|
Đại
Sư Tuyết Lư dạy
Chấn chỉnh lời
viện cớ “bận rộn quá không có thời gian niệm Phật”
Niệm Phật chuyển biến nghịch cảnh, tiêu
trừ tai nạn, sanh về Cực Lạc, còn sự nào lớn lao hơn pháp
này nữa, nhưng lại xem rất thường. Phần nhiều người đời hay
viện mấy lý do như quá bận rộn, không có thời gian để cự
tuyệt pháp đại tiện nghi vạn kiếp khó được gặp gỡ này, thật
đáng tiếc quá!
Có thật sự bận rộn hay chăng? Tôi chẳng
thấy vậy. Niệm Phật thì đi, đứng, nằm, ngồi đều làm được; dù
là sĩ, nông, công thương đều chẳng trở ngại gì. Nếu chẳng
tin thì dưới đây tôi sẽ dẫn một bài ca ngắn để người đời đối
với những sinh hoạt thường nhật có thể phân tích rõ ràng.
Tôi tin rằng sau khi xem bài ca này xong, nhất định quý vị
sẽ chẳng còn cười được nữa.
Bài ca chẳng nhàn
Biết
ngài vốn chẳng bận,
Cứ cố
nói chẳng nhàn,
Trong
hai mươi bốn giờ,
Nằm
ngủ mất tám giờ,
Ba bữa
ăn ba tiếng
Lại
uống trà, hút thuốc
Chải
gỡ, đại tiểu tiện,
Phí
mất khoảng một giờ,
Ði ra
ngoài uống rượu
Về
chuyện gẫu cùng vợ
Ít
nhất vài ba giờ,
Lại e
lòng bận bịu,
Thân
mệt tính ngủ trưa,
Ngủ
hai giờ chẳng đã,
Mất đi
mười sáu giờ,
Uổng
phí hơn quá nửa,
Trong
tám giờ còn lại,
Chưa
chắc đã bận thật.
Niệm
Phật được nửa tiếng
Ðã kêu
lâu lắm rồi
Hãy
xem người xưa nay,
Mấy ai
bảy mươi tuổi,
Ðừng
đem khổ sanh tử,
Vất ra
đằng sau ót,
Việc
chân chánh của mình,
Vạn
vạn lần khẩn cấp,
Xin
hãy gấp tỉnh ngộ,
Mau
trồng chín phẩm sen.
CHƯA CHỨNG CHÂN
NHƯ THÌ ÐỐI VỚI LÝ NHÂN DUYÊN PHẢI RẤT CẨN TRỌNG
Học Phật
chú trọng “hạnh giải tương ứng”. Hiểu (giải) nhưng không
hành giống như kể tên thức ăn, đếm của cải. Hành mà không
hiểu dễ lạc ngõ rẽ. Cả hai đều mắc lỗi. Nay người tu Tịnh Ðộ
chỉ nói là niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, chỉ biết bám víu
theo quả, đến nỗi chẳng biết những điều mình niệm đó là đúng
pháp hay không, cứ coi nhẹ, chẳng gia công xem xét. Bởi vậy
thành ra mất cả nhân lực lẫn duyên lực, há chẳng phải là
chẳng biết chăm lo cái gốc đó ư? Kinh dạy: “Nhân địa
chẳng chân sẽ cảm quả cong vạy”. Kinh còn dạy: “Duyên
là hết thảy công đức thiện căn, hỗ trợ liễu nhân, khai phát
chánh nhân”. Ôi! Há có nên chẳng suy nghĩ kỹ càng chăng?
Nói đến
Tịnh Ðộ là nói đến quả thanh tịnh, không phiền não nghịch ác.
Niệm Phật là lấy cái tâm không nghịch ác, phiền não, thanh
tịnh làm nhân. Thêm nữa, hành các điều thiện, vạn đức chính
là trợ duyên cho nhân ấy. Nhân và duyên ví như hai cánh chim.
Phải cùng nâng cả hai cánh mới có thể bay cao, bay xa, đạt
tới chỗ mình hướng đến. Phải cùng tu cả nhân lẫn duyên thì
mới thành tựu được quả.
Cổ đức
biết rõ như thế nên khi dạy người không vị nào chẳng đề cao
nhân, nào là “thanh tịnh ý mình”, nào là “tâm tịnh cõi nước
tịnh” để hiển thị rằng: Muốn chứng tịnh quả, phải gieo tịnh
nhân. Tuy bảo là “đới nghiệp vãng sanh”, nhưng nghiệp nói đó
chỉ là nghiệp quá khứ vẫn còn ẩn tàng, chứ chẳng phải cứ tạo
tội nghiệt mà vẫn được vãng sanh. Ðủ thấy, [chư cổ đức]
chẳng chấp nhận [hành nhân gây tạo] lỗi mới. Hiểu rõ lẽ này
thì vạn người tu, vạn người về. Hễ lầm lạc thì nhân lẫn lực
chẳng đủ, mong chứng quả sao được?
Ba kinh
Tịnh Ðộ đều trọng trợ duyên, cực lực khen ngợi phước đức.
Kinh Tiểu Bổn (kinh A Di Ðà) dạy: “Chẳng thể dùng chút
thiện căn, phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi ấy”.
Kinh Ðại Bổn (kinh Vô Lượng Thọ) dạy: “Khiến cho bỏ ngũ
ác, trừ năm sự đau đớn, lìa khỏi năm sự thiêu đốt”. Quán
Kinh dạy: “Muốn sanh về cõi ấy nên tu ba thứ phước”.
Kinh dạy rành rành, dù có nhân nhưng thiếu duyên, dễ đâu
thành tựu!
Có kẻ bảo:
“Niệm Phật một câu có thể tiêu trừ trọng tội trong tám mươi
ức kiếp sanh tử”. Nghiệp đã tiêu rồi thì cần gì phải nhọc
công giảng giải, suy xét nhân duyên nữa cơ chứ?
Tôi bảo: “Một niệm sân tâm
nổi, mở ra tám vạn chướng môn (ý nói phiền não chướng).
Chướng môn đã mở thì nghiệp lại chẳng sanh khởi hay sao?
Phần lớn những học nhân hiện thời, một mặt niệm Phật, một
mặt tạo nghiệt, khác nào tay phải quét dọn, tay trái vẩy bụi.
Hãy thử tự vấn mình siêng năng, lười nhác thế nào; nếu chẳng
tự dối mình thì ắt sẽ câm lặng, hết còn cười được nữa! Bởi
thế, người chắc thật, già dặn niệm Phật thì không một ai là
chẳng kinh sợ nhân duyên. Nhân duyên bất tịnh, lại chẳng già
dặn, chắc thật thì đối với Hạnh và Giải, có được thứ gì
không? Cầu được vãng sanh kiểu đó chỉ là chuyện mơ tưởng,
cầu may mà thôi”.
3)
Ñaïi sö Tuyeát Lö khai thò
nieäm Phaät
Nieäm Phật
là nhằm làm cho hành giả giác ngộ, ắt phải tự giác ngộ thì
sau mới có hy vọng thành công. Bởi thế điều thứ nhất là phải
giác, giác như thế nào? Giác tình thế hiện tại. Ngày hôm nay
chúng ta phải giác ngộ mình đang ở trong tình thế nào? Là
giống như con cá vậy. Có người nghe vậy liền bảo tôi biết
rồi, “cá” là giống như chữ “cá” trong bài kệ đọc lúc chiều
tối:
Thị nhật dĩ quá,
Mạng diệc tùy giảm,
Như thiểu thủy ngư,
Tư hữu hà lạc?
(Ngày hôm nay đã qua,
Mạng theo đó cũng giảm,
Khác nào cá thiếu
nước,
Ðiều ấy có vui chi?)
Nhưng chữ “ngư” tôi
nói ở đây không phải chỉ có nghĩa như vậy, mà “ngư” đây là
con cá đang nằm trong nồi, ở dưới để sẵn củi. Tuy trong nồi
có nước, tạm thời cá có thể bơi qua bơi lại, tiêu dao tự
tại, nhưng nguy hiểm đến cùng cực, chỉ chờ lúc củi bén lửa
thì phận cá sẽ ra sao? Các vị nghĩ xem! Hoàn cảnh của chúng
ta đây giống hệt như thế đó: bị ác ma giam chặt trong chảo
dầu do chúng tạo, sớm tối sẽ bén lửa. Ðây chính cái gọi là
thời đại bom nguyên tử! Tuy bom nguyên tử là do Mỹ, Nga tấn
công nhau, nhưng ai dám bảo đảm Ðài Loan chẳng bị lãnh họa.
Dù chẳng bị nạn trực tiếp, nhưng bị bụi bom nguyên tử nhiễm
thân, chết nát ra là chuyện tất nhiên! Chúng ta phải nên
nhận biết hoàn cảnh này, vị trí này.
Ðiều thứ hai là phải
sợ. Ðiều vừa nói trên chưa đáng sợ, điều đáng sợ là nghiệp
chưa tiêu nên phải lãnh chịu chẳng ngừng. Thử hỏi: Thế giới
này là ngũ trược ác thế, vì sao quý vị sanh vào đây? Lại vì
sao sanh nhằm thời này? Ðều do nghiệp lực khiến thành như
vậy; vì cộng nghiệp, cộng cảm, cộng thọ vậy.
Ðã như vậy thì đừng
có oán trời, trách người. Người có công phu tốt tự có biện
pháp tốt. Do cộng thọ nên không tránh khỏi chết, nhưng chết
đi sanh về những nơi khác nhau là do công phu sai khác, tức
là lúc chết chính là lúc vãng sanh. Nếu chúng ta đạt được
Nhất Tâm thì ngay hiện tại sẽ đạt được “cộng trung bất cộng”
(dù cùng cộng nghiệp mà chẳng phải cùng chịu khổ quả), tương
lai vãng sanh cũng ổn đáng. Nhưng nếu nay chúng ta chưa làm
được như vậy thì chết đi sẽ lại hướng đến tam đồ, lục đạo!
Ðấy chính là điều chúng ta phải nên kinh sợ.
Ðiều thứ ba là nên
tiếc. Học Phật, niệm Phật đến nay đã là hai mươi ba năm,
nhưng trong số những người cùng tu vẫn chưa có ai nắm vững.
Tiếc thay! Tiếc thay! Cơ duyên trước mắt một phen mất đi,
khó thể có lại được. Ðừng nói đời này chẳng tu đợi kiếp sau,
bởi lẽ “thân người khó được”. Ví dù được làm thân người,
nhưng “Phật pháp khó nghe”, chưa chắc đã được nghe Phật
pháp. Ví dù được nghe Phật pháp, chưa chắc được nghe pháp
môn Tịnh Ðộ. Ví dù được nghe pháp môn Tịnh Ðộ, chưa chắc có
thể kết thất như ngày hôm nay. Thử nghĩ xem: đạo tràng của
chúng ta giảng kinh như thế, khai thị như thế, mỗi năm kết
thất mà vẫn chưa thành thì huống hồ gì là kiếp sau?
Vả lại, người ta được
thành tựu hay không là do căn khí. Người đời có thể chia
thành hai loại là ngu si và thông minh.
- Kẻ ngu tuy được
khai thị, nhưng nghe rồi tâm chẳng tiến triển, không hề giác
ngộ. Vì sao đến nỗi như thế? Do ba độc trong tâm đầy dẫy,
độc phát ra ngoài nên hiện tướng như thế. Hạng người này ngã
kiến rất nặng, thường khởi phiền não, khó độ được! Nhưng bọn
họ đời này tạo ác hơi ít, đấy là điểm sở trường của họ.
- Hạng thông minh đời
này tạo ác tuy lớn, nhưng dễ giác ngộ, nếu gặp được thiện
tri thức uốn nắn sẽ mau biến chuyển, dễ độ!
Thứ hai là đều do
nghiệp lực đời trước tạo thành như thế. Nghiệp lực vô biên
nên ngay trong thời Ðức Phật, vẫn có kẻ Ngài chẳng độ được.
Vì thế mới nói “phước chí tâm linh”, nghe pháp rồi tấn tu
quả là kẻ có phước vậy!
Thế nhưng Phật pháp
vô biên, đối với mỗi căn khí đều có phương tiện. Tổ sư Ngẫu
Ích đã dạy cho kẻ ngu pháp “sám hối hồi hướng”. Với hết thảy
những sự nơi thân, khẩu, ý, hễ lành thì hồi hướng Tây
Phương, hễ ác thì sám hối ngay lập tức. Ngay cả việc lành
sám hối đó cũng đem hồi hướng Tây Phương. Kẻ si chẳng thể
phân biệt thiện ác thì cứ nhất loạt sám hối, nhất loạt hồi
hướng. Tâm quyết định như thế thì niệm niệm tại Tây Phương,
lực dụng rất lớn. Cách thực hiện như sau:
1) Sau hai khóa lễ
sáng tối liền sám hối, hồi hướng.
2) Thường ngày hễ gặp
cảnh trái ngang, lăng nhục, khốn khổ liền lập tức sám hối,
hồi hướng. Bởi đấy là do túc nghiệp tạo thành như thế cho
nên phải sám hối nghiệp nặng.
3) Lúc tâm khởi ác
niệm, phiền não bèn lập tức sám hối. Do nghiệp lực nên phiền
não thường khởi, đừng đổ lên người khác. Nếu không, hậu báo
vô cùng vậy. Bởi lẽ, những chuyện ngang trái v.v... là do
nghiệp lực, chịu xong liền hết. Nếu lại khởi phiền não gieo
vạ cho người khác thì sẽ xoay vần báo trả nhau, chính là
mình tự hại mình vậy!
Ba thứ sám hối hồi
hướng như thế chính là pháp môn mất nhiều năm tôi mới cầu
được, nay tặng cho quý vị. Quý vị hãy thực hành, đừng khinh
là tầm thường. Tổ Ngẫu Ích bảo sám hối, hồi hướng lại thêm
niệm Phật thì không ai là chẳng thành cả!
Kinh dạy: “Chí tâm
niệm Phật một câu tiêu trừ được trọng tội trong tám mươi ức
kiếp sanh tử”. Trong hai mươi năm qua, quý vị không một
ai niệm được như vậy. Chí tâm là lúc niệm Phật trước hết
phải dọn tâm cho thật sạch sẽ, rỗng rỗng rang rang thì ngay
khi ấy, một câu Phật hiệu thông trên suốt dưới, không còn gì
khác cả. Niệm chí tâm như thế thì mới hòng đạt được “Nhất
Tâm Bất Loạn”. Quý vị niệm Phật hãy nên theo nguyên tắc này,
nhưng làm thế nào để chí tâm? Xin đáp: “Tội từ tâm khởi
dùng tâm sám”. Do còn tội nghiệp nên tâm khởi phiền não.
Lúc tâm khởi phiền não thì sẽ tạo tội nghiệp. Ngay lúc ấy
phải sám hối cho nó tiêu mất. “Tâm đã diệt rồi tội cũng
không”. Do còn tội nghiệp nên chẳng thể chí tâm. Tội
nghiệp đã diệt sẽ tự nhiên chí tâm. Bởi thế bảo: “Tội
diệt, tâm mất thảy đều không, thế mới gọi là chân sám hối”.
Niệm Phật như thế thì đạt được chí tâm, diệt được trọng tội,
dù bom nguyên tử có rơi xuống cũng chẳng ngại gì. Kệ rằng:
Tâm nhất phân minh
đoạn hoặc thì,
Vãng sanh chứng
quả thượng hà nghi,
Tuy nhiên thường
thuyết hoặc nan đoạn,
Sám hối huyền môn
tích bất tri.
(Tâm đã phân minh
đoạn hoặc rồi,
Vãng sanh chứng quả
há nào sai,
Tuy thường hay bảo
Hoặc khó đoạn,
Sám hối huyền môn
tiếc chẳng hay)
Nếu niệm đến Nhất Tâm
Bất Loạn thì chính là lúc đoạn Hoặc. Như vậy ắt được vãng
sanh, vãng sanh rồi ắt mau chứng Phật quả. Lý thật phân
minh, còn nghi ngờ gì nữa? Tuy nói là đoạn Hoặc rất khó,
đoạn một phẩm Kiến Tư Hoặc như cắt đứt dòng sông chảy mạnh
rộng đến bốn mươi dặm, nhưng vẫn có pháp môn mầu nhiệm chính
là sám hối hồi hướng. Ðấy chính là huyền môn. Tiếc rằng
người đời chẳng biết. Niệm Phật mà biết phối hợp với pháp
môn này thì sẽ thành tựu dễ dàng!
|