|
LỜI BẠT
Quyển “Pháp môn niệm Phật” này được lưu hành
là do công trình của chúng tôi tuyển chọn, sưu tập những lời lẽ
hay quý ở các sách:
1) Pháp môn Tịnh độ (HT. Thích Trí Thủ)
2) Hương quê Cực lạc (Liên Du)
3) Ðường về Cực lạc (TT. Thích Trí Tịnh)
4) Tịnh độ Thập nghi luận (Liên Du)
5) Hồi chuông cảnh tỉnh (TT. Thích Trí
Tịnh)
6) Niệm Phật thập yếu (TT. Thích Thiền
Tâm)
Và việc
làm này cũng chỉ
nhằm mục đích tự lợi lợi tha, và đó cũng là bổn phận của
người con Phật vậy.
HỒI
HƯỚNG CÔNG ÐỨC
^
Con nguyện đem công đức này
Tạo thành quyển sách này
Nhan đề phép niệm Phật;
Ấn tặng trong tứ chúng
Y theo lời giáo huấn
Chư Phật cùng chư Tổ
Ðồng tu đồng chung
Vãng sanh Cực lạc quốc;
Cầu bốn ân ba cõi
Con cùng với chúng sanh
Tăng trưởng các căn lành
Ðều sanh về Cực lạc.
THÍCH HỒNG ÐẠO
I. NHỮNG LỜI VÀNG VỀ PHÁP MÔN
NIỆM PHẬT
^
* Niệm Phật không khó, khó ở bền lâu
* Niệm bền lâu không khó, mà khó ở
nơi nhất tâm.
1. Pháp môn niệm Phật cao cả
không cùng, rộng lớn như trời che đất chở. Ðây là pháp môn
tổng trì của chư Phật ba đời, là đạo mầu đặc biệt trong một
đời giáo hóa của Ðức Thích-ca. Trên như bậc Ðẳng Giác Bồ-tát,
không thể vượt ra ngoài phạm vi của môn này, dưới dù kẻ phạm
tội nghịch ác cũng được phần tế độ.
Tuy nhiên, bởi pháp môn
cao siêu như thế
mà phần nhiếp cơ lại quá phổ cập, dùng ít sức mà thu
thập kết quả rất mau lẹ lớn lao,
nên những vị thông hiểu
đôi chút về tông,
giáo đều cho là môn tu trì của kẻ ngu phu, ngu
phụ. Truy nguyên, cũng do
các vị ấy chưa hiểu
rõ chỗ lớn, nhỏ, khó, dễ
của Phật lực và tự lực.
Hai phương diện này, sự
hơn kém thật không
thể dùng lời nói, văn tự hình dung cho hết
được. Vì sao? Bởi tất cả
pháp môn khác đều
nương theo sức giới, định, huệ tu cho đến
nghiệp sạch, tình không,
mới có thể thoát
luân hồi sanh tử. Nhưng địa vị nghiệp sạch
tình không, đâu phải là
dễ được! Trong hai
phần hoặc nghiệp, dứt được kiến hoặc khó
cũng như ngăn chặn dòng
nước đổ bốn mươi
dặm, huống nữa là tư hoặc ư! Dù cho bậc tỏ ngộ cao
siêu, nếu chưa dứt sạch phiền não,
vẫn còn bị luân hồi. Và
một khi đã thọ sanh
thì kẻ thối thất trong
một muôn có đến mười ngàn, kẻ tiến bộ trong ức người
khó được ba bốn. Thế thì tự lực không đủ ỷ lại, không chi
vững vàng. Những kẻ khoe mình là trí, không thuận theo lòng
từ thệ nhiếp thọ của Như-lai, thử nghĩ có nên tự phụ chăng?
Riêng về môn Tịnh độ, nếu người có
đủ tín nguyện chân thiết,
dùng lòng chí thành
niệm Phật như con thơ nhớ mẹ và hằng ngày
sự hành vi không trái với đạo đức, thì đến khi lâm chung sẽ được
nhờ Phật tiếp dẫn sanh về
Tây phương. Dù người ấy hoặc nghiệp hãy
còn, nhưng khi đã vãng
sanh thì chỗ sở đắc
cũng cao hơn bậc A-la-hán
tình không nghiệp sạch, vì lẽ chủng tánh không đồng.
Kẻ chưa dứt nghiệp hoặc còn như thế, người đã hết nghiệp
không đợi phải luận nhiều! Ấy bởi do Phật lực, pháp lực và
tâm lực của chúng sanh đều không thể nghĩ bàn; mà tâm lực lại
nhờ năng lực của Phật và
Pháp, được hiển
hiện một cách toàn vẹn. Cho nên, chỉ ỷ lại
vào tự lực, sánh với
nương nhờ Phật lực, thật kém xa nhau hằng hà sa số sự
cách biệt của đất trời! Lại nên biết, đạo lý của môn Tịnh độ
này không thể đem luận chung với các pháp môn phổ thông khác
vì đây là pháp môn đặc biệt! Tôi thường có đôi liễn:
“Pháp môn cao cả, lợi khắp ba căn,
nhân đây chín cõi đồng về, mười phương khen ngợi”
“Phật nguyện rộng sâu, không từ một
vật, nên được ngàn Kinh đều chỉ, muôn Luận tuyên bày”
(Trên đây là lời của Ðại sư Ấn Quang,
vị Tổ thứ 13 trong Liên tông Phật giáo Trung Hoa)
2. Sáu chữ “Nam mô A-di-đà Phật”
là từ tiếng Phạn phiên âm ra. Nếu cắt nghĩa từng chữ một
theo Phạn ngữ thì chỉ có bốn chữ mà thôi. Trước hết, chữ
“Nam mô” có 6 nghĩa: Kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ
ngã, quy mạng. Chữ “A”“ nghĩa là không,
là vô, chữ “Di-đà” nghĩa
là lượng. Chữ Phật
nghĩa là Giác giả. Hợp cả bốn chữ lại có nghĩa là: Quy y kính lễ
đấng giác ngộ vô lượng.
Ðức Phật A-di-đà là Giáo chủ thế giới Cực Lạc. Ngài đã từng
phát nguyện rằng ai niệm danh hiệu Ngài, lúc lâm chung sẽ
được Ngài tiếp dẫn sanh về nước Cực lạc. Vì thế, về sau
chúng sanh căn cứ vào đó mà xưng niệm danh hiệu Ngài.
3. Pháp môn
Tịnh độ, tức là môn niệm Phật, do Phật Thích-ca,
Di-đà kiến lập, Bồ-tát
Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, đức Mã Minh, Long Thọ
hoằng dương và chư Tổ Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương,
Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích xướng đạo để khuyến khắp Thánh,
phàm, ngu, trí đồng tu hành vậy.
4.
Ðức Phật A-di-đà ngày xưa
phát 48 lời nguyện làm duyên khởi tạo thành thế giới
Cực lạc. Từ đó về sau,
chúng sanh trong mười
phương đều lấy sự phát
nguyện vãng sanh
làm căn cứ tu hành của tông Tịnh độ. Một
đằng, Phật nguyện tiếp
dẫn, một đằng chúng
sanh nguyện vãng sanh,
hai nguyện gặp
nhau, hai lực
lượng tự, tha hỗ trợ nhau mới đủ sức
kết thành quả vãng sanh. Vì thế, người tu
tịnh nghiệp quyết phải phát nguyện dõng
mãnh.
5.
Trong 48 lời đại nguyện
của Ðức A-di-đà, lời đại nguyện thứ 19 nói một cách rõ ràng
rằng nếu có người chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước Ngài,
lúc lâm chung nhất định Ngài sẽ đến tiếp dẫn. Cho nên, hễ có
phát nguyện là quyết định phải được vãng sanh.
6. Không sanh về Tịnh độ tất phải
đọa ác đạo.
Trong mười phương, số thế giới tuy nhiều vô tận, nhưng xét
về phương diện tịnh uế, thì chỉ có thể chia làm hai loại mà
thôi: Một là Tịnh độ của chư Phật, hai là tam giới (uế độ)
của chúng sanh. Không sanh về bên nọ, tất phải sanh bên kia.
Sanh về Tịnh độ tức là thoát ly sanh tử, sanh trong tam giới
tức là còn sống chết luân hồi.
Ở cõi Trời, phước báu tuy
nhiều nhưng vẫn có giới hạn và sai khác nhau, nên cuối cùng
sẽ có ngày phước hết, báo cùng, thọ mạng tất phải chấm dứt,
để rồi tùy nghiệp mới mà thác sanh qua kiếp khác, quanh quẩn
trong tam giới.
Tất cả chúng sanh, nếu không được sanh về cõi Phật, tất
nhiên sẽ phải đọa vào ác đạo, không trước thời sau. Nếu muốn
sanh về cõi Phật, đương nhiên phải là niệm Phật. Ðó là một
sự thật đương nhiên không thể phủ nhận.
7. Do vì Ðức Phật A-di-đà có bổn
thệ nguyện lực nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, nên người
dùng tín nguyện mà niệm Phật (tự lực) thời cảm thông với
nguyện lực của Phật, nương nguyện lực của Phật nhiếp thủ (tha
lực) liền đặng siêu thoát sanh tử luân hồi mà sanh về Cực
lạc Tịnh độ. Ðã được vãng sanh tức là vào bậc Thánh lưu bất
thối, nên gọi là rất viên đốn, rất huyền diệu và thành công
cao.
8. Pháp môn niệm Phật là con
đường phương tiện duy nhất hướng dẫn ta và tất cả chúng sanh
từ xứ ác trược Ta-bà về đến thế giới thanh tịnh Cực lạc.
9. Nương pháp môn niệm Phật, ắt
là ta sẽ được toại bổn
nguyện: Giải thoát, thành Phật, độ sanh. Người cực ác
tu còn thành tựu thay, huống ta chưa phải là kẻ ác!
10. Ðức Phật Như-lai có dạy một
phương tiện siêu thắng để bảo đảm sự giải thoát, mà cũng để
bảo đảm vững chắc bước đường thành Phật cho tất cả chúng
sanh: Pháp môn Tịnh độ, tức môn niệm Phật cầu sanh Cực lạc
thế giới. Theo lời Phật, dầu là hạng cực ác mà chịu hồi tâm
tu theo pháp môn này trong một thời gian rất ngắn (10 niệm)
cũng được vãng sanh; đã được vãng sanh thời là siêu phàm
nhập Thánh, thoát hẳn sanh tử, bất thối Vô thượng Bồ-đề.
11.
Với pháp môn niệm Phật
này, không luận là kẻ trí ngu, không luận là Tăng tục,
không luận sang giàu, nghèo hèn, già trẻ, nam nữ, không luận
là sĩ, nông, công, thương... tất cả các giới trong xã hội
đều có thể tu tập và đều có thể thành tựu đặng cả.
12. Văn Thù Bồ-tát nói: Các môn
tu hành không môn nào qua môn niệm Phật. Niệm Phật là “vua”
trong các pháp môn.
13. Ðức Quán Thế Âm bảo: Tịnh độ
pháp môn là hơn tất cả hạnh khác.
14. Mã Minh Ðại sĩ cho rằng:
Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện siêu thắng của Ðức
Như-lai.
15. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ-tát
nói: Pháp môn niệm Phật là tâm tông của chư Phật, là con
đường giải thoát tắt nhất của mọi loài.
16. Pháp môn Tịnh độ nhiếp cả
Thánh phàm, nhiếp cả thiện ác, nhiếp cả chúng sanh, như biển
lớn gồm thâu muôn dòng vậy.
17. Ấn Quang Ðại sư cũng từng nói:
Vì nương Phật lực nên tất cả mọi người, không kể là nghiệp
hoặc nhiều hay ít, cũng không kể là công phu hành đạo cạn
cùng sâu, miễn tin cho chắc, nguyện cho thiết, thời quyết
muôn người tu muôn người vãng sanh không sót một. Còn nếu là
bậc đã đoạn hoặc chứng chân mà cầu vãng sanh thời đốn siêu
Thập địa. Bậc Thập địa mà cầu sanh thời mau viên Phật quả.
Vì thế nên cả các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ...
các đại Bồ-tát đều nguyện vãng sanh. Ðến như những kẻ tạo ác
cả đời, sắp đọa địa ngục, hồi tâm niệm Phật cũng được giải
thoát, như các ông: Trương Thiện Hòa, Trương Chung Húc, Hùng
Tuấn, Duy Cung... Hạng người phạm tội ác ấy mà còn được
thành tựu thay, huống là những người chưa quá ác, huống là
những người lành.
18. Trong Kinh Ðại Tập, Ðức Phật
có lời huyền ký: “Thời mạt pháp muôn ức người tu hành, khó
có một người được giải thoát, chỉ nương nơi pháp môn niệm
Phật mà được thoát khỏi luân hồi sanh tử”.
19. Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ,
Phật đã dạy: “Trong đời vị lai, khi Kinh đạo diệt hết, Ta
dùng lòng từ bi đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại trong một
trăm năm, chúng sanh nào gặp được kinh này, đều có thể được
độ thoát như ý sở nguyện”.
20. Chân nghĩa của pháp môn Tịnh
độ chỉ có Phật mới biết hết.
Trong các Kinh nói về Tịnh độ, sở dĩ Phật không dùng lý để
lập luận một cách chặt chẽ mà chỉ khuyến phát tín tâm và
thực hành, không phải pháp môn Tịnh độ không có lý nghĩa
vững chãi, chẳng qua vì nghĩa lý ấy quá thâm diệu và “bất
khả tư nghị”, nên không thể nào nói hết. Cảnh giới Tịnh độ
đã “bất khả tư nghị”, lại thêm ngữ ngôn chỉ hữu hạn, không
thể nào nói đầy đủ được, dù cho có nói nhiều đến đâu, cũng
chỉ diễn tả được một khía cạnh nào đó thôi, không sao tránh
được thiếu sót, không sót bên nọ cũng sót bên kia, hoặc nói
được một thì sót đến mười. Ðó là các lý do khiến Phật không
lý luận mà chỉ khuyên tu trì, thực hành phép niệm Phật.
Chúng ta thử nghĩ, nếu phương pháp trì danh niệm Phật không
phải thật có ý nghĩa cao siêu và công đức bất khả tư nghị
thì tại sao trong Kinh “Phật thuyết A-di-đà”, Phật dạy rằng
khi Phật nói kinh đó thì hết thảy chư Phật trong sáu phương
đều tán thán và hộ niệm? Như vậy, thì biết rằng pháp môn ấy
đặc biệt và nhiệm mầu như thế nào!
Vả lại, trong kinh có nói: “Không thể nhờ một ít nhân duyên
phước đức thiện căn mà có thể vãng sanh được”. Tiếp đó Ngài
lại dạy: “Bảy ngày chấp trì danh hiệu, đạt được nhất tâm bất
loạn thì liền được vãng sanh”. Như thế thì thiện căn phước
đức nhân duyên của sự chấp trì danh hiệu quả không phải nhỏ
vậy.
21. Trong 48 lời nguyện của Ðức
Phật A-di-đà đều có câu “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác”.
Xin lưu ý rằng đó là một điều quan trọng. Không thủ ngôi
Chánh giác tức là từ chối quả vị Phật, không chịu làm Phật
để riêng an hưởng thường, lạc, ngã, tịnh một mình, trong khi
chúng sanh trong quốc độ còn đau khổ. Lời nguyện vừa hợp
tình, vừa xứng lý, vừa quảng đại bao la, thể hiện hoàn toàn
được cả một trời đại từ đại bi thăm thẳm, khó thể nghĩ bàn.
Trong Kinh “Phật thuyết A-di-đà” Ðức Thích-ca dạy rằng: Ðức
Phật A-di-đà thành Phật đã từ mười kiếp rồi và 48 lời nguyện
của Ngài đều đã được thực hiện hoàn toàn viên mãn. Nếu không
như thế Ngài quyết không chịu thành Phật.
22. Sở dĩ hành giả bình thời xưng
niệm danh hiệu Phật, chính là ứng hợp với đại nguyện thứ 18
của Ðức A-di-đà: “Mỗi ngày mười niệm quyết được vãng sanh”;
bình thời phát nguyện cầu vãng sanh tức là ứng hợp với đại
nguyện thứ 19 của Ðức A-di-đà: “Kẻ nào phát nguyện vãng sanh
Cực lạc, lúc lâm chung sẽ có Phật đến rước”; và bình thời
làm các công đức, hồi hướng công đức về quả Cực lạc tức là
ứng hợp với đại nguyện thứ 20 của Ðức A-di-đà: “Kẻ nào hồi
hướng công đức, nhất định được vãng sanh”.
Hằng ngày, tu phép thập niệm phát nguyện vãng sanh và hồi
hướng công đức, cũng như người có đóng bảo hiểm nhân thọ.
Một bên là đóng bảo hiểm vật chất. Một bên là đóng bảo hiểm
tinh thần; cả hai đều nhất định toại nguyện như nhau.
Như trên, ta thấy quả vãng sanh là một
quả có bảo đảm chắc chắn. Mà nhân vãng sanh lại là một nhân
dễ tu tập. Ðiều cốt yếu là phải thật hiểu chân tinh thần của
pháp môn niệm Phật mới sanh được chánh niệm và có được ba tư
lương: Tín, Nguyện, Hạnh.
23. Pháp môn Tịnh độ dễ tu nhưng
khó tin. Trong Kinh Phật thuyết A-di-đà, Ðức Thế-tôn cũng
thừa nhận như thế (nan tín chi pháp)
Ðã thế rồi, pháp môn này lại còn nương tựa hoàn toàn vào
lòng tin để thành lập, nương tựa vào lòng tin để duy trì; có
lòng tin rồi mới sanh khởi hành động và có hành động rồi mới
đạt nguyện vọng nhân viên quả mãn. Nếu không có lòng tin
vững chắc thì tuy cửa Phật rộng mở, cũng không thể gì vào
được. Vì vậy nên Tín, Nguyện, Hạnh gọi là ba món tư lương về
Tịnh độ.
Nói tư lương cũng ví như nói người muốn đi xa cần phải có
tiền của (tư) và lương thực (lương). Nếu thiếu một trong hai
thứ đó thì khó mà đạt mục đích mình muốn đến. Cũng thế, ba
món tư lương cần có để lên đường về Tịnh độ cũng không thể
thiếu một. Hơn nữa, ba món này liên hệ mật thiết với nhau
theo thứ tự trước sau tiếp nối sanh khởi. Trước hết phải do
có lòng tin thâm thiết mới có phát sanh nguyện cầu; do
nguyện cầu thành khẩn mới hăng hái hành động. Nếu lòng tin
không có thì quyết nhiên nguyện và hạnh không thể thành lập
được.
24. Tín là căn bản của người tu
hành pháp môn Tịnh độ.
Thứ nhất, phải tin rằng ba bộ kinh nói về Tịnh độ là do Ðức
Thế-tôn vì lòng từ bi chân thật mà dạy cho chúng ta, quyết
không phải như sách ngụ ngôn giả thiết để khuyến tu.
Thứ hai, phải tin rằng ngoài thế giới ô uế mà chúng ta hiện
sống, chắc thật có thế giới Tịnh độ trang nghiêm.
Thứ ba, phải tin rằng 48 lời đại nguyện của Ðức Phật
A-di-đà, cùng là những công hạnh kiến lập cõi Tịnh độ của
Ngài là chân thật, cũng như việc Ngài hiện đang ứng hóa độ
sanh tại cảnh giới Tịnh độ ấy là chân thật.
Thứ tư, phải tin rằng sanh Tịnh độ hay uế độ hoàn toàn do tự
tâm ứng hiện, hễ trồng nhân tịnh thì được quả tịnh, trồng
nhân uế thì được quả uế, tuyệt nhiên không liên quan gì đến
vấn đề thưởng phạt.
Thứ năm, phải tin rằng chánh niệm của ta cùng tâm niệm của
Ðức Phật A-di-đà chắc chắn cảm ứng với nhau, lâm chung thế
nào cũng được Ngài tiếp dẫn vãng sanh.
Thứ sáu, phải tin rằng tuy ác nghiệp của chúng ta có nhiều,
nhưng một khi đã sanh về Tịnh độ, nhờ có hoàn cảnh tốt đẹp
thuận tiện, nhờ ơn giáo huấn thường xuyên của Phật và
Bồ-tát, ác niệm không thể sanh khởi lại và ác báo do đó sẽ
lần lần tiêu trừ.
Thứ bảy, phải tin rằng sức mình và sức Phật, cả hai đều bất
khả tư nghị. Trong hai sức cùng bất khả tư nghị ấy, sức Phật
lại bất khả tư nghị gấp trăm ngàn muôn ức lần hơn, cho nên
một khi được tiếp dẫn, dù sức mình còn kém cỏi thì với sức
Phật cũng đủ giúp ta vãng sanh.
Thứ tám, phải tin rằng khi mình niệm một câu Phật là tức
thời Ðức Phật liền nghe và liền thâu nhiếp.
Thứ chín, phải tin rằng hễ mình niệm Phật thì chắc chắn lúc
lâm chung được Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn vãng sanh về
thế giới Cực lạc, quyết không còn đọa lạc luân hồi trong sáu
đường nữa.
Tóm lại, phải tin chắc rằng những lời Phật dạy trong kinh
đều chân thật, cần phải thâm tín, tuyệt đối không nên sanh
tâm ngờ vực. Lòng ngờ vực là chướng ngại vật không thể vượt
qua trên con đường dẫn đến đạo quả. Có lòng ngờ vực rồi thì
tất nhiên nguyện và hạnh sẽ không có cứ điểm để sanh khởi.
Nếu lòng tin kiên cố, tự nhiên phát nguyện cầu sanh Cực lạc
và đã phát tâm nguyện cầu tự nhiên chuyên tâm tinh tấn, y
pháp hành trì, không đợi ngoại duyên thúc đẩy.
Hễ Tín đã vững chắc thì Nguyện và Hạnh
tự nhiên thành tựu, khỏi cần phải nhắc nhủ, khuyến hóa.
25. Ðã tin sâu, nguyện thiết,
phải tu chánh hạnh niệm Phật. Sự tu trì đây đều tùy theo
thân phận của mình mà lập, không nên chấp định một pháp thức
nào. Như người không việc chi hệ lụy, nên từ mai đến chiều,
chiều lại mai, lúc đi đứng nằm ngồi, nói nín động tịnh, khi
ăn cơm mặc áo cùng đại tiểu tiện, tất cả thời, tất cả chỗ
đều giữ một câu hồng danh không rời nơi tâm niệm. Nếu khi
thân hình sạch sẽ, y phục chỉnh tề, chỗ nơi thanh khiết, thì
niệm thầm hay ra tiếng đều được. Như lúc ngủ nghỉ, tắm gội,
đại tiểu tiện hoặc ở chỗ không sạch chỉ được niệm thầm,
không nên ra tiếng, niệm thầm công đức vẫn đồng, nếu ra
tiếng thì có lỗi không cung kính. Chớ cho rằng những lúc ấy
không nên niệm, chỉ e niệm không được mà thôi. Lại khi nằm
nếu niệm ra tiếng, chẳng những không cung kính, mà còn bị
tổn hơi, phải biết điều này.
26. Muốn được vãng sanh về cõi
Tịnh độ Tây phương, hành giả phải chuẩn bị ba yếu tố: Tín,
Hạnh, Nguyện, nếu thiếu một món nào cũng không thể tu hành
có kết quả. Hành giả phải suốt đời chuyên tâm niệm Phật với
một lòng thành kính, tin tưởng và nhất quyết cầu khi lâm
chung được vãng sanh cõi Tịnh độ. Niệm cho đến “nhất tâm bất
loạn” thì chắc chắn sẽ được mãn nguyện.
27. Pháp môn niệm Phật cần có đủ
16 chữ:
Vì thoát sanh tử, phát tâm Bồ-đề
Lấy tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật
Bởi vì hết thảy những sự thống khổ cực
nặng trong thế gian, không chi bằng cái khổ sanh tử, mà nếu
sanh tử chẳng dứt được thì sanh rồi tử, tử rồi sanh, ra khỏi
bào thai này, chun vào bào thai khác, cởi bỏ đãy da nọ, mang
lấy đãy da kia, khổ nào xiết nói!
28. Một chữ nguyện bao gồm cả tín
và hạnh. Tín là tin tự, tha, nhân, quả, sự, lý không hư dối.
Tín tự: Tin tất cả do tâm tạo, mình niệm Phật sẽ được
Phật tiếp dẫn. Tín tha: Tin Phật Thích-ca không nói
dối, Phật A-di-đà không nguyện suông. Tín nhân: Tin
niệm Phật là nhân vãng sanh, giải thoát. Tín quả: Tin
sự vãng sanh thành Phật là kết quả. Tín sự: Tin cảnh
giới Tây phương, tất cả sự tướng đều có thật. Tín lý:
Tin lý tánh duy tâm bao trùm Phật độ. Mỗi điều trên đây đều
xác thật nên gọi là không hư dối. Hạnh là chuyên trì danh
hiệu không xen tạp, không tán loạn. Nguyện là mỗi tâm ưa
thích, mỗi niệm mong cầu. Trong ba điều này, người tu tịnh
nghiệp cần phải đủ không thể thiếu một, mà Nguyện là điểm
cần yếu. Có thể có Tín, Hạnh, mà không Nguyện, chưa từng có
Nguyện mà không Tín, Hạnh.
29. Ðược vãng sanh hay không là
do Tín Nguyện có hay không, còn phẩm vị vãng sanh cao hay
thấp là tùy việc trì danh sâu hay cạn.
30. Tín, Nguyện, Hạnh là
ba tư lương sanh về Tịnh độ. Nếu tư lương không đủ, quyết
không được vãng sanh. Sở dĩ vì thế mà sự phát nguyện chiếm
một địa vị tối quan trọng trong pháp môn tu Tịnh độ.
31. Thập thiện là mười
điều thiện, là căn bản tu hành, thuộc ba nghiệp thân, khẩu,
ý gọi là tu tịnh nghiệp.
Thân nghiệp có ba: Không sát sanh, không trộm cắp, không dâm
dục (nếu tại gia thì không tà dâm).
Khẩu nghiệp có bốn: Không nói láo, không nói lời thêu dệt,
không nói hai lưỡi, không nói lời thô bạo.
Ý nghiệp có ba: Không tham lam, không sân nhuế, không ngu
si.
Mười điều thiện này là căn bản phát sinh tất cả các điều
thiện khác. Ðó cũng là nền tảng xây dựng mọi cảnh giới an
vui. Người tu hành mà không tu mười điều thiện này, thì
không khác kẻ xây lâu đài cao ngàn thước trên vũng bùn xập
xậy, quyết không hy vọng thành công.
32. Ðã tu tịnh nghiệp phải giữ
luân thường, làm hết bổn phận, dứt niệm tà, gìn
lòng thành kính, trừ bỏ
các điều ác, vâng làm
những việc lành, đừng
giết hại, gắng ăn chay,
thương tiếc hộ trì mạng
sống loài vật, tín
nguyện niệm Phật cầu sanh Tây phương. Bên
trong phải vì ông bà, cha
mẹ, anh em, chị em,
bên ngoài vì thân thích,
bạn bè, xóm giềng,
làng nước, đem pháp môn Tịnh độ này mà phụng khuyến,
chẳng luận người có tin làm
cùng không, chỉ hết sức
mình khiến cho mọi
người đều biết pháp nhiệm mầu này mà thôi.
33. Người tu tịnh nghiệp, nếu có
mảy may công đức lành đều đem hồi hướng vãng sanh. Như thế
thì tất cả hành môn đều là trợ hạnh của Tịnh độ. Lại phải
phát lòng Bồ-đề, thề độ muôn loài, đem công đức mình tu hồi
hướng cho bốn ân ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới. Làm
như thế như đèn thêm dầu, như mạ được mưa, đã kết pháp duyên
sâu cùng tất cả chúng sanh, lại mau thành tựu thắng hạnh Ðại
thừa của mình. Nếu chẳng hiểu nghĩa này, tất thành ra chỗ
thấy cạn hẹp tự lợi của hàng phàm phu và nhị thừa, tuy hạnh
mầu, cảm quả rất kém (xem bài phát nguyện, chương VII).
34.
Người tu tịnh nghiệp nên
biết rằng sự tu hành hôm nay, chính là đối địch với
nghiệp sanh tử ngày mai,
không phải chuyện tầm thường, hằng nghĩ đến vô thường
mau chóng, ngày tháng chẳng chờ người nhận chân, thiết thật
mà niệm Phật. Nếu nửa lui nửa tới, lúc tin lúc ngờ, kết cuộc
tịnh nghiệp không thành tựu, làm sao ra khỏi luân hồi?
35. Tu tịnh nghiệp, cảnh cô tịch
chừng nào hay chừng nấy. Tiếng niệm Phật cao thấp, mau chậm
tùy nghi, làm sao cho hợp thành một phiến. Nên biết, khi ấy
thân tuy đơn chiếc mà tâm chẳng lẻ loi, vì tâm của chư Phật
cùng Ðức A-di-đà chưa từng tạm rời ta, ta khởi niệm thì Phật
biết, mở miệng Phật liền nghe, lo gì sợ cô tịch!
36. Có tám điều cốt yếu, người tu
tịnh nghiệp nên ghi nhớ:
1/ “Vì sự sanh tử, phát lòng Bồ-đề”, đây
là đường lối chung của người học đạo.
2/ “Dùng tín, nguyện sâu trì danh hiệu
Phật, đây là chánh tông của môn Tịnh độ.
3/ Lấy sự nhiếp tâm chuyên chú mà niệm,
làm phương tiện dụng công.
4/ Lấy sự chiết phục phiền não hiện hành
làm việc yếu tu tâm.
5/ Lấy sự giữ chắc bốn trọng giới làm
căn bản vào đạo.
6/ Dùng các thứ khổ hạnh làm trợ duyên
tu hành.
7/ Lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc
của môn Tịnh độ.
8/ Lấy các điềm lành làm chứng nghiệm
cho sự vãng sanh.
37. Chí tâm niệm Phật tức là ý
nghiệp làm lành, xưng danh hiệu Phật là khẩu nghiệp làm
lành, chắp tay lễ bái là thân nghiệp làm lành. Do ba nghiệp
này làm lành, nên có thể diệt tội nặng sanh tử trong tám
mươi ức kiếp, nhờ hạnh nguyện nương nhau, quyết định được
vãng sanh.
38. Người tu tịnh nghiệp khi ngồi
nằm không được xoay lưng về hướng Tây,
cũng không được hướng về
Tây khạc nhổ cùng đại tiểu tiện. Bởi đã quy y về Liên
bang nên tôn sùng miền kim địa, nếu lòng không trân trọng,
đâu phải là chí nguyện cầu sanh.
39. Miệng đừng ngớt tụng, ý chớ
nghĩ khác. Phàm phu tạp loạn, khẩu ý khó kiềm.
Trong Kinh Phạm Võng,
Phật dạy: “Mỗi
ngày khởi ba nghiệp tội, mà tội của miệng
thì vô lượng”. Muốn cho
khẩu nghiệp khỏi gây
tội, chỉ có cách là đừng
nói. Song miệng
không nói càng làm cho ý suy nghĩ nhiều, mà nếu ý suy
nghĩ những điều quấy, còn không bằng nói mà nói những chuyện
có ích, không hại. Bởi thế cho nên các vị Tổ sư lấy phương
pháp tụng kinh làm một phương tiện kiềm chế khẩu nghiệp và ý
nghiệp đắc lực nhất.
Từ xưa đến nay, các vị chuyên tu về môn niệm Phật, thường
phải đóng cửa (kiết thất)
để kiềm chế ba nghiệp, cho tâm chuyên nhất cảnh. Như
bà Vô Sanh cư sĩ đóng cửa
thất 49 ngày, dứt tất cả duyên sự, chuyên
một câu niệm Phật, nhờ vậy mà bà được “Niệm Phật tam muội”. Sở dĩ
kiết thất là phương tiện
cần yếu của pháp môn Tịnh độ, vì chúng ta hiện là
phàm phu mê tối, chướng dầy mà huệ mỏng, nghiệp nặng phước
nhẹ, nên tâm nhiễm dễ khởi, tịnh nghiệp khó thành.
40. Người mà thực vì thoát ly
sanh tử, phát Bồ-đề tâm là con đường phổ thông học
đạo. Lấy lòng tín nguyện
thật sâu để niệm
danh hiệu Phật, là chính tông tu pháp Tịnh độ. Thân
tâm chuyên chú niệm Phật là pháp
phương tiện tu Tịnh độ.
Cốt yếu phải bền
chắc giữ bốn giới cấm trọng để làm căn bản nhập
đạo. Phải bẻ dẹp phiền não hiện hành, là việc cần yếu để tu tâm.
Dùng mỗi mỗi khổ hạnh chính đáng để làm trợ duyên tu hành.
Phải niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc
cho tịnh hạnh. Lấy mỗi mỗi điều lành để làm chứng nghiệm
được vãng sanh.
41.
Niệm Phật mà không phát
lòng Bồ-đề, thì
không tương ưng với bổn nguyện của
Ðức Di-đà, tất khó vãng
sanh (lòng Bồ-đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành
quả Phật, dưới nguyện độ chúng sanh). Tuy phát lòng Bồ-đề mà không chuyên
niệm Phật cũng không được vãng sanh. Nên phải lấy sự
phát lòng Bồ-đề làm chánh nhân, niệm Phật làm
trợ duyên, rồi sau mới
cầu sanh Tịnh độ.
Người tu tịnh nghiệp cần phải hiểu biết điều này.
42. Môn niệm Phật cầu sanh Tịnh
độ, nương nguyện lực rộng lớn của Ðức Phật A-di-đà, tất cả
lục đạo chúng sanh không luận căn lành thành thục hay chưa
thành thục, không luận ác nghiệp nặng hay nhẹ, nếu ai bằng
lòng tin chắc, phát nguyện trì niệm hồng danh A-di-đà Phật,
thời quyết định được Ðức Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc
Tịnh độ, là hạng thiện căn thành thục, tất chóng viên mãn
Phật quả, nhẫn đến kẻ ác nghiệp nặng cũng đặng dự hàng
Thánh.
Nên biết, pháp môn niệm Phật là
yếu đạo độ sanh của chư
Phật và là diệu pháp
mà trên thì Thánh nhân đại Bồ-tát, dưới đến phàm phu đều đồng tu.
Vì thế nên trong các kinh liễu nghĩa Ðại thừa luôn nhắc đến,
mà lịch đại Tổ sư không ai chẳng tuân hành.
Xét về Ðức Thích-ca Mâu-ni và Phật
A-di-đà, từ nơi kiếp xưa
từng phát đại nguyện độ thoát chúng sanh. Ðức
Thích-ca thực hiện ở uế độ dùng khổ để chiết phục và thúc
đẩy chúng sanh tiến tu. Còn Ðức A-di-đà an tọa
nơi Tịnh độ, dùng tịnh,
dùng vui để nhiếp thọ và đào luyện cho mọi người nên
Thánh quả.
43. Ðức Bổn sư Thích-ca hết lời
khuyên đại chúng hiện thời cũng như mạt pháp, chúng sanh
phải cầu sanh Cực lạc, để được thấy Phật, nghe pháp, mau
chứng Vô sanh nhẫn, rồi sau sẽ tùy nguyện vào Ta-bà để cứu
độ chúng sanh. Như thế thời có tiến mà không thối, có lợi mà
không tổn.
44. Hiện tại phương pháp Trì danh
niệm Phật thâm nhập nhân gian, phổ cập khắp quần chúng và
không ai là không biết niệm sáu tiếng “Nam mô A-di-đà Phật”.
Lý do thâm nhập và phổ biến của phương pháp này là hễ có tu
là có thành, rất thích hợp với mọi căn cơ, bất cứ kẻ trí
người ngu đều thâu nhiếp được một cách dễ dàng. Số người nhờ
nương pháp này mà được độ thoát, so với các tông phái khác,
chiếm đến trên bảy tám mươi phần trăm.
Cứ xác thật mà nói, thì đạo lý của pháp môn này hàm chứa
tinh ba của hết thảy các pháp môn khác một cách sâu xa rộng
rãi. Không những so với các pháp môn khác, nó đã không kém
thua, mà trái lại tinh ba của các pháp môn khác đều thu trọn
vào trong một pháp môn này. Nó có đủ khí độ rộng rãi tập hợp
sự đại thành của các tông phái khác. Vì vậy nếu bàn đến hiệu
quả, bàn đến học lý, bàn đến khó dễ, không một tông phái nào
so sánh kịp!
45. Muốn
chống đỡ với những khó
khăn
chướng ngại của thời mạt
pháp, không còn có
pháp môn nào hơn pháp môn niệm Phật.
Pháp môn này tự nó đã đơn
giản dễ theo,
ngoài ra nó lại dồn được cả hai sức: tự, tha để hỗ
trợ cho nhau nên dễ thành tựu. Kinh Ðại Tập dạy: “Ðời mạt
pháp, trong số ức triệu
người tu hành, chưa có một người đắc đạo,
duy chỉ có nương vào pháp
môn niệm Phật mới
được độ thoát sanh tử”. Vì thế nên biết, sau
khi các tông phái khác
suy tàn, duy có mỗi
một tông Tịnh độ là còn
tồn tại để nối dài
pháp vận, cứu độ chúng sanh mà thôi; các
tông phái khác như Thiền,
Giáo, Luật tông,
v.v... đều phụ thuộc làm trợ duyên cho tông Tịnh độ,
chớ không có thể đơn độc tồn tại riêng được.
Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật đã dạy: “Trong đời vị
lai, khi kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi, đặc biệt lưu
lại kinh này tồn tại trong một trăm năm, chúng sanh nào gặp
được kinh này đều có thể được độ thoát như ý sở nguyện”.
46. Muốn cho tâm không luyến việc
ngoài, chuyên niệm Phật được quy nhất, cũng không có phương
pháp chi kỳ lạ, chỉ đừng quên cái chết rình rập bên mình,
không biết xảy ra lúc nào.
Phải nghĩ rằng ta từ trước đến nay tạo
ra vô lượng vô biên ác nghiệp, như trong kinh nói: “Giả sử
nghiệp ác kia có hình tướng thì khắp mười phương hư không
cũng chẳng dung chứa hết”. Duyên đâu may mắn, nay được thân
người lại nghe Phật pháp, nếu không một lòng chuyên niệm
Phật cầu sanh Tây phương, khi cái chết đến thình lình, chắc
chắn phải bị đọa vào ác đạo. Chừng ấy nếu vào địa ngục thì
bị non đao, rừng kiếm, lò lửa, vạc dầu, một ngày đêm sống
chết đến vạn lần, sự khổ cùng cực không thể diễn tả. Nếu đọa
vào ngạ quỷ thì thân hình xấu xa, hôi hám, bụng lớn như cái
trống, cổ họng như cây kim, thấy cơm nước
thì những vật ấy đều hóa
thành than lửa, chịu đói khát lăn lộn khóc la trong
vô lượng kiếp. Nếu đọa vào súc sanh, thì hoặc bị kéo
chở nặng nề, hoặc bị
người giết ăn thịt, hoặc
bị nạn loài mạnh ăn nuốt
loài yếu, kinh
khủng chẳng lúc nào yên. Chịu khổ như thế
có khi vô lượng chư Phật
ra đời mà vẫn còn xoay
vần trong ác đạo không được thoát ly. Nghĩ
thân người mong manh, cái
chết bất kỳ, nghĩ mình đời trước, đời này đã tạo ra
vô lượng nghiệp ác, nghĩ
đến sự khổ tam đồ mà tỉnh
ngộ sợ hãi, tất không còn
tham luyến cảnh
huyễn bên ngoài, niệm Phật được chuyên nhất.
47.
Người niệm Phật nếu dụng
công siêng năng
tinh tấn, thì sẽ thuần thục quy
nhất, được cảm thông với
Phật, tự có thể thấy
cảnh lành, dù không thấy
cũng không ngại.
Nếu bỏ sự chuyên dụng công mà vội gấp muốn
được nhất tâm, được tương
ưng, được thấy
cảnh lành, thì vọng tưởng rối ren, tâm niệm cầu mong cố kết nơi lòng, đây là
chứng bệnh lớn lao
nguy hiểm của người tu hành. Như thế
lâu
ngày, những oan gia đời
trước nương theo
vọng tưởng của hành nhân, hóa làm thân Phật, hoa sen, hoặc
các cảnh tốt lạ, để mong
báo oán. Lúc ấy tự mình
không có chánh kiến,
toàn thể là khí phần của ma, một khi thấy
cảnh ấy tất sanh lòng hoan hỷ, ma vương
theo đây mà vào tâm phủ làm cho hành nhân
điên cuồng, dù có Phật sống cũng không cứu được.
48. Người niệm Phật không phải
chỉ tu theo sự tướng bên ngoài, mà cần phải để ý trừ phiền
não cùng tập nghiệp lầm lỗi xấu xa. Nếu phiền não bớt một
phần thì công phu niệm Phật tăng một phần. Trái lại, để
phiền não tăng tất công hạnh phải lui kém. Cho nên có người
càng tu hành lại càng đổ nghiệp là bởi lý do trên đây.
49. Giữ một câu A-di-đà Phật nhặt
nhiệm nối nhau, thường nhớ thường niệm. Khi những tâm tham
lam bỏn sẻn, hờn giận, dâm dục, háo thắng, kiêu mạn, thoạt
nổi lên, phải nghĩ: “Ta là người niệm Phật cầu giải thoát,
không nên có tâm niệm như vậy”, nghĩ rồi liền trừ diệt đi.
Như thế, lâu lâu những niệm lao thần tổn thân đều không do
đâu mà khởi, sẽ được công đức không nghĩ bàn của Phật gia
trì nơi thân tâm mình, dám bảo đảm trong mười ngày sẽ thấy
đại hiệu. Nếu tu hành lôi thôi gián đoạn liền muốn được công
hiệu, đó là khi mình khi người, tuy cũng có công đức, nhưng
muốn do đó mà lành bệnh thì quyết không thể được.
50. Phàm việc
chi cũng lấy lòng thành
làm gốc, tu hành nếu
không dùng tâm chí
thành làm sao được sự lợi ích lành bệnh dứt khổ!
Xem tiếp.... |