc liền thưa hỏi: Tạp niệm từ đâu mà sanh
ra?
Đại Sư đáp: Tâm ta chỉ có một niệm, niệm Phật tức là chánh
niệm mà cũng là tạp niệm. Chỉ vì ta niệm Phật chưa tinh
chuyên nên tạp niệm kia còn vơ vẩn, thế thôi.
Lại thưa hỏi tiếp: Làm sao trừ được tạp niệm kia?
Đại Sư đáp: Không cần phải cố công diệt trừ, chỉ đem tâm
niệm hoàn toàn để trên hiệu Phật, tạp niệm vẩn vơ kia liền
biến mất.
Lại thưa hỏi tiếp: Nhưng nếu tinh thần sức lực yếu kém,
công phu chưa đủ, không thể khiến cho vọng niệm kia tiêu mất,
thì phải làm sao?
Đại Sư đáp: Người đạo đức chưa thuần nên tán loạn nhiều,
phải cố thâu nhiếp sáu căn lần lần sẽ được thanh tịnh. Nếu
chưa làm được như thế thì mở mắt nhìn chăm chú tượng Phật mà
niệm, tạp tưởng vọng niệm sẽ tiêu.
Lại thưa hỏi tiếp: Phương pháp ấy cũng hay nhưng sợ e lần
hồi mỏi mệt, tạp niệm lại nổi lên thì làm sao?
Đại Sư đáp: Trong tâm mờ tối nên bị ngoại cảnh lôi kéo,
niệm Phật không đắc lực, thậm chí vọng niệm dày dặc không
tan. Nhưng đừng vội vàng nóng nảy, phải lóng thần định tâm
tư, niệm chậm rãi tôn hiệu Phật, xuất ra từ nơi tâm, phát
thành tiếng nơi miệng, tai nghe, cứ tuần hoàn như thế, tạp
niệm sẽ dứt.
Lại thưa hỏi tiếp: Phương pháp này rất hay nhưng chỉ e
người căn tánh quá tối không làm được, thì phải làm thế nào?
Đại Sư đáp: Nên đem 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật mà niệm.
Khi niệm cần phải nghĩ nhớ rành rẽ tiếng thứ nhất là Nam,
tiếng thứ nhì là Mô, như thế đủ đến 6 chữ, liên hoàn không
dứt thì vọng niệm không còn chỗ xuất sanh.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
10. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Diệu Không:
Đại Sư dạy: Bịnh là cái bước đến sự chết, chết là cửa ải
đưa đến cảnh tịnh uế thánh phàm. Trong khi bịnh phải tưởng
là mình sắp chết, chuyên niệm danh hiệu Phật, quyết đợi lúc
mạng chung, như thế sẽ có ánh sáng quang minh tiếp dẫn mà
toại bổn nguyện vãng sanh của mình. Nếu trong lúc ấy tạm
dừng lại câu niệm Phật, thì tâm luyến ái, buồn rầu, sợ hãi,
tất cả tạp niệm đều hiện ra, như thế làm sao vượt qua nẻo
sanh tử? Thế nên lúc bịnh nguy phải ghi nhớ 4 chữ A Di Đà
Phật nơi tâm chớ quên, và những người xung quanh cũng phải
niệm 4 chữ ấy để thường thường nhắc nhở người bệnh. Nên
biết trăm kiếp ngàn đời, siêu thoát hay đọa lạc, đều hoàn
toàn do một niệm làm chủ. Tại sao thế? Vì 6 nẻo luân hồi
đều do một niệm làm chủ. Nếu một niệm chuyên chú nơi Phật
thì hình tuy hoại mà thần không hoại, liền nương theo đó mà
vãng sanh. Hỡi người tu tịnh nghiệp! Nên nhớ kỹ bốn chữ A
Di Đà Phật nơi lòng đừng quên.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
11. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Aán Quang.
Đại Sư dạy: Pháp môn Tịnh Độ do Phật Thích Ca, Di Đà kiến
lập, Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền chỉ qui, đức Mã Minh, Long Thọ
hoằng dương, và chư Tổ: Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương,
Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích xướng đạo để khuyên khắp thánh,
phàm, ngu, trí, đồng tu hành vậy. Đã tu tịnh nghiệp, phải
giữ luân thường, làm hết bổn phận, dứt bỏ niệm tà, gìn lòng
thành kính, trừ các điều ác, vâng làm những hạnh lành, đừng
giết hại, cố gắng ăn chay, thương tiếc hộ trì mạng sống loài
vật, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Bên trong
phải vì ông bà, cha mẹ, anh em, chị em; bên ngoài vì thân
thích, bạn bè, xóm giềng, làng nước, đem Pháp môn Tịnh Độ
này mà phụng khuyến, chẳng luận người có tin cùng thực hành
hay không, chỉ hết sức mình khiến cho mọi người đều biết
pháp mầu nhiệm này mà thôi. Người niệm Phật, nếu tấm lòng
tha thiết chân thật, tự có thể nhờ tự lực của Phật, khiến
cho khỏi tai nạn đao binh nước lửa. Dù có bị túc nghiệp sâu
dày hoặc trường hợp chuyển qủa nặng địa ngục thành ra qủa
báo nhẹ đời nay mà ngẫu nhiên bị tai nạn ấy, nếu lúc bình
nhật có lòng tin nguyện chân thiết, quyết định lúc bấy giờ
sẽ được Phật tiếp dẫn.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật quả, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng
sanh.Nam Mô A Di Đà Phật.
12. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Hoằng Nhất.
Đại Sư dạy: Trong kinh sách cổ xưa có chép: Ta thấy người
khác chết, trong lòng luống xót xa; chẳng phải chỉ xót xa kẻ
mất mà xót thương thân mình, vì sẽ đến phiên ta rồi cũng trở
về cát bụi. Vậy việc lớn lao nhất của đời người, có phải là
thoát vòng sanh tử đó không; đâu có thể nào tạm quên đi
trong giây phút?
Khi bịnh nặng, phải buông bỏ tất cả việc nhà cho đến thân
tâm của mình, chuyên nhất niệm Phật, một lòng mong cầu vãng
sanh Tây Phương. Làm như thế, nếu thọ mạng đã hết, quyết
định được vãng sanh. Như thọ mạng chưa dứt, tuy cầu vãng
sanh mà trở lại mau lành bịnh, do vì lòng mình chuyên thành,
nên có thể diệt trừ được nghiệp ác đời trước. Trái lại, nếu
chẳng buông bỏ muôn duyên để siêng năng nhất tâm niệm Phật,
thì dù cho thọ mạng đã hết, cũng khó được vãng sanh, vì mình
chỉ mong cầu lành bịnh chớ không cầu vãng sanh, nên không do
đâu mà về được Cực Lạc. Còn nếu như thọ mạng đã dứt, chẳng
những bịnh không được mau thuyên giảm mà trái lại càng tăng
thêm vì mình chỉ mong cầu lành bịnh nên trong lòng nảy sinh
lo lắng sợ hãi nóng nảy vậy.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
13. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Ngẫu Ích.
Đại Sư dạy: Muốn được cảnh giới Nhất tâm, một lòng không
loạn, cũng chẳng có phương chước gì lạ cả, lúc mới dụng công,
cần phải lần chuỗi ghi số, mỗi ngày đêm định khóa là bao
nhiêu câu, đừng cho thiếu sót. Giữ đúng như thế, lâu ngày
niệm lực sẽ thuần thục, thành ra cảnh giới không niệm mà tự
niệm, chừng ấy ghi sổ hay không cũng được. Nếu lúc ban sơ
muốn vội nói lời cao siêu, muốn không chấp trước vào tướng,
muốn học viên dung tự tại thì niệm lực khó thành. Như thế
là tin không sâu, hành trì không hết sức, dù cho có tài
giảng nói được mười hai phần giáo, hiểu được một ngàn bảy
trăm công án, đều là việc bên bờ sống chết luân hồi, khi lâm
chung quyết định không dùng được. Niệm Phật có sự trì lý
trì. Sự trì là tin có Phật A Di Đà ở phương Tây, mà chưa
hiểu lý rằng tâm này là Phật, chỉ quyết chí cầu sanh, niệm
Phật như con nhớ me, không lúc nào tạm quên. Lý trì là tin
Phật A Di Đà ở phươngTây là tâm mình sẵn có đủ, là tâm mình
tạo ra, đem hồng danh sẵn đủ tạo ra của mình mà làm cảnh
buộc tâm, khiến cho không tạm quên.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
14. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Aán Quang.
Đại Sư dạy: Người niệm Phật khi tụng kinh, trì chú, lễ bái,
sám hối, cứu tai nạn, giúp kẻ nghèo, v.v. tất cả công đức
lành đều phải hồi hướng vãng sanh Tây Phương, không nên cầu
hưởng phước báo ở cõi trời, cõi người, trong hiện tại hoặc
đời sau. Nếu có tâm niệm chỉ cầu phước báo cõi nhân thiên
ấy thì mất phần vãng sanh và phải bị chìm đắm trong biển
luân hồi khổ não. Nên biết hưởng phước càng nhiều tất gây
nghiệp càng lớn; qua một đời sau nữa quyết khó tránh khỏi sẽ
bị đọa vào ba đường ác của địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Lúc
đó dù có muốn trở lại làm thân người, được nghe pháp hiện
đời giải thoát của môn Tịnh Độ, cũng khó hơn lên trời nữa.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
15. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Vĩnh Minh.
Đại Sư dạy: Phải một lòng qui mạng, trọn đời tinh tấn tu
hành thanh tịnh, khi ngồi nằm thường hướng về Tây. Lúc lễ
bái, niệm Phật, phát nguyện, phải khẩn thiết chí thành,
không xen lẫn tạp niệm, phải tưởng tượng như mình đang bị
hình phạt xử án nặng nề, như kẻ đang chịu cảnh lao tù khổ
sai, như người bị oán giặc rượt đuổi, như bị thiên tai lũ
lụt, hỏa hoạn bức bách, một lòng cầu cứu, nguyện thoát những
cảnh khổ sở khốn cùng, mau chứng được vô sanh để nối ngôi
Tam Bảo, đền đáp được bốn ân trọng, cứu độ được loài hàm
thức chúng sanh khác. Chí thành như thế tất công phu không
uổng. Trái lại, nếu lời và hạnh không ứng hợp nhau, lòng
tin tưởng không vững chắc, niệm lực thường gián đoạn không
tương tục, đem sự biếng trễ ấy để mong vãng sanh thì e ngại
đến lúc lâm chung khó gặp bạn lành, bị sức nghiệp báo lôi
kéo, sự đau khổ bức bách mà đánh mất chánh niệm. Vì sao?
Bởi việc hiện tại là nhân, lúc lâm chung là quả, nhân phải
cho thật, quả mới không hư, như âm thanh lớn thì tiếng vang
dội rền xa, như hình ngay bóng mới thẳng vậy. Qủa báo khổ
vui đều do tâm tạo ra. Tâm nóng giận tà dâm là nghiệp địa
ngục, tâm tham lam bỏn xẻn là nghiệp ngạ qủy, tâm ngu si hôn
ám là nghiệp súc sanh, tâm ngã mạn cống cao là nghiệp A Tu
La, giữ trọn năm giới là nghiệp làm người, tinh tu 10 điều
lành là nghiệp Trời, chứng ngộ Nhân Không là nghiệp Thanh
Văn, rõ pháp Nhân Duyên đều không là nghiệp Duyên Giác, tu
hành sáu độ ba la mật là nghiệp Bồ Tát, lòng chơn từ bình
đẳng là nghiệp Phật. Nếu tâm trong sạch thì hóa sanh về
Tịnh Độ, ở nơi bảo các, hương đài; nếu tâm dơ nhiễm thì gởi
chất nơi uế bang, ở cõi núi gò hầm hố. Muôn cảnh đều do tâm
tạo, lìa nguồn tâm ra không có hình thể chi, vậy muốn được
quả lành, phải tu nhân tịnh vậy.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
16. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Từ Giác:
Đại Sư dạy: Người mới học đạo, sức kham nhẫn chưa thuần
nên phải mượn tịnh duyên để giúp phần tăng tiến. Tại sao
thế? Bởi ở cõi Sa Bà, Phật Thích Ca đã nhập diệt, đức Di
Lặc chưa giáng sanh; miền Cực Lạc thì Đức Từ Phụ A Di Đà
hiện nay đương thuyết pháp. Với đức Quán Aâm, Đại Thế Chí,
người ở cõi Sa Bà luống khát ngưỡng danh lành, nếu sanh về
Tịnh Độ gặp được hai bậc thượng thiện nhân đó thì đều là bạn
tốt. Ơû Sa Bà, các loài ma nổi dậy làm não loạn người tu;
trái lại nơi cõi Cực Lạc trong ánh đại quang minh đâu còn ma
sự nữa? Ơû Sa Bà dễ bị tiếng tà quấy nhiễu, sắc đẹp làm mê
mờ bản tâm; miền Cực Lạc thì chim nước rừng cây đều tuyên
dương diệu pháp, chánh báo thanh tịnh, không có nữ nhân. Thế
thì duyên tu hành thuận tiện đầy đủ, không đâu hơn cõi Tây
Phương, tiếc cho kẻ nông cạn kém tin, trở lại nghi ngờ hủy
báng.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
17. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Từ Chiếu.
Đại Sư dạy: Nay người muốn tu pháp môn Niệm Phật Tam Muội,
cầu sanh về Tịnh Độ để cho mau thành qủa Bồ Đề, thì phần
chánh hạnh là phải chuyên niệm Phật. Về phần trợ duyên cho
hạnh lành thì phải dứt trừ điều ác, làm những việc thiện,
rồi đem công đức ấy hồi hướng về Tây Phương. Đó gọi là thả
thuyền theo nước xuôi, lại thêm chèo chống, tất nhiên mau
đến bờ vậy. Sớm tối chuyên tâm lễ Phật Di Đà như chầu bậc
đế vương không để lỗi thời, hành trì như thế lâu ngày sẽ
được thêm sự thân thiết. Đến như niệm Phật thì miệng niệm,
tâm tưởng, tâm và miệng hợp nhau, lại phát lòng ân trọng,
tin chắc không nghi ngờ, công phu mỗi ngày thêm thuần thục,
tự nhiên Tam Muội ắt được thành tựu.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
18. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Tuyết Hư.
Đại Sư dạy: Người tu tịnh nghiệp cần nên tìm hiểu thế nào
là Chánh Trợ công phu. Chánh công phu là trừ khử vọng niệm,
thấu triệt tâm tánh; Trợ công phu là công phu giúp hiển lộ
tâm tánh, trừ khử những ma chướng phát sanh bởi dụng công.
Trước hết nói về Chánh Công Phu. Trong vòng bảy ngày,
hành nhân phải giữ lòng cung kính. Một phen bước vào cửa
chùa thì cũng như vào gặp Phật. Pháp thân của Như Lai ở
khắp mọi nơi, chẳng phải chỉ mình tượng Phật trên đại điện
mới xem là Phật, mà thật ra một sắc một hương, không thứ nào
chẳng phải là diệu sắc, diệu tâm của Phật. Đối với mỗi hoàn
cảnh, nơi chốn như thế đều xem như là Phật thì ngôn hạnh tự
nhiên cung kính, chẳng còn lười nhác nữa. Cung kính chính
là bí quyết để hướng đến Bồ Đề. Đây là tầng công phu thứ
nhất.
Khi đã ngồi yên rồi thì phải buông xuống vạn duyên, quét
sạch mọi vọng niệm tạp sự hàng ngày. Sau đấy mới gom tâm về
một chỗ, buộc tâm nơi câu hồng danh, giống như nơi dòng nước
chảy xiết phải buộc chặt thuyền bè vào cột thì mới khỏi bị
nước cuốn. Đây là tầng công phu thứ hai. Kế đó trong khi
trì danh, phải giữ sao cho 6 chữ hồng danh từ tâm tưởng khởi,
từ miệng phát ra, nghe lọt vào tai, ví như ba cái bánh xe
xoay vần qua lại, cốt sao cho tâm tưởng thật trong sáng, rõ
ràng, miệng niệm được rõ ràng, tách bạch, tai nghe rõ ràng,
rành mạch. Tự niệm, tự nghe như thế, từng chữ dựa chặt vào
nhau, trong khi niệm đừng đánh mất câu nào. Đây là tầng
công phu thứ ba.
Thêm nữa lúc chúng ta niệm Phật, chẳng luận là miệng tụng
hay ý trì, hãy nên giữ cho không có tạp âm, chỉ còn mỗi một
mình tiếng niệm Phật. Do vì A Di Đà Pháp Thân ở khắp mọi
nơi, Phật quang cũng chiếu thấu khắp nơi. Vì thế lúc niệm
Phật, từ nơi ta phát ra âm thanh của tâm, tâm thanh đó hòa
nhập vào Phật quang, Phật quang lại nhập vào tâm thanh. Tâm
thanh và Phật quang dung thông như thế thì ta chính là Di Đà,
Di Đà chính là ta. Đây là tầng công phu thứ tư.
Theo đúng những điều vừa nói ở trên, tinh tấn tu tập từng
tầng cấp một, khiến cho chỗ sống biến thành chỗ chín. Đến
khi đạt được đến tầng cấp thứ tư chính là ngày thành tựu
Nhất tâm vậy.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
19. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe tiếp lời khai thị của
Đại Sư Tuyết Hư.
Đại sư dạy: Tiếp đến là Trợ công phu. Chánh công phu cố
nhiên là thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhưng chúng sanh
từ vô thỉ kiếp đến nay quen thói phiền não đã sâu, vọng niệm
tơi bời, nay muốn dùng một câu Phật hiệu đè nén chúng cho
khỏi tạo nghiệp, không còn vọng tưởng thì tuyệt đối chẳng
thể thực hiện được điều đó trong một thời gian ngắn. Vì thế,
phải dùng Trợ hạnh để giúp sức.
Nếu có thể hàng ngày tự cảnh tỉnh, quán chiếu lỗi ác của
mình, thành tâm sám hối, mong tiêu nghiệp chướng, thấy người
khác làm lành liền tùy hỷ, tán thán để tăng phước đức; tùy
hỷ, sám hối như thế đều hồi hướng vãng sanh Tây Phương thì
đây chính là Trợ hạnh thứ nhất.
Tiếp đến là pháp Hân Yểm (ưa thích và nhàm chán). Trong
các sinh hoạt thường nhật, chẳng luận là ăn, mặc, đi, đứng,
đối với mọi thứ trong cõi Sa Bà đều nhất loạt coi là ô uế mà
chán lìa. Đối với các thứ trang nghiêm được diễn tả trong
ba Kinh Tịnh Độ đều tưởng là thanh tịnh, sanh lòng ưa thích.
Chán lìa thì không có tâm tham luyến. Vui mừng, hâm mộ thì
tự tăng thêm ý nguyện cầu sanh. Đến khi hân yểm cùng cực
thì thân tuy ngụ Sa Bà nhưng chẳng còn là khách trọ lâu ngày
trong cõi Sa Bà nữa; tuy chưa chứng Cực Lạc nhưng đã sớm là
người thường trú chốn Liên bang. Đây chính là yếu quyết mầu
nhiệm của Tịnh Độ Tông, chẳng thể nói là giống như những lời
lẽ bất hân bất yểm của các tông phái khác. Đây chính là Trợ
Hạnh thứ hai.
Thêm nữa, về pháp phương tiện để chế ngự mê hoặc, nên biết
rằng niệm Phật chẳng được Nhất Tâm là do vọng niệm làm loạn,
nhưng vọng niệm chính là hoặc, mà cũng chính là ma. Vì thế
muốn đoạn ngay được mê hoặc không phải dễ dàng. Nay có
cách tạm chế ngự được mê hoặc. Cổ đức có nói: Chẳng sợ niệm
khởi, chỉ sợ giác chậm. Nếu cứ một vọng niệm khởi liền nhận
biết, biết rồi liền dùng câu Phật hiệu để chế ngự nó. Ma
đến, Phật chế ngự như thế, đầu tiên ví như dùng đá đè cỏ, đè
lâu ngày thì mê hoặc vọng niệm chẳng thể tự khởi, cũng được
phương tiện nhất tâm, đợi đến khi sanh về Tây Phương rồi sẽ
lại tiếp tục đoạn trừ mê hoặc. Đây chính là pháp đặc biệt
của Tịnh Độ, chẳng thể dùng lý lẽ của các tông khác để cật
vấn được. Đây chính là Trợ hạnh thứ ba.
Hy vọng mọi người sau bảy ngày tu tập niệm Phật, không kể
đến là đang ở trong đạo tràng hay đang trên đường về nhà đều
tu như thế. Dưới đây là một bài kệ để kết luận:
Tịnh độ khó tin nhưng dễ hành
Toàn do hai lực, Chánh và Trợ
Phải đắc Nhất tâm mới hiệu lực
Phương tiện chế Hoặc liền cảm thông.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
20. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Không Cốc:
Đại Sư dạy: Một môn niệm Phật là đường lối tu hành thẳng
tắt. Hành giả phải xét rõ thân này giả dối, việc đời như
chiêm bao, duy cõi tịnh độ là nơi đáng nuơng về, câu niệm
Phật là có thể nhờ cậy. Rồi tùy phận mà niệm hoặc mau hoặc
chậm, hoặc tiếng thấp tiếng cao, đều đều không câu ngại.
Chỉ nên để cho thân tâm nhàn đạm, thầm nhớ chẳng quên, khi
hòa hoãn, hay khi gấp gáp vội vàng, khi động khi tịnh, vẫn
một niệm không khác. Niệm như thế ngày kia xúc cảnh chạm
duyên, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Chừng ấy mới biết cõi Tịch Quang
Tịnh Độ không rời nơi đây, Phật A Di Đà chẳng ngoài tâm mình.
Nếu lập tâm tham, muốn cầu tỏ ngộ thì trở lại thành chướng
ngại, cho nên chỉ lấy lòng tin làm căn bản, chẳng tùy theo
tạp niệm, vọng tình. Hành trì như thế, dù chưa tỏ ngộ, khi
chết cũng được sanh về Tây Phương, theo từng cấp bậc mức độ
mà tiến tu, không còn lo thoái chuyển.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
21. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Triệu Lưu:
Đại Sư dạy: Người tu tịnh nghiệp đời nay, trọn ngày niệm
Phật, sám hối, phát nguyện, mà cõi Tây Phương vẫn xa, sự
vãng sanh không đảm bảo ra sao. Đấy cũng bởi bề ngoài tuy
lễ niệm, gốc ái còn bám sâu đó. Vậy phải xem sự tình ái cõi
Sa Bà là vô thường, là giả dối, giống như nhai cỏ mục sáp
khô, dù ở trong cảnh rảnh rang hoà hoãn, không động tịnh,
hay vui khổ lo mừng, cũng giữ chắc một câu hiệu Phật như dựa
vào núi Tu Di, tất cả cảnh duyên đều không thể làm lay động.
Nếu lúc nào tự cảm thấy mỏi mệt, biếng trễ, nghiệp hoặc cũ
hiện lên khuấy phá nội tâm thì phải một lòng phấn khởi mà
niệm, như thanh trường kiếm chống trời, khiến cho quân ma
phiền não trốn mất không còn, như lửa đỏ ở lò hồng, đốt tan
tình thức từ vô thỉ. Người nào giữ được như thế, tuy hiện
đang ở cõi ngũ trược mà toàn thân đã ngồi nơi thế giới hoa
sen, đợi chi đến Phật A Di Đà đưa tay tiếp dẫn, ngài Quán
Aâm dìu dắt mới tin là mình vãng sanh hay sao?
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
22. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Triệt Ngộ.
Đại Sư dạy: Có tám điều cốt yếu mà người tu tịnh nghiệp
phải ghi nhớ:
· Vì sự sanh tử, phát lòng Bồ Đề, đây là đường lối chung
của người học đạo
· Dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật, đây là chánh
tông của môn Tịnh Độ
· Lấy sự nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, làm phương tiện dụng
công
· Lấy sự chiết phục phiền não hiện hạnh làm việc cần yếu tu
tâm
· Lấy sự giữ chắc bốn trọng giới làm căn bản vào đạo
· Dùng các thứ khổ hạnh làm trợ duyên tu hành
· Lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ qui thú của môn Tịnh Độ
· Lấy các điềm lành làm chứng nghiệm cho sự vãng sanh.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
23. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Ngẫu Ích:
Đại Sư dạy: Nhạt một phần tình đời, tự nhiên đắc lực thêm
một phần Phật Pháp. Xem nhẹ chuyện kiếm sống trong cõi Sa
Bà một phần, phương tiện sanh về Tây Phương ổn đáng thêm một
phần. Điều này mình chỉ tự hỏi lòng, đừng hỏi bạn tri thức.
Tri thức cũng chỉ khuyên nhạt bớt mùi đời, coi nhẹ chuyện
làm ăn, chuyên tu Đạo xuất ly thế gian cốt yếu mà thôi.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng
sanh.Nam Mô A Di Đà Phật.
24. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Diệu Hiệp.
Đại Sư dạy: Hành giả phát tâm niệm Phật, trước khi vào đạo
tràng phải xét nghĩ ta với chúng sanh thường ở trong vòng
biển khổ sanh tử, nếu không độ cho tất cả đều được thoát ly,
sao gọi là chánh hạnh? Nhân đó, xem người oán kẻ thân đều
bình đẳng, khởi lòng đại bi, như thế quyết không bị tệ ma,
ác đảng làm cho thoái chuyển. Sau khi đã lập đại tâm, nên
nghiên cứu những chánh hạnh niệm Phật của người xưa, lập đạo
tràng đúng pháp, khiến cho hết sức trang nghiêm thanh tịnh.
Kế đó, phân ngày đêm sáu thời, đem tâm chí thành gieo mình
qui mạng về ngôi Tam Bảo, tay cầm hương hoa cúng dường, vận
tâm quán tưởng khắp pháp giới, xét mình cùng tất cả chúng
sanh từ trước tới nay ở trong vòng mê khổ, rơi lệ cảm thương,
cầu Phật gia bị, nguyện độ muôn loài. Như thế dùng hết sức
mình kham khổ tu hành, nếu nghiệp chướng sâu, chưa được cảm
cách, phải lấy cái chết làm kỳ hạn, không được giây phút nào
nghĩ đến sự vui ngũ dục của thế gian. Như kẻ căn cơ non kém,
không làm được thắng hạnh trên đây thì cũng ở trong tịnh
thất, giữ cho thân tâm nghiêm sạch, tùy ý tu hành. Hoặc
định thời khóa lễ Phật sám hối, nguyện tinh tấn không thoái
chuyển, hoặc chuyên niệm hoặc trì chú, tụng kinh. Nếu thấy
được tướng hảo thì biết mình được diệt tội, có duyên lành.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
25. Kính thỉnh đại chúng lắng nghe lời khai thị của Đại Sư
Thật Hiền.
Đại Sư dạy: Nhớ khổ sanh tử là thế nào? Ta với chúng sanh,
bao kiếp đến nay, ở mãi trong phạm vi sanh tử, chưa được
siêu thoát. Không ở trong loài người thì ở thế giới khác, ra
vào đủ cách, lên xuống liền liền. Thoáng cái làm trời,
thoáng cái làm người, thoáng cái làm địa ngục, thoáng cái
làm ngạ quỉ, súc sanh. Cửa đen sáng ra chiều vào, hang sắt
mới thoát lại sa. Lên núi đao thì cả mình không còn mảng da
nào nguyên vẹn, víu cây kiếm thì một vuông một tấc cũng bị
cắt xả phanh thây. Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào thì
ruột gan nát nhừ tương, đồng sôi đâu khỏi khát mà uống vào
thì xương nát thịt tan. Cưa sắt xả thân thì vừa xả lại liền
lại như cũ, gió quái mà thổi thì chết rồi lại sống lại ngay
để tiếp tục chịu đọa đày. Trong thành lửa dữ chỉ nghe cái
thảm thét gào, trên bàn chông nướng toàn nghe cái tiếng khóc
la thảm thiết. Băng tuyết đông lại thì xanh như sen xanh
hết nhụy, máu thịt rã ra thì đỏ như sen đỏ mới nở. Tại địa
ngục, một đêm chết sống thường bị đến cả vạn lần, cũng ở đó
mà một buổi thống khổ cũng bằng trên dương thế hàng trăm năm.
Mãi hoài làm cho ngục tốt mệt nhọc nhưng nào có ai nghe Diêm
Vương khuyên bảo. Khi chịu hình phạt thì mới biết là quá
khổ, dầu hối hận cũng đâu còn kịp nữa, lúc thoát thì lại
quên vội ngay, tạo nghiệp vẫn y hoài như cũ. Thân thể con
người khó được mà dễ mất, thì giờ qúi báu dễ trôi mà khó kéo.
Rồi đường hướng mờ mịt, biệt ly mãi hoài, ác báo tam đồ lại
phải tự chịu, thống khổ hết nói ai đâu chịu thay cho. Mô tả
đến đây, há chẳng đau lòng buốt dạ hay sao? Vì vậy, hãy
triệt dòng sinh tử, vượt bể ái dục, để mình và người cùng
thoát khổ, cùng lên bờ giác ngộ. Hết thảy công việc phi
thường trong bao đời kiếp sắp đến đều bắt nguồn từ cơ hội tu
tập niệm Phật này.
Kính thỉnh đại chúng lập lại lời phát nguyện:
Đệ tử chúng con, nguyện không tham luyến thế gian, một
lòng chí thành, trì danh hiệu Phật, nguyện Ngài tiếp dẫn,
chúng con và chúng sanh, đồng sinh Tây Phương, thoát khổ ba
đường, viên tròn Phật qủa, trở lại Sa Bà, hóa độ chúng sanh.
Nam mô A Di Đà Phật
|