|
Khai Thị
Hòa
Thượng Tịnh Không
Thuyết Giảng Cho Phật Tử Dự Phật Thất Trong Niệm Phật Đường
Rộng
Mở Tâm Lượng.
Trong việc tu hoc Phật pháp,
muốn tự nâng cao cảnh giới của chính mình, có rất nhiều
phương pháp. Mở rộng tâm lượng là một trong các phương pháp,
trong đại thừa Kinh điển, chúng ta thấy các vị pháp thân đại
sĩ, tức là những người đã minh tâm kiến tánh tâm lượng của
các ngài rộng lớn như hư không bao trùm khắp pháp giới,
chính vì thế cái nhìn của các ngài đối với tất cả chúng sanh
trong hư không và các pháp giới đều bình đẳng.
Thế nào là bình đẳng? Vô
niệm là bình đẳng còn có niệm là không bình đẳng. Phật trụ
vô niệm, trong kinh Kim Cang có câu" Ưng vô sở trụ, sở trụ
vô trụ" vô trụ tức là Phật trụ mà vô trụ là vô niệm.
Chúng sanh trong chín pháp
giới còn chổ để trụ. Ví như Bồ Tát trụ ở cảnh giới lục độ.
Duyên giác trụ ở nhân duyên, Thanh văn trụ ở Tứ đế, Ngạ quỷ
ở cảnh giới tham, địa ngục trụ nơi sân, súc sanh trụ ở cảnh
si mê. Tâm của tất cả các chúng sanh này đều còn chổ để trụ
để dính mắc. Nói cách khác, tâm của chúng ta như thế nào thì
cảnh giới của chúng ta như thế đó. Phàm phu chúng ta muốn
trụ nơi cảnh giới vô trụ của Phật là điều không thể đạt được.
Tuy nhiên Phật có truyền dạy cho chúng ta một phương pháp vô
cùng thù thắng và tiện lợi để có thể dự vào cảnh giới vô trụ
của các ngài, đó là pháp môn niệm Phật. Bồ tát trụ ở lục độ,
quí vị đã được nâng cao hơn đẳng cấp của Bồ tát. Thế nhưng
tiếng niệm Phật của quý vị phải tương ưng. Thế nào gọi là
tương ưng. Thế nào gọi là tương ưng? Mỗi một tiếng niệm Phật,
quý vị phải trải lòng từ bi của mình đến với tất cả chúng
sanh trong hư không và lan rộng đến khắp pháp giới. Mỗi
tiếng niệm Phật đều vì lợi ích cho chúng sanh, đều mang lòng
muốn ban vui cứu khổ đến mọi loại. Có người hỏi: tiếng niệm
Phật của chúng ta, thực tế có lan rộng đến hư không các pháp
giới không? Khẳng định là được.
Trong Kinh Phật thường nói"
tướng không rời tâm, tâm không rời tướng" cái chân tâm của
chúng ta nguyên gốc của nó rộng khắp hư không, trùm khắp
pháp giới. Sở dĩ tiếng niệm Phật của chúng ta không hòa nhập
vào với hư không, vì chúng ta còn nhiều vọng tưởng, phân
biệt và chấp trước làm chướng ngại bản năng tự nhiên của
mình. Nếu âm ba của tiếng niệm hòa nhập với âm ba của tâm(
chơn tâm) lan rộng vào hư không, tiến sâu vào khắp pháp giới,
cho dù chư Phật thuyết pháp ở xa xôi bất luận nơi nào, một
khi tâm đã lắng đọng không còn chướng ngại, chúng ta vẫn có
thể nghe được âm thanh lời pháp của các Ngài rất rõ ràng. Vì
tâm từ bi của các ngài luôn trải rộng đến cõi ta bà này của
chúng ta cũng như chúng sanh ở các pháp giới khác. Đây là sự
thật, không hề hư dối. Vậy thì âm ba của Phật có thể rộng
khắp, âm ba của phàm phu chúng ta cũng có thể rộng khắp. Cho
nên mỡ rộng tâm lượng trong pháp môn niệm Phật là một phương
pháp rất vi diệu, rất đặc biệt, thù thắng có thể khiến phàm
phu trong một kiếp được bình đẳng thành Phật.
Người thật sự biết niệm Phật,
sự lợi ích, niềm an lạc mà họ đạt được, phàm phu chúng ta
không thể nào hiểu thấu, họ cũng không thể giải thích rõ cho
chúng ta, vì có giải thích chúng ta cũng không hiểu( giống
như ai uống nước, tự người đó biết nóng hay lạnh, mùi vị
ngọt đắng ra sao).
Nguyên tắc thuyết pháp của
chư Phật cũng thế, những điều chúng sanh có thể hiểu được
các Ngài mới nói, nếu không hiểu, tuyệt đối không nói. Tóm
lại công phu niệm Phật có đắc lực hay không, chúng ta có thể
thấy, biết qua cảnh giới của tâm lượng và sắc tướng của
người đó. Một khi công phu niệm Phật đắc lực rồi, chắc chắn
trên gương mặt của quý vị luôn tỏa ra niềm vui an lạc, tự
tại, trong đạo Phật gọi là pháp hỷ sung mãn.
Pháp Môn Nhị Lực.
Quý vị được Kinh sách,
thường nghe nói đến những người tu hành chứng quả A la hán
là hàng Thánh đã đạt đến mức chánh định, thân tâm an ổn
không còn thối chuyển. Tất cả những người do công phu thiền
định mà tâm không ô nhiễm chuyện buồn lo, thân xa lìa cảnh
vui khổ của thế gian, đều được chứng nhập vào cảnh giới Tam
ma địa tức là cảnh giới không còn sanh diệt.
Phàm phu
chúng ta nếu còn một phẩm vô minh chưa dứt đoạn, muốn chứng
vào cảnh giới cao cấp này chỉ còn cách nương theo pháp môn
niệm tiện lợi
nhất, đó là niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, chỉ cần sanh về thế
giới Tây phương Cực lạc, quý vị sẽ chứng được cảnh Tam ma
địa, tức là cảnh bất sanh bất diệt này.
Sự chứng đắc này thật ra
không phải hoàn toàn do ở công phu của chính mình mà do một
phần tha lực của đức Phật A Di Đà hổ trợ, cho nên pháp môn
Tịnh độ còn gọi là " pháp môn nhị lực". Nói một cách rõ hơn,
tự lực là năng lực của chính mình, y theo lời dạy của Phật
mà niệm Phật để có thể hàng phục những tập khí. Một khi công
phu niệm Phật thành khối, nhờ sức gia trì của Phật A Di Đà
sanh về thế giới Cực Lạc, vào được cảnh giới phương Tây gọi
là tha lực. Pháp môn Nhị Lực này là một pháp môn duy nhất
được chư Phật đề cập trong Tịnh Độ Tông.
Ngoài sự chứng nhập vào cảnh
Tam ma địa còn đạt nhất thiết Đà la ni. Đà la ni là tiếng
Phạn, người Trung Hoa dịch là Tổng trì.
Tổng là hợp tất cả các pháp,
Trì là giữ, làm theo tất cả giáo lý của Phật. Nói theo danh
từ hiện nay Tổng trì Đà la ni là " toàn bộ nguyên tắc dạy
chúng ta làm tất cả điều thiện, xa lìa tất cả việc ác".
Hôm nay quý vị tựu về nơi
này để niệm Phật cũng có thể gọi là Tổng Đà La ni, bởi vì
suốt một ngày một đêm chỉ duy nhất giữ câu A Di Đà Phật, tất
cả những vọng niệm suy nghĩ khác không còn nữa. Vọng niệm
không còn thì những việc ác không thể xảy ra. Như vậy là xa
lìa tất cả ác. Một câu vạn đức hồng danh, thiện pháp cao tột
của thế gian và xuất thế gian, chúng ta chấp trì từng câu
liên tiếp không ngừng để tăng trưởng thiện căn, đó là tất cả
điều thiện. Ý nghĩa câu đạt nhất thiết Đà la ni là như vậy.
Khi bước chân vào Niệm Phật
đường, quý vị đã đạt được nhất thiết đà la ni nhưng vừa rời
khỏi liền quên mất công phu niệm Phật!
Tuy nhiên, nếu trong một
tuần bảy ngày, quý vị có được một ngày chuyên nhất niệm Phật,
đạt được tâm không sanh không diệt và nhất thiết Đà la ni
như vậy quý vị cũng đã giỏi lắm rồi. Mỗi tuần một ngày đến
niệm Phật niệm liên tiếp ba năm, công phu của quý vị thật
đáng nể phục lắm. Nếu có thời giờ rỗi rãnh, mỗi ngày đều đến
niệm Phật trong vòng ba năm thôi, quý vị sẽ thành Phật ngay.
Bao nhiêu nghiệp tội trong vô lượng kiếp đều dứt sạch.
Trong
quyển" Vãng sanh truyền" những người niệm Phật được vãng
sanh ngay ở kiếp hiện tại này của chúng ta thật nhiều vô số
kể. Người niệm
Phật vãng sanh có nhiều hình
thức, có người đứng, có người ngồi tự mình biết trước giờ ra
đi, không một chút bịnh hoạn, ra đi một cách vui vẻ, tự tại
đẹp đẽ, trang nghiêm. Kết quả vãng sanh này đều do công phu
niệm Phật chuyên cần.
Niệm Phật Giải Trừ Nghiệp Chướng.
Pháp môn Tịnh độ, một pháp
môn hiện bày bốn chữ " Tiện lợi- dễ dàng" một cách rõ rệt.
Nếu quý vị không hiểu được những lý luận trong kinh cũng
không thành vấn đề, cũng vẫn có thể thành tựu.
Nếu bảo không cần hiểu nghĩa
lý trong kinh chỉ một lòng thành tâm niệm Phật mà có thể
thành tựu, vậy thì tôi vẫn phải giảng kinh thuyết pháp nữa
để làm gì? Sở dĩ tôi vẫn phải mỗi ngày thuyết giảng không
ngừng, đem những lời hay ý đẹp của đức Thế Tôn ra nói là
mong quý vị hiểu, mong quý vị giác ngộ. Bởi quý vị đây không
đủ phước báu suốt ngày vọng tưởng, suy nghĩ lung tung. Vậy
thì ai là người có đủ phước báu? Là những người thật thà,
chất phác, suốt ngày chỉ ôm giữ một câu A Di Đà Phật, việc
gì cũng không nghĩ tưởng. Do đó, công phu niệm Phật của quý
vị khi đã đến mức không còn mảy may vọng niệm, chỉ còn một
câu A Di Đà Phật, thì lúc đó Tam tạng mười hai bộ Kinh điển,
mà Thế Tôn suốt 49 năm thuyết pháp đều là dư thừa. Quý vị
cũng không cần đến nghe tôi giảng giải nữa.
Cho nên Phật độ chúng sanh,
có hai hạng người dễ độ nhất.
Một là những người thượng
căn lợi trí, vừa nghe qua liền thông đạt, liễu ngộ, dứt sạch
vọng niệm.
Hai là những người thật thà
ngu dốt, họ không cần tìm hiểu nhiều, bảo họ niệm Phật là họ
cứ ngoan ngoãn, thật tình chấp trì, không nghỉ tưởng điều gì
ngoài niệm Phật. Thứ ba là những người lưng chừng thích "
khiên vác" ôm đồm, tìm hiểu suy nghĩ lung tung. Quý vị biết
không, chúng ta thuộc loại người thứ ba này đó, loại người
nhiều rắc rối. Cho nên đức Thế Tôn suốt 49 năm khó nhọc, mỗi
ngày không ngừng nói pháp cũng vì những người nhiều rắc rối
như chúng ta. Ngài phải đem pháp ly ác giảng nói tỉ mỉ ra
cho chúng ta.
Mong
rằng sau khi quý vị đã hiểu rõ rồi thì phải biết buông xả,
không có vọng niệm là người có đại phước báu, tuyệt đối
không phải có nhiều tiền tài, có địa vị cao, người có địa vị,
tiền tài tuy được hưởng thụ đời sống
vật chất, hưởng độ vài ba năm,
sau khi chết rồi sẽ ra sao? Tam đồ, lục đạo phải chịu luân
hồi, như thế có phải là phước đâu? Nếu tâm không chút vọng
tưởng, suốt ngày chỉ câu A Di Đà Phật, người này chỉ vài năm
sau là đã thành Phật được rồi. Hiểu được như thế, quý vị mới
biết công đức niệm Phật thật vô cùng thù thắng, không gì
sánh bằng. Đức Thế Tôn sở dĩ phải bày ra phương tiện nói ba
thừa, chỉ vì muốn dẫn độ chúng sanh mà thôi. Mục đích duy
nhất của Ngài là mong chúng ta một đời có thể thành Phật.
Có người hoài nghi rằng:"
tôi rất ngu si, chậm hiểu, nghiệp chướng lại sâu dày, có thể
thành Phật được không?" Trong Kinh điển Phật thường nói:"
chỉ cần một câu danh hiệu Phật, có thể tiêu trừ 80 ức kiếp
sanh tử tội nặng" quý vị thử nghĩ xem, suốt ngày một đêm ở
Niệm Phật đường, quý vị đã niệm được rất nhiều tiếng. Vậy
thì tính xem, tội chướng của quý vị đã tiêu trừ bao nhiêu
rồi. Điều này chắc thật không sai, vì lời Phật nói không hề
hư dối, chắn chắn có hiệu quả tốt, không thể nghĩ bàn.
Thế nhưng, vì sao nhiều
người niệm Phật suốt ngày đêm mà nghiệp chướng vẫn còn đầy?
Bởi vì nghiệp chướng của người này quá nhiều. Do đó công đức
niệm Phật của một ngày đêm dù là giúp họ tiêu trừ đi rất
nhiều mà vẫn chưa dứt sạch. Cho nên cần phải mỗi ngày đến
niệm Phật, mỗi ngày giảm bớt thêm nghiệp chướng.
Phật dạy chúng ta rằng: năng
lực quan trọng nhất để giải trừ nghiệp chướng trong lúc niệm
Phật là không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Với
ba yếu tố này năng lực của không xen tạp mạnh nhất, nếu quý
vị giữ được liên tục không gián đoạn trong ba năm, cho dù
nghiệp chướng sâu dày bao nhiêu của vô lượng kiếp đều có thể
giải trừ hết. Làm sao để biết được không còn nghiệp chướng?
Hãy nhìn lúc quý vị vãng sanh, có thể ra đi bằng cách ngồi
hoặc đứng rất tự tại. Sau khi sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc,
không phải trụ ở cảnh giới phàm thánh đồng cư, cũng không
phải trụ ở Tứ độ Vãng sanh mà dự vào hàng Thượng Phẩm vãng
sanh.
Câu danh hiệu Phật giải trừ
nghiệp chướng thật là bất khả tư nghì. Cho nên Ngài Từ Vân
Quán Đảnh Pháp Sư trong lời chú giải của bộ Kinh Vô Lượng
Thọ nói:" Chúng sanh nào từ vô lượng kiếp tạo tội, tạo
nghiệp cực ác, cực sâu dày. Bao nhiêu Kinh luận, tất cả các
sám pháp đều không thể sám trừ được". Cuối cùng vẫn còn một
phương pháp có thể cứu vãn, đó là phương pháp niệm Phật. Cho
thấy công đức niệm Phật thật là to lớn, thù thắng vô cùng.
Pháp Môn Tịnh Độ.
Trong Kinh điển chỉ dạy rất
nhiều phương pháp để chúng ta đi vào, vào những phương pháp
như thế, không phải phương pháp nào cũng thích hợp với chúng
ta cả.
Muốn tu học, phải biết tự
nhận rõ căn tánh của mình, trình độ lý giải của mình. Nói
theo danh từ hiện nay là trình độ hiểu biết kèm theo khả
năng trí nhớ. Vì hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với
hoàn cảnh sống và việc làm của chúng ta. Cho nên từ trong
rất nhiều những phương pháp khác nhau, chúng ta phải chọn
lấy một phương pháp phù hợp nhất với điều kiện của mình. Có
như vậy, việc tu học mới mong đạt được kết quả dễ dàng. Tuy
nhiên chúng ta tự mình rất khó biết phải hạ thủ công phu từ
đâu? Làm cách nào để có thể lựa chọn phương pháp. Phật nói
đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, làm sao biết được pháp môn
nào là thích hợp. Một khi lựa chọn không đúng pháp môn,
chẳng những dụng công nhiều, kết quả lại ít. Sự tu học khó
nhọc ở thế gian này cũng chẳng được một phần công đức nào.
Điều này rất thật, chính bởi tình trạng như vậy, cho nên đức
Phật Thế Tôn mới vì chúng sanh thời mạt pháp này chỉ bày ra
một con đường. Đó là pháp môn Tịnh Độ, cũng là pháp môn của
chư Phật giúp chúng ta lựa chọn. Thế nhưng pháp môn này cũng
có rất nhiều phương pháp tu học. Tuy nhiên tất cả chư Phật
đều nhất khẩu đồng thanh chỉ dạy và giúp chugn ta lựa chọn
phương pháp trì danh niệm Phật.
Trong Kinh Di Đà dạy chúng
ta trì danh niệm Phật. Kinh Vô Lượng Thọ cũng dạy chúng ta
trì danh niệm Phật. Trong Quán Kinh Vô Lượng Thọ nói nhiều
hơn, ngoài trì danh niệm Phật ra còn có quán tượng niệm Phật,
quán tưởng niệm Phật. Như vậy chúng ta thấy rõ trong ba bộ
Kinh Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Kinh, Phật đều khuyên chúng
ta giữ phương pháp chấp trì danh hiệu Phật. Chính vì thế
chúng tôi lựa chọn và đề xướng pháp này. Qua phương pháp trì
danh niệm Phật, những người được lợi ích rất nhiều, kết quả
vãng sanh vô số kể. Nếu theo phương pháp này, chân chính tu
hành sẽ rất gần kề với Hoa Nghiêm tam muội lại hội đủ nguyên
tắc hiện thực bách thiên tam muội. Thật là một pháp môn
không thể nghĩ bàn, một pháp môn đơn giản, dễ dàng, chắc
chắn, mau chóng. Chỉ cần buông xả vạn duyên, giữ chặt câu
danh hiệu Phật niệm tới. Một số người niệm Phật, cong phu
khong được đắc lực vì không buông xả được vạn duyên, tự tạo
cho mình một chướng ngại trầm trọng. Chướng ngại này người
khác không thể nào giúp. Chư Phật Bồ tát cũng không thể giúp.
Nhất quyết phải do chính bản thân mình chịu buông xả, bất
luận điều gì cũng không nên chấp giữ trong lòng, chỉ giữ một
câu A Di Đà Phật trong tâm, nương theo Phật mà niệm Phật,
hiện tiền, tương lai chắc chắn thấy Phật.
Tự Hành Hóa Tha
Chư cổ đức thường nói:" Phát
Bồ đề tâm, nhất hướng chuyên niệm câu A Di Đà Phật là một
pháp môn vô cùng thù thắng, mau chóng và chắc chắn". Mau
chóng ở chỗ nào? Trong Quán kinh nói: Thị tâm thị Phật: có
nghĩa tâm này tức là Phật.
Hai câu này vô cùng quan
trọng và gồm thâu hết vô lượng vô biên các pháp môn mà tất
cả chư Phật đã nói: Thị tâm thị Phật là nói về nặt lý. Nghĩa
là tất cả chúng sanh đều có Tâm, Tâm của chúng sanh vô tình
thì gọi là Pháp tâm.
Phật tâm và Pháp tâm là một,
chẳng phải hai. Thế nhưng, môt tâm vì sao lại biến thành hai
hình tướng khác nhau? Bởi vì một bên có tự có tưởng nên trở
thành hữu tình, ngược lại biến thành vô tình chúng sanh.
Trong Pháp Tướng Tông nói rất rõ: " Tất cả chúng sanh bản
lai là Phật" Vậy thì nguyên gốc đã là Phật, hiện giờ lại
phát tâm niệm Phật, làm Phật. Có lý nào không thành Phật. Do
đó, vấn đề then chốt để làm Phật là phải niệm Phật, vì niệm
Phật là phương pháp chính yếu, phương pháp trực tiếp.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao
bảo chúng ta phải niệm Phật A Di Đà mà không niệm danh hiệu
các vị Phật khác? Quý vị đọc Kinh Vô Lượng Thọ sẽ thấy rõ
ràng.
A Di Đà Phật là quang trung
chí tôn, Phật trung chí vương. Một vị tôn Phật vĩ đại với
quả đức vô cùng mỹ mãn, cứu cánh và thiết thực mà tất cả
mười phương chư Phật đều đồng thanh tán thán.
Thưa quý vị, tất cả các pháp
đều do tâm nghĩ tưởng mà sanh. Hôm nay đây, Tâm của chúng ta
nghĩ đến Phật A Di Đà, niệm Phật A Di Đà, chúng ta sẽ làm
Phật A Di Đà. Lý do khuyên bảo quý vị không nghĩ tưởng điều
gì ngoài sự nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật là như vậy.
Hơn nữa trong Kinh Đại Tạng đã nói rất rõ ràng đầy đủ là:"
Nhất giải nhất thiết giải" nghĩa là khi chúng ta niệm một
danh hiệu A Di Đà Phật là niệm đủ mười phương ba đời tất cả
chư Phật. Do đó đừng nên lo ngại hay phân biệt, chấp trước
rằng niệm Phật này là bỏ Phật kia. Không phải thế.
Sau khi chúng ta đã nhận
định rõ ràng sự thật được rồi, kế tiếp là phải vững tâm bền
chí, dũng mảnh dựa vào Phật thất trong niệm Phật đường.
Phương pháp rất thường nhắc
đến trong Niệm Phật Đường là:" Tự hành Hóa tha" nghĩa là tự
mình tu hành và lợi lạc, hóa độ người khác. Do đó cần phải
vào Niệm Phật Đường, cần phải cùng nhau tu tập.
Niệm Phật Đối Trị Vọng Tưởng
Niệm Phật là phải lấy kinh
hành niệm Phật làm chính, khi nào quý vị mỏi thì ngồi xuống
nghĩ ngơi, giờ giấc ngủ nghĩ, cố gắng giảm thiểu tới mức tối
đa. Bởi vì ngủ là hôn trầm, người nào ngủ nhiều, chứng tỏ
người đó còn nhiều hôn trầm. Hôn trầm là lạc vào vô minh.
Nhiều vọng tưởng là trạo cứ. Không riêng gì trong lúc niệm
Phật, nếu làm việc mà hôn trầm hoặc trạo cử đều bị chướng
ngại. Trong nhà Phật gọi hai thứ chướng ngại này là hôn trầm,
trạo cử.
Trạo cử là tâm xao xuyến,
không định, bị nhiều vọng tưởng chi phối.
Hôn trầm là u mê,
không sáng suốt, ngủ gục.
Bình thường chúng ta không
thấy có vọng niệm, khi ngồi yên xuống, vọng niệm nổi lên rất
nhiều. Có người cho là do niệm Phật, thưa quý vị, không phải
như thế, không phải do niệm Phật mà sanh nhiều vọng niệm.
Thực tế trong lúc bình thường, chúng ta đã có rất nhiều vọng
niệm rồi, nhưng chúng ta không để ý đến khi ngồi yên lặng
xuống niệm Phật, muốn thu nhiếp tâm lại mới phát giác rõ
ràng như thế thôi.
Với hai loại chướng ngại này
Phật có chỉ cho chúng ta phương pháp đối trị.
Thứ nhất: Đối trị vọng tưởng.
Nếu vọng tưởng nhiều dùng
phương pháp chỉ Tịnh, nghĩa là trụ ở một chỗ hoặc là trụ ở
câu danh hiệu Phật hay niệm Phật ở trong tâm cũng được, nếu
không niệm thành tiếng có thể lắng nghe người khác niệm, chỉ
cần dụng tâm chuyên nhất, vọng niệm tự nhiên tan biến. Tuyệt
đối không nên tạo tác thêm vọng niệm, nghĩa là đừng có ý
nghĩ miễn cưỡng, dẹp tắt vọng tưởng, nếu không sẽ vọng tưởng
tăng thêm vọng tưởng. Do đó vọng tưởng nhiều bao nhiêu cũng
mặc kệ, đừng để ý để làm gì, hãy dồn hết tinh thần, ý chí
tập trung vào câu danh hiệu Phật hoặc tâm trung vào quán
tưởng. Quán tưởng điều gì đây? Tưởng hình Phật, đến tưởng
hảo của Phật. Tóm lại, cần phải tập trung tinh thần, ý chí
mới có thể tiêu trừ được vọng tưởng. Hầu hết tất cả những
nguyên tắc dụng công đều nhằm mục đích tiêu trừ vọng tưởng,
hôn trầm, tạp niệm để hồi phục lại bản tánh giác ngộ của
mình. Nói chung trong nhà Phật, bất luận sử dụng công nào
đều hy vọng đạt được ba mục đích này.
Thứ hai: Phương pháp đối trị hôn trầm.
Nếu trong lúc ngồi niệm Phật
bị hôn trầm, tốt hơn hết hãy đứng lên lạy Phật. Lạy Phật và
kinh hành niệm Phật đối trị hôn trầm rất có hiệu quả.
Lạy Phật làm cho tinh thần
tỉnh thức, trong lúc lạy Phật, điểm đặc biệt cần lưu ý là
lạy Phật để sám hối. Bởi vì nghiệp chướng, tập khí của chúng
ta rất là nặng nề, cho nên trong niệm Phật đường nhất là
người sơ học, nếu mỗi ngày đạt tiêu chuẩn trên 300 lạy là
rất tốt, rất có lợi.
Chúng ta thường nghe trong
Đại Thừa Kinh Điển nói rằng: Tu hành trong thời mạt pháp,
niệm Phật là pháp môn thù thắng nhất. Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni bày nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, đó không phải là bản ý
của Ngài, chỉ vì ứng cơ thuyết pháp để dẫn độ chúng sanh mà
thôi.
***Vãng Sanh Tây Phương
(xem tiếp)
|