|
Thờ cúng lễ bái cốt tượng, đâu bằng thờ Kinh sách học hành,
dầu thờ Kinh sách cũng chẳng bằng thờ ông Thầy dạy Đạo cho
mình hiện đang sống. Nhưng thờ ông Thầy kia sao bằng thờ bản
tâm của mình trong sạch.
Vì cung kính là để vâng lời, vâng lời là để thật hành, thật
hành là để kết quả, quả ấy là Bản Tâm. Vậy thờ cúng lễ bái
bản tâm là điều cần trước hơn hết.
Sư Tổ Minh Đăng Quang
Trích Minh Đăng Quang Pháp Giáo
Vô Lượng
Cam
Lộ
Vô
Lượng Cam Lộ vương Như lai, tức là A Di Đà Phật. Đức Phật A
Di Đà có ba tên: Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật và
Cam Lộ Vương Như lai. A Di Đà tiếng phạn là Amita nghĩa: Vô
Lượng Cam Lộ là pháp bảo không lường. Pháp bảo là nước mưa
Cam Lộ, pháp bảo là không lường sáng suốt, Pháp bảo là không
lường bền dài. Bởi cớ ấy nên gọi Phật A Di Đà có ba tên, hay
như ba vị Phật, nghĩa như vậy.
Cả
thảy chư Phật, chư Tăng và các cảnh giới, cái chi có ra cũng
là do pháp, nên đức Vô Lượng Cam Lộ cũng gọi là Pháp tạng
vương. Tánh của Pháp tạng vương là không tranh, nên gọi là
bình đẳng tánh, tánh A Di Đà Phật.
Người
đời nay mà biết được Phật A Di Đà là do nơi đức Phật Thích
Ca nói ra. Giáo pháp của Phật nói ra có ba cách: đốn giáo,
tiệm giáo và huyền giáo; mà giáo lý A Di Đà đây, tức là
huyền giáo ví dụ, so sánh, trừu tượng vậy. Sở dĩ Phật Thích
Ca phải nói ra như thế, là bởi có một nhơn duyên cảnh ngộ
xảy ra, pháp lý tùy duyên mà ứng hiện. Chớ sự thật thì không
phải có riêng một vị Phật A Di Đà và một thế giới Cực Lạc.
Chính thế giới địa cầu nào có là cũng bằng tứ đại là cả thảy
đều như nhau, đều khổ não, vô thường, vô ngã; chỉ có thế
giới tinh thần của mỗi tâm người, hay là giới luật trong
sạch của mỗi sắc thân, ấy mới gọi là thế giới cực lạc. Còn
nói về Phật A Di Đà, tức là pháp lý, Chớ không phải một
người. Hiểu theo ý pháp của Phật Thích Ca nói ra đây, thì A
Di Đà ấy tức là Phật Thích Ca Mưu ni đó. Ý Ngài muốn nói như
thế, là để cho các bậc thinh văn, biết hiểu
được sự
cao quý bất thối của đạo Ngài vậy. Vì khi xưa chư Phật nói
pháp, ngoài nghĩa lý ra, còn có ý nữa. Bởi có ý mới có pháp,
thế nên khi nào có ai được nghe lời Ngài nói, trong lúc có
cớ sự gì đó, thì mới hiểu được ý của Ngài muốn nói gì ai,
Ngài nói làm sao và để chi? Vậy–nên người đời nay bằng muốn
hiểu biết kinh A Di Đà, mà không cần hiểu nhơn duyên ý muốn
của sự có ra bài kinh ấy, thì không bao giờ hiểu được.
Đến
đây, chắc có nhiều người bảo rằng : Phật A Di Đà vẫn có thật
xứ Tây Phương vẫn có thật. Có người gặp Phật ấy và thấy xứ
ấy, có người đi qua bên ấy, có người gặp Phật Thánh bên ấy
qua đây thật. Có người ngủ thấy, hay mơ tưởng thấy rõ ràng.
Cho đến có nhiều linh hồn kẻ chết trở lại cũng y như vậy.
Nhưng
chúng ta nên biết rằng : pháp lý thì cái chi cũng có cả bởi
có mới có pháp nói ra được, pháp ấy mới là thật chỗ giác ngộ,
nên mới tạm gọi là có. Còn về sự việc, cái chi có hình tướng,
thì là có thay đổi vô thường, ma biến quỷ quyệt, đâu có chắc
vĩnh viễn, mà gọi là có được, Bởi cớ ấy nên xứ nào mà có,
bậc người nào mà có đi nữa, thì cũng thảy là ma vọng huyễn
ảo mà thôi. Chính cái thấy nghe hiểu biết gặp gở
của tư tưởng, tinh thần, ý muốn, đức tin mơ vọng của ta, nó
đã nói bảo cho ta hay như vậy, chính nó xuất hiện ra như thế
đó, chớ không phải ai, hoặc ở đâu hết. Vậy ta nên hiểu nơi
chơn lý triết lý là đủ, là giải thoát tấn hóa ích lợi yên
vui, chớ sự thấy gặp của tinh thần đức tin, nó chỉ làm cho
ta được sự ham mộ, an ủi bằng thiện lành nhắm mắt, chớ không
đắc tri huệ, thấu đạo lý được. Nó chỉ là một pháp ích lợi
nhỏ, để tịnh tâm cho hạng yếu đuối nhỏ nhít sơ cơ. Chớ pháp
ấy không thành Phật đặng. Vì thần quyền tha lực, hầu hạ theo
thầy, ở khít bên thầy, kẻ ấy chưa phải là giống như ông thầy
được, thì ngóng trông làm chi rộn nhọc. Sự thật như vậy đó
các Ngài! Các bậc nhơn thiên không phải dễ gì, hiểu biết
thấy nghe tỏ gặp chơn tướng, của Phật A Di Đà và xứ cực lạc,
bằng pháp lý đâu. Kìa như khi xưa đức Phật Thích Ca kêu ông
Xá Lợi Phất, là bậc đại Bồ tát pháp sư mà nói, chớ nào có
nói bảo với hạng Nhị thừa, Thế thì bộ kinh A Di Đà, Vô Lượng
thọ, Quán vô lưọng thọ, câu chuyện Phật A Di Đà và cõi
phương Tây, tức là một bộ luận thuyết triết lý, pháp lý
huyền giáo, đúng đắn, hay ho, giá trị quý báu lợi ích vô
cùng, cho bậc thượng trí và cũng không mất phần độ dắt kẻ
trầm mê ác trược nữa. Vậy thì nơi đây chúng ta hãy hiểu xem,
đức Phật Thích Ca ban bố pháp lý, dạy trí huệ cho chư bồ tát
cách nào? những phương tiện gì? Và các bậc đã thật giải
thoát rồi ấy, lãnh dùng ra sao, sẽ nên được những việc chi
cho biết, nhứt là những lúc về sau nầy.
Thuở
xưa đức Phật Thích Ca nói kinh A Di Đà, là bởi nhơn một lúc
nọ chư đệ tử của Ngài đã được rất đông nhiều, phân chia ra
nhiều giáo hội to lớn, nhằm lúc Ngài tuổi đã già, đã được
trên bốn mươi năm dạy đạo, tức là đã vào thời kỳ pháp hoa
thượng thặng. Bấy giờ trong số đệ tử tâm trí phân chia ra ba
bậc: Thượng, Trung, Hạ. Trong số thượng trí có rất nhiều bậc
Bồ tát pháp sư, thay thế cho Ngài đi dạy đạo khắp nơi, còn
số hạ mê đần độn biếng nhác giải đãi thối chuyển cũng nhiều,
lại chán chê nhàm mệt, không biết rõ sự quý báu nhiệm mầu
của đạo. Cũng có lắm bậc cư sĩ tại gia quy y Phật, Pháp,
Tăng mà lại chẳng biết quý trọng Tam Bảo, họ cứ mãi ngó ngay
danh lợi thích ham, thường khi chỉ bố thí cúng dường cho có
lệ, hoặc nói cho có chừng mà không cần màng sự hiểu nghe
Pháp bảo.
Cũng
như vua Ba Tư Nặc thời xưa, ngồi nghe Phật thuyết pháp, mà
than mỏi lưng, lại còn nói là quen nhớ sự vui chơi kỷ nhạc.
Như La Hầu La con Phật, bảy tuổi xuất gia, còn ham mê chơi
giỡn bỏ học ngang ngạnh, ỷ lại Phật độ, mà chẳng cần tu. Lắm
kẻ tu hành dung dưỡng danh lợi, nhờ nương tiếng Phật núp
bóng Phật mà xem thường, ở trong đạo lại ngó bên đời. Lắm
người bên đời lại, dễ duôi khinh lờn luật pháp, tưởng chừng
như là Tăng tục cũng giống in nhau v.v…..
Đủ
cả những sự : từ bên trong mỏi mệt, bên ngoài bất kính, do
đó đức Phật mới kêu ông Xá lợi Phất, là bậc đại trí huệ hơn
hết, mà nói về đức Phật A Di Đà và chỉ ra xứ Cực Lạc, cho
mọi người thấy rõ sự quý báu ích lợi của đạo Ngài; vừa là để
mở rộng trí phương tiện độ sanh cho ông Xá lợi Phất, cùng
chư Bồ tát khác, và cũng vừa khuyến khích sự tu tinh tấn,
cho các bậc hạ căn kia vậy Thế nên pháp lý A Di Đà nầy, gọi
là pháp Đại thừa, của đức Như lai dạy trau trí huệ cho chư
Bồ tát. Trong ấy chỉ rõ rằng: mỗi một cái danh từ của pháp;
là tức như một vị Phật, trong danh từ ấy có chứa đủ cả thế
giới, tác dụng, bổn nguyện, dung chứa, ích lợi, sáng suốt,
vĩnh viễn. Chính trong một tiếng nói, là chứa đủ cả nghĩa lý,
thế giới, chúng sanh, chư Phật, các pháp, vạn vật. Trong một
tiếng hói là sự thành tựu cả một võ trụ; một cái pháp, là
sanh ra tất cả đủ hết rồi vậy. Cả thảy chư Phật đều là các
pháp cả! Pháp là sáng suốt hơn hết, là sống dai hơn hết, là
mát mẻ ngọt ngào hơn hết. Cõi pháp sẽ chứa độ tất cả sự khổ
não của chúng sanh. Các bậc Bồ tát có hiểu biết như thế, mới
chứng được vô ngại viên thông và thay Phật mà thuyết pháp tự
nơi mình, không còn sợ lo nữa. Ví đã đắc đủ thần thông
phương tiện, biến hóa không lường, hay xa vô tận.
1. Thuở ấy có
đủ các hạng nhơn thiên, thần quỷ, ma vương, rồng rắn, chim
phụng, thần âm nhạc, vua Trời, Bồ tát, A La Hán, tỳ kheo,
nam nữ đông đảo hội lại, tức là vua chúa, tướng binh; kỵ
nhạc, các hàng cư sĩ thiện nhơn, quan quân, nghiệp nghệ,
cùng hạng bậc tu xuất gia đầy đủ. Những kẻ ấy đều có ở trong
giáo pháp của Phật, đều thường nghe pháp gặp nhau, tựu hội
nơi pháp bảo, trong những bao nhiêu năm dạy đạo, chớ không
phải trong một thời gian nói pháp. Nghĩa là từng có bao
nhiêu hạng bậc ấy, trước sau ai ai cũng hạp chịu nghe theo
pháp lý, vì pháp nào cũng là A Di Đà cả; 1250 Tỳ kheo là số
Tỳ kheo đắc quả trong mấy mươi năm của Phật dạy đạo.
2. Đức Phật
thuở ấy kêu ông Xá lợi Phất mà nói, tức như kêu gọi với các
bậc thượng trí, bảo phải để vào tai nghe dạy. Từ đây qua
phương Tây, cách mười môn ức cõi Phật có một thế giới kêu là
Cực Lạc. Nghĩa là : nơi đây là sự kham nhẫn Ta Bà phiền não
ác trược, của đời xao xuyến tranh đua cấu loạn không giới
luật, như bến bờ bên này, tương đối cùng bên kia là giới
luật thanh tịnh yên vui giải thoát, nín nghỉ lặng ngừng,
chết trơ như mặt trời lặng phương Tây, là chỗ trở đầu hưu
trí, dứt bỏ cuộc đời! Phương đông như trẻ nhỏ mới sanh, cảnh
vọng động, phương tây như ông già chết bỏ, cảnh chơn như từ
vọng động đến chơn như, là phải trải qua mười môn ức cảnh
Giới luật của sự giác ngộ nhỏ, hay là mười Giới luật của
mười niệm giác lớn. Có đắc đủ 10 Giới luật của bậc giác, con
người mới xuất gia giải thoát thanh tịnh, là bên kia đặng.
Mười
Giới luật của mười cái giác ấy là : Chúng sanh hằng ở trong
đời, chấp thân mạng, cái có có làm ta, tạo gây mười nghiệp
tội nơi thân, khẩu, ý, sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối,
khoe khoang đâm thọc, rủa chưởi, tham lam, sân giận, si mê,
lấy đó làm của cải, chỗ ở của cái ta, như mười địa ngục khổ
não, ra không khỏi đặng. Cố chấp mãi có bấy nhiêu, để giữ
chắc cõi đời ma biến vô thường lầm lạc. Hết cố chấp ác khổ
quả báo, thì con người lại bám níu theo mười điều thiện trái
ngược, để được sướng vui thiên đường. Họ mắc kẹt ở trong cái
cao cái thấp, cái khổ cái vui, cái ác cái thiện ấy mãi, mà
không bao giờ ra được. Đời đời kiếp kiếp triệu ức muôn lần
đi ra đi vào sanh tử, mà không được đến đâu cả, nên đối với
trung đạo giải thoát chơn như, dứt bỏ xa lìa hai mối vọng
động ác thiện ấy, họ không thế nào định tâm yên lặng để đến
được, nên gọi là rất xa quá xa bên kia, chớ không phải tự
cao hay giỏi gì đâu cả, mà hòng kiếm gặp, hay đến ở theo
được. Thử ngay mỗi người nhập định giây lát còn không được,
thì làm sao được ở trong giới luật yên định xuất gia. Mà hể
nhập định yên lặng không được, thì đâu có gặp Cực Lạc là tột
vui của trong ấy, kẻ ấy tức nhiên phải sống bằng thân khẩu ý
vọng động, chịu khổ báo, mặc cho nhàm chán thích ưa lăn lộn
mãi theo đời, thì dễ gì muôn triệu ức kiếp như thế, mà được
hết chấp, yên định nhập vào cõi của Giáo hội, nên chẳng phải
gọi là quá xa, xa khỏi mười muôn ức cõi Giới luật giác ngộ
nhỏ nhặt, nơi mỗi chút mỗi niệm. Đúng lý như vậy. Con đường
từ cõi thế đến được xuất gia yên định ở trong đời Giới luật,
là rất lâu và xa lắm, phải trải qua mười muôn ức cõi Giới
luật giác ngộ nhỏ, mỗi lúc, mới thấy gặp, chớ nào phải đâu
dễ tu, dễ đắc, và đạo là tầm thường không quý báu, hay xác
thân là yên vui dễ gặp. Thế giới Cực lạc ấy là sự tột vui
của trong Giới luật yên định, cùng là xác thân nầy được giải
thoát Khất sĩ; mà đúng theo đây thì đức Phật Thích Ca, Ngài
chỉ ngay về Giáo hội Tăng già, nền đạo quý báu hiện tại của
Ngài, trong giữa cõi đời cực khổ, và quá xa khỏi cực khổ, là
thế giới Cực lạc phương Tây bên kia. Vậy thì, chính Luật
Tạng Giới xuất gia là cõi Tây Phương Cực lạc.
3. Đức Phật
nói : Tại thế giới ấy có một vị Phật tên là A Di Đà, hiện
tại đang nói pháp ở đó. Nghĩa là: trong giữa Giới luật vắng
lặng yên định chết trơ ấy trong đó có Pháp Tạng hiện ra
giảng dạy, có tánh bình đẳng không tranh nói ra, có Vô Lượng
Cam Lộ pháp bảo túa ra, có trí huệ Vô Lượng quang, có cái
sống Vô Lượng thọ, có cái pháp Cam Lộ vương tuôn ra mãi mãi.
(Tức là Ngài thuyết pháp trong giữa cõi Giới luật thanh tịnh
Cực lạc Giáo hội thế giới riêng của Ngài. Nơi đây đức Phật
nói về nền đạo luật giáo hội, chớ không phải chỉ cho thân
hay tâm là xứ Cực lạc, hoặc ở đâu đâu cả).
4. Xứ ấy
ngoài có bảy lớp lan can báu, nghĩa là bảy lớp Giới luật quí
báu, thất tụ Giới 243 điều trong Giới bổn Tỳ kheo :
1) 4 Đại Giới.
2) 13 Giới tổn hại
Tăng tàn.
3) 2 Giới không
định
4) 30 Giới phá sự
thanh bần
5) 90 Giới hành
phạt
6) 4 Giới đặc biệt
7) 100 Giới nhỏ
phải học
Cộng
là 243 Giới quí báu, bao bọc vòng ngoài như lan can, để ủng
hộ sự yên định bên trong Giáo hội, là cõi Phật chơn như vắng
lặng Cực lạc.
5. Kế đó bảy
lớp lưới báu, nghĩa là : bảy Giới diệt tránh. Khi nào ở
trong Giáo hội, chư Tăng có tranh cải với nhau, kẻ tự cao
muốn nhảy vọt lên, để phải rớt ra ngoài. Người lại hạ mình
thấp, mà thụt lùi chun xuống thế sa ngã bởi giận hờn thì có
bảy phương pháp nầy, như bảy lớp lưới báu đón ngăn chận lại
:
1) Hoặc dùng cách
tự thuận.
2) Hoặc nói quyết
rằng quên.
3) Hoặc mình không
biết, không cố ý.
4) Hoặc xin lỗi
thành thật, mình đã lỡ phạm.
5) Hoặc chuyển lên
Giáo hội xem xét cho.
6) Hoặc nhờ sự
quảng đại quyết định cho
7) Hoặc cùng nhau
niệm Phật bỏ qua khỏa lấp, xem như cỏ mới mọc
6. Bảy hàng cây
Bồ đề báu, là bảy Pháp bảo Chánh giác Bồ đề :
1) Phân biệt sự
lành với sự dữ
2) Tinh tấn mà
lướt lên
3) An lạc trong
vòng đạo đức
4) Thắng phục tâm
ý mình đặng làm lành
5) Nhớ tưởng đạo
lý
6) Nhứt tâm đại
định
7) Vui chịu với
mọi cảnh ngộ
Vậy
thì bảy lớp lan cạn thất tụ là Pháp bảo của thân. Bảy lớp
lưới diệt tránh là Pháp bảo của miệng. Bảy lớp Chánh giác
hàng cây là Pháp bảo của ý; bảy giác ý nầy là cây Bồ đề, chỗ
tâm ngồi tu an trụ, mỗi ngày được no đủ, che đậy, nương dựa
cho chư Tăng Thánh chúng đó.
7. Ba thứ ấy
đều có bảy món báu cẩn bọc chung quanh. Nghĩa là lan can,
lưới và cây báu ấy có ra, là do bảy báu: Bố thí, Nhẫn nhục,
Tinh tấn, trì Giới, Thiền định, Trí huệ, Chơn như, cẩn bọc
un đúc tạo thành. Thân, khẩu, ý trong sạch tốt đẹp của chư
Tăng, có được như thế, là do bảy báu ấy. Nhờ đó mà cõi Giáo
hội ấy, cái chơn tâm của các Ngài xuất gia mới ở được. Chính
Luật tạng Giới luật, đó là pháp nuôi tâm, chỗ trau tâm của
tất cả, là xứ Cực lạc; cũng là miếng đất thanh tịnh của lục
độ thanh tịnh, tịnh độ, tịnh thổ, vì Giới luật là mặt đất
chỗ ở thanh tịnh trong sạch yên vui hơn hết.
8. Trong đó
có ao thất bảo là đạo tràng chứa đựng bảy món báu, nước bát
công đức là pháp lý Bát Chánh Đạo. Đáy ao cát bằng vàng, là
rốt ráo sâu xa yếu lý của pháp, là quý báu như vàng từ chút
từ lời. Bốn phía bờ ao bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê là :
Bốn bậc thánh pháp hiệp lại thành đạo, Pháp bảo của bậc Như
lai là chơn như, như vàng; của bậc Bồ tát là trí huệ, như
bạc; của bậc Duyên giác là thiền định, như lưu ly; của bậc
Thinh văn là trì Giới, như pha lê. Mặt đất cát vàng, là Giới
luật nền tảng mặt đất tỉ mỉ quí báu như vàng. Lầu các bằng
châu ngọc xung quanh, là những nhóm Giáo hội nhỏ ở xung
quanh, ngoài đạo tràng, Tăng chúng ấy như rường cột nóc nền,
của lầu các quý báu. Đạo giáo như nhà lầu; kẻ tu học có thấp
cao lớn nhỏ đủ hạng là lầu các đủ hạng.
Giữa
ao có bốn thứ hoa sen lớn như bánh xe, xanh đỏ trắng vàng,
hào quang chói rực theo màu sắc, là trong giữa đạo tràng có
bốn bậc Trí huệ, hằng chuyển Pháp luân, tri bậc Như lai,
Chơn như, như hoa vàng, diễn pháp ra, ánh sáng chói lọi như
màu vàng kim. Trí bậc Bồ tát, trí huệ, như hoa bạc, diễn
pháp ra, ánh sáng tỏ rõ như màu trắng bạc. Trí bậc Duyên
giác, thiền định thanh tịnh như hoa xanh, diễn pháp ra ánh
sáng trong suốt như màu xanh. Trí bậc Thinh văn, trì Giới
giữ điều luật như hoa đỏ, diễn pháp ra, ánh sáng tốt tươi
như màu đỏ, thảy đều là pháp lý thơm tho mầu diệu đáng khen
ngợi cả.
Nơi
xứ Cực lạc mỗi buổi sáng ra, có hoa trời tuôn rơi đầy đất,
là nơi Giáo hội mỗi khi có thuyết pháp, thì pháp lý ấy như
ánh mặt trời, làm cho tâm trí của mỗi người, đều sáng tỏ ra
giác ngộ chơn lý, thấy rõ pháp lý cao quí tốt đẹp, như bông
hoa trời; ấy là lời lành tốt của những bậc bề trên thiện
lành trong sạch, ban bố dạy xuống cho khắp chung tất cả. Tâm
người thanh tịnh lóng nghe, cũng như mặt đất vàng chứa đựng,
chư Thánh chúng lượm hoa để trong túi bên hông, đem cúng
dường mười phương vạn ức chư Phật, là Tăng chúng bậc đã đắc
quả thanh tịnh, dùng trí nhớ lượm thâu chứa đựng lời lành
sáng ấy, ôm giữ bên lòng, đem đi giảng dạy cho chư Phật vị
lai, đang là chúng sanh hiện tại ở khắp các nơi khác. Cũng
tức là sự giáo hóa chúng sanh, thay thế chư Phật, làm no
lòng từ bi của chư Phật, bằng sự đem chúng sanh thâu vào đạo,
cúng dường chư Phật. Gần tới bữa ăn liền trở về xứ ăn cơm,
rồi đi kinh hành, là gần tới ngày Phật có nói Pháp nữa, thì
Tăng chúng trở về nghe thêm, như ăn cơm, học nghe xong, no
lòng đầy đủ, là đi hành đạo nữa. Kinh hành là hành đúng theo
Kinh, Kinh là pháp dạy trau tâm, là sự trau sửa tâm người,
tâm mình.
Trong
xứ Cực lạc ngày đêm sáu thời, có bảy thứ chim như: Bạch hạc,
công,két,
nhồng, sáo, cưỡng, chìa vôi, kêu ra tiếng dịu hòa như nhạc
trời, là ở trong Giới luật tốt vui, ngày đêm sáu giờ ngoài
lúc tu Thiền định, thì các bậc Như lai, Bồ tát, Độc giác, Vô
sanh, Bất lai, Nhứt vãng lai, Nhập lưu, bảy bậc thượng trí
nầy như chim, bằng nói luận đạo nghe hay ho, vui thích, êm
tai, hòa nhã, như nhạc trời, ấy là lời trong sạch, giải
thoát, êm ái, dịu dàng, khuyến khích ca tụng. Những lời ấy
nói về năm căn, năm lực, bảy phần Bồ đề và tám Pháp Thánh
đạo, nên làm cho ai cũng đem lòng niệm tưởng Phật Pháp Tăng
không xao lãng.
Ở
xứ ấy, mỗi khi có ngọn gió thổi qua, cây và lưới rung khua,
kêu ra những tiếng dịu hòa, dường như trăm ngàn món nhạc
đồng trổi lên một lượt, tự nhiên ai nghe cũng đem lòng niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng cả; là mỗi khi có nhơn duyên việc
chi xảy đến, như luồng gió thổi qua, như sự tranh cải với
nhau, thì các Sư đem lưới pháp đón ngăn làm dịu hòa lại,
bằng sự thuyết Pháp, cùng mỗi khi vấn đáp luận đạo, về Pháp
Chánh giác Bồ đề, thì ai ai cũng nói giống cùng nhau một lúc,
nghe thật êm ái thanh tao, khiến cho ai cũng đem lòng niệm
tưởng Phật Pháp Tăng không gián đoạn. Xứ ấy được trang
nghiêm như vậy, là nhờ công đức của Phật A Di Đà tạo thành,
là Giáo hội ấy được bằng thẳng mát mẻ trong sạch, là do nhờ
Pháp bảo Tam tạng Vô lượng Cam lộ. Vô lượng cam lộ là tất cả
giáo pháp trong mấy mươi năm của Phật. Ở xứ ấy kêu là Cực
lạc, là bởi các bậc Thinh văn còn đang nghe Pháp, với chư Bồ
tát đã đi dạy đạo, số nhiều trội thêm lên mãi, không có thể
đếm nhứt định, nên mới gọi là tột vui, của thế giới đại hiền
sống chung nhau.
Đức Phật Thích Ca nói
: Chẳng phải một mình ta khen tán pháp tạng Vô Lượng Cam Lộ
mà thôi, cả thảy chư Phật bậc trước, bậc sau, bậc ở bên nầy,
bậc ở bên kia, bậc ở trên, bậc ở dưới, bậc nào cũng đều dùng
lời nói ca tụng Pháp bảo, kéo dài mãi mãi về sau, trùm khắp
cả quá khứ hiện tại vị lai, ba lớp hạng của cả các thế giới
mà tỏ cho chúng sanh biết rằng : chúng sanh chớ khá hoài
nghi vì công đức của pháp bảo nầy, mà chư Phật tất cả đều
đang gìn giữ thật hành đây vậy.
Lại
vầy nữa : những ai người cư sĩ nghe đến tên A Di Đà, hằng
niệm tưởng đến, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc đến bảy
ngày, một lòng không tưởng khác, thì đến lúc lâm chung, Phật
A Di Đà và chư Thánh chúng sẽ qua tiếp độ, đem về cho sống
bên Cực lạc. Nghĩa là : những ai đã am hiểu thấy được nghĩa
lý của pháp Vô Lượng Cam Lộ, là bậc ấy tâm trí cũng đã được
lành sáng khá lắm. Bằng niệm tưởng pháp ấy không xao lãng,
hoặc pháp sanh được một niệm chánh giác, hoặc hai niệm chánh
giác, hoặc bảy niệm chánh giác, là kẻ ấy sẽ tự chết bỏ cảnh
trần, sanh sống qua bên nhà đạo, xuất gia giải thoát theo ở
với Phật, Tăng ; ấy là nhờ pháp Vô Lượng Cam Lộ và các điều
trong sạch của pháp tiếp dẫn đó. Vậy những ai muốn cầu Vãng
sanh Cực lạc, hoặc đã phát tâm, thì đã Xuất gia. Đang phát
tâm là đang Xuất gia. Sẽ phát tâm là sẽ Xuất gia. Ai ai cũng
nên hãy phát tâm giải thoát, được sanh vào trong nhà Phật cả
thảy.
Đức
Phật Thích Ca nói : Ta khen tặng công đức Phật A Di Đà, thì
các Phật kia cũng khen tặng lại ta y như vậy. Vì cả thảy chư
Phật đều là Vô lượng Cam lộ như nhau có một. Ngài kêu Xá lợi
Phất nói: Tuy nói vậy chớ không phải ít thiện căn, phước đức,
nhơn duyên, mà đặng giải thoát Xuất gia nhập đạo đâu, ở
trong cõi đời dẫy đầy ác dơ của sự thấy, của thời kiếp, của
thân mạng, của phiền não, của chúng sanh, dơ ác nầy, dễ gì
họ chịu nghe, biết tin pháp lý của Phật đặng. Thuở ấy Đức
Phật giảng xong, ai ai cũng thấy rõ xứ Cực lạc và Phật A Di
Đà, là Giới luật Tăng già và pháp bảo Vô Lượng Cam Lộ là
Phật, nên ai cũng vui mừng tinh tấn hoan lạc. Còn bậc trí
huệ thì lại được mở mang phương tiện, biết thêm nhiều danh
từ, nhiều vị Phật bằng Pháp, và nhiều thế giới chúng sanh,
do những Phật hay Pháp, ấy tạo ra, tức là đắc được vô số
Pháp Thiền, vô số trí huệ, vô số pháp lý biện Luận, Kinh,
Luật, để đi ra lập đạo nên thành những Giáo hội khác. Như
thế nghĩa là người cầu Vãng sanh Tịnh độ Cực lạc, tức là cầu
mong xuất gia giải thoát Khất sĩ du Tăng, sống trong giới
luật Tăng già Giáo hội, để học với Pháp tạng Vô Lượng Cam Lộ
là A Di Đà vậy.
Như
vậy tịnh độ Cực lạc, Phật A Di Đà, có ra là do nơi thân
trong sạch trì Giới cụ túc trọn đủ, và tâm định chơn như của
mỗi người. Vì nếu Giới Định đã trong sạch, thì người ấy đâu
còn ở trong cõi đời một giờ khắc chịu nỗi nữa được, mà không
phải là đã ở trong Giáo hội Tăng già, vui sống trong cõi
Giới luật, với chư Thánh chúng trong đạo Phật, Và như hiểu
pháp Vô Lượng Cam Lộ rồi, thân tâm Giới Định hoàn toàn rồi,
thì cõi thế gian đâu còn dung chứa được nữa, mà chẳng phải
là họ sùng tôn bái trọng, thỉnh đưa cho về xứ Phật, để đi
trước, cho họ theo sau. Thế mới biết rằng : thân giới là xứ
Cực Lạc Tịnh độ, còn tâm định là Phật A Di Đà. Vì Giới năng
sanh Định, Định năng phát Huệ, lẽ ấy rất thường. Biết như
thế là tự lo tu không còn trông đợi cầu vái ỷ lại nữa.
Kìa
các xứ Ấn Độ, xưa nay nào họ có cầu vái đi đâu, hoặc theo ai
gì đâu. Ấy là nhờ họ hiểu rõ lý nghĩa và ý của Phật dạy,
theo chữ tiếng của họ, nên có khác hẳn với xứ ta vậy. Cho
đến như bài chú Vãng sanh là bài nhắc nhở cho tâm ta chăm
chú, thế mà cũng có lắm người lầm hiểu. Trong ấy đại để nói
vắn tắt rằng : những ai muốn Vãng sanh, muốn giải thoát cõi
sanh tử luân hồi, muốn đến cõi sống mãi của đức Vô Lượng Cam
Lộ là phải diệt trừ tất cả nghiệp chướng tội lỗi
của thân khẩu ý, thì mới được Xuất gia, giải thoát khỏi sự
kham nhẫn. Bài ấy là để nhắc cho ta nhớ rằng : tấm lòng cầu
đạo, có ra là do sự giảm dứt nghiệp tội, là được Vãng sanh,
chớ không phải đọc tụng linh thiêng, hay ai cho mà hết tội
nghiệp.
Như
thế thì chư Phật cũng đều gọi là Vô Lượng thọ Phật, là pháp
bảo còn mãi, sống mãi, không lường, pháp ấy tức là chơn như
bình dẳng, vĩnh viễn, chơn thật, bất hoại, nên gọi là Vô
Lượng thọ Phật, kẻ nào mà được chơn như bình đẳng Vô Lượng
thọ Pháp, thì sẽ có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp, của sự
trọn lành, trọn sáng, thành Phật. Kẻ ấy sẽ có mắt dài và đen,
là sự thấy xa và không ô nhiễm… Lỗ tai lớn và dài, là sự
nghe rộng và xa. Trán tròn rộng, là sự hiểu rộng lớn tròn
đầy. Chơn mày cong, dài, xanh và đâu lại, là trí sáng tròn
thanh tịnh, cao xa, và dung hòa tuyệt đối. Tóc xoáy tròn khu
ốc, là đầu óc đầy đủ. Có nhục đảnh nổi cao đội Ngọc ma ni,
là trí cao đội thờ báu giải thoát. Mình sắc vàng kim, là sự
làm theo đạo lý quí báu như vàng. Cánh tay tròn dài là việc
làm trọn lành và để lâu dài. Bàn tay tròn bằng thẳng, là mỗi
việc làm công bình chơn chánh, tròn theo việc đạo. Ngón tay
tròn dài búp măng, là mỗi sự chỉ giáo đều xa dài, tròn sáng,
thẳng vót. Cổ tay tròn, cánh chỏ đuột đà, là sự cử động đều
tròn tốt đẹp. Âm mã tàng ẩn khuất bên trong, là sự không dâm
dục. Mình cao trượng sáu, là nối liền trời đất, thiện ác,
tinh thần vật chất, mười sáu lượng tấc. Thịt da mềm mại, là
nhu hòa hiền lương Giới hạnh. Bàn chơn no tròn không hót là
Niết bàn chơn như tự nhiên. Ngón chơn đều đặn là chơn lý chỉ
ra vừa đúng cách. Ngón tay, ngón chơn có da dính nhau, là
các sự chỉ giáo rất khít khao hòa hợp. Trong mình túa ra ánh
sáng, là tâm lành sáng chói. Mình mẩy thơm tho là ý niệm
đáng khen ngợi. Trên đầu có hào quang tròn bằng một ôm, là
trí huệ túa ra pháp lý ánh sáng, đúng tròn với việc làm. Mỗi
bước chơn đi có tòa sen, là mỗi bước mỗi nơi trải qua, đều
có những bậc Xuất gia Giáo hội chư Tăng theo tôn trọng hầu
hạ. Ngài bay là thoạt đi thoạt ở, không chi quyến luyến níu
kéo, buộc ràng bẩn chân, trên sự giải thoát không không cao
thượng. Hào quang lớn chiếu năm hòn núi, là pháp lý soi
thông ngũ uẩn. Mắt xanh xem thấu bốn biển, là trí thanh tịnh
quán xét sự khổ lớn, của sanh, lão, bịnh, tử. Phóng quang
tiếp dẫn qua sông, là thuyết Pháp phun lời ánh sáng, tiếp
dẫn độ kẻ ở sông mê nguồn ái. Ngài ở giữa xứ Cực lạc, là lạc
tại cực kỳ trung, vui nơi chỗ tột giữa trung đạo; Ngài vui
tươi trầm tĩnh tự nhiên, chơn như bình đẳng, ấy là đức Vô
Lượng thọ, hay bậc đắc pháp Vô Lượng Cam Lộ, A Di Đà Phật đó.
Ngài mặc áo vàng, là pháp Giới hạnh kiểm quí báu như vàng.
Ngài cao lớn hơn hết, ấy là Pháp Chơn như Chúa tể Pháp vương
vậy. Chơn thân ấy mới gọi là thân của đức A Di Đà Vô Lượng
thọ Phật, và của cả thảy chư Phật Khác, cũng in nhau như một.
Ngài
có bốn người con là ; Quan Thế Âm Đại từ bi, Đại thế Chí Đại
hỹ xả, Đại trí Văn Thù, Đại Hạnh Phổ Hiền. Nghĩa là : bình
đẳng sanh ra bốn pháp : từ bi, hỹ xả, đại trí đại hạnh; hay
cũng là bốn pháp sanh bình đẳng. Bình đẳng như đầu, từ bi là
tay mặt, hỹ xả là tay trái, đại trí là chân mặt, đại hạnh là
chân trái, gồm đủ vào một thân mình pháp to lớn. Như thế thì
bình đẳng là Vô Lượng thọ, Vô Lượng quang, Cam Lộ vương, A
Di Đà Phật, ngồi tòa sen vàng giữa xứ Cưc Lạc, đầu có Ngọc
bửu châu sáng đỏ. Từ bi là Bồ tát Quan Thế Âm, là quán xét
sự thế tiếng khổ tối tăm, ngồi an trụ tòa sen trắng, sắc
trắng trong sạch, là có chư đệ tử Giáo hội. Ngài hầu gần bên
Phật, đầu đội thân tướng chơn như Phật làm nhục kế. Hỷ xả là
Đại Thế Chí Bồ tát, là nối chí theo đại nguyện cứu thế của
Phật. Ngồi an trụ tòa sen, là có chư đệ tử Giáo hội. Ngài
hầu gần bên Phật, y như đức Quan Thế Âm, đầu đội thân tướng
chơn như Phật làm nhục kế. Đại trí là Bồ tát Văn thù. Văn là
nghe, Thù là đáp, bậc vô ngại viên thông, đại hùng đại lực,
cỡi xác thân như cỡi sư tử, nói lời như sư tử, dõng mãnh
hùng lực. Đai Hạnh là Bồ tát Phổ Hiền, tương đối với Văn thù,
là phổ hóa sự hiền từ đức hạnh, cỡi xác thân như cỡi bạch
tượng, nói lời như bạch tượng, hiền từ đỉnh đạc. Đó là bốn
pháp Bồ tát, ủng hộ một pháp bình đẳng Như lai là Phật, ở
trong xứ Cực lạc Tăng già giáo hội, cũng gọi là bốn hạng đệ
tử lớn, làm tay chơn hầu theo Phật làm con Phật.
Vậy
thì những ai muốn quán tưởng xứ Cực lạc và Phật A Di Đà, thì
trước hết hãy quán xét tưởng nhớ như vầy : Thân nầy như mặt
trời sắp lặn phương tây chết mất, hướng Tây là cõi giải
thoát chơn như vắng lặng, ấy là cõi Xuất gia ly tục, như cõi
chết ban đêm đối với cảnh đời, như bỏ dứt những sự hẹp hòi,
để thấy rõ cảnh giới bao la vô cực của đạo đức võ trụ. Giới
luật như mặt đất lưu ly, pha lê, như vàng bạc. Các Pháp bảo
là lan can, lưới, cây Bồ đề, nào là ao, là sen, lầu các chim
kêu, chư Thánh chúng, Tăng sư áo vàng phất phơ bay lượn. Kìa
là đức Phật Vô Lượng Cam Lộ, thân tướng trang nghiêm tốt đẹp
đủ cách. Ngài đang phóng quang tiếp dẫn chúng sanh. Kìa Quan
Thế Âm, Đại Thế Chí đứng hầu hai bên, oai nghi chỉnh túc,
mỗi cử chỉ đoan trang, chư Thánh chúng đang ngồi nghe dạy
đạo cùng khắp trên mặt ao hồ thất bửu. Kìa như ta đã đến đó
nghe kinh, Phật đã giảng dạy như thế, và như ta cũng đã tỏ
ngộ, muốn ở luôn theo hầu Phật, quyết tu nối nguyện Phật, tế
độ chúng sanh về sau v.v… Cả thảy đều thấy ngay ra bằng pháp
lý, là sự thật nơi Giới luật Giáo hội Tăng già đạo Phật. Như
thế tất nhiên sẽ đặng tự mình phát tâm giải thoát, Xuất gia
Khất sĩ, được nhập trong nhà Phật, giáo hội Tăng già, hoặc
tự mình sẽ tạo ra được một giáo pháp Khất sĩ Tịnh độ phương
tây xứ Phật khác, y như bà Vi Đề Hy một cách (xem trong Quán
Vô Lượng Thọ Kinh). Chính bà Vi Đề Hy, nhờ Phật dạy cho quán
xét tưởng nhớ như thế, mà được giác ngộ thấy rõ ra cõi Pháp
là trang nghiêm, quí báu không lường còn cuộc đời là chết
khổ. Thế là bà và các thị nữ đều thảy Xuất gia nhập đạo hiện
tại, ấy như Phật A Di Đà và chư Thánh chúng qua rước đó, tức
là bà Vãng sanh Tịnh độ, đã chết bỏ thân xác đối với cõi đời,
thì làm Khất sĩ giải thoát, sống trong Giới luật Cưc lạc Tây
Phương mới đặng. Như thế thì ai ai nếu may ra giác ngộ, cũng
là được Vãng sanh hiện tại được gặp Phật, được vào ở trong
xứ Phật A Di Đà hiện tại cả.
TÓM
LẠI : Quyển Vô Lượng Cam Lộ, nầy có ra, thật là hoàn
toàn đúng chơn lý, triết lý, pháp lý, đạo lý, ý nghĩa của
chư Phật dạy. Nó sẽ giúp ích cho biết bao sự tấn hoá của
người tu niệm Phật mà còn kém hiểu, hằng bày ra lắm sự hình
ảnh mơ vọng, cùng sự đọc tụng nhịp nhàng, làm như đạo Phật
là một trò vui đồng bóng, mà từ xưa kia là vẫn chưa hề có.
Nó sẽ giảm bớt cho được biết bao nhiêu huyễn hoặc mơ hồ, vô
lý nghĩa, của thần quyền bịa thuyết. Nó sẽ giúp ích cho dân
tộc trên đường tiến triển về pháp lý thật tế an vui, tinh
thần tốt đẹp, không còn phải là một lối tu hành tai hại chờ
chết bại xuội. Nó sẽ làm cho người tu biết rõ lẽ sống của
mình và tất cả, trên sự thành công và hạnh phúc. Vì nó đã
chỉ rõ ra tất cả những pháp để làm Phật, thành Phật, nên quả
Phật, nên thế giới cho tất cả. Mặc dầu theo đây mới chỉ là
một triết lý giải sơ bề ngoài, chớ chưa phải là Vô Lượng Cam
Lộ và Cực lạc nhỏ hẹp của sự trau tâm, hay lớn lao của Võ
trụ, và những cách giảng giải khác nữa. Nhưng hiểu tạm vắn
tắt theo đây, là chúng ta ai ai cũng sẽ đủ được dễ dàng giải
thoát, Vãng sanh tịnh độ và gặp Phật Vô Lượng Cam Lộ hết.
Xứ
Cực Lạc
Trong phép tu thiền định, từ :
tầm sát, hỷ, lạc, tịnh định, là từ con đường của nhơn loại
bước tới Niết Bàn.
Định là Niết Bàn. Tịnh là TỊNH ĐỘ.
Lạc là Cực Lạc hay cõi trời VÔ SẮC GIỚI. Hỷ là cõi trời SẮC
GIỚI. Tầm sát là cõi trời DỤC GIỚI.
Đó là những nấc thang tấn hóa của nhơn
loại. Nghĩa là:
1 . BẬC SƠ THIỀN phải tu năm phép
nầy : lấy TẦM SÁT Làm gốc vốn, để đến hỷ, lạc, tịnh, định.
Có Tầm sát là tầm tòi quán xét, dục muốn sự thiện, mới dứt
qua khỏi ác nhơn tội lỗi, mà đến lần được, hỷ, lạc, tịnh,
định, nên kêu gọi là Dục giới
thiên, cái cảnh dục của lớp trên nhơn loại.
2 . Bậc Nhị Thiền còn tu, bốn
phép nầy : lấy HỶ làm chỗ ở, để đến với lạc, tịnh, định. Hỷ
là sự mầm, mầm sống trong sự thiện lành
tốt đẹp, đúng theo lẽ có có, nên kêu gọi là Sắc giới thiện,
lớp trên cao hơn cảnh dục muốn. Trình độ của người đã qua
khỏi sự tầm sát.
3 . Bậc Tam Thiền còn tu ba phép
nầy : lấy LẠC làm chỗ ở, để đến với tịnh, định. Lạc là sự
vui, vui sống trong cảnh không
không tất cả, cũng không còn có thiện nữa nên kêu gọi là Vô
sắc giới thiện. Vô sắc
giới thiện là tên gọi nơi người cư sĩ, chớ nếu xuất gia, thì
kêu là Cực Lạc. Lớp trên cao hơn cảnh sắc có có. Trình độ
của người đã qua khỏi sự hỹ.
4 . Bậc Tứ
Thiền còn tu hai phép nầy : Lấy TỊNH làm chỗ ở, để đến với
định. Tịnh là sạch, là sống trong sạch,
trong sự giải thoát Xuất gia, nên gọi là Tịnh độ, Tịnh độ là
lục độ thanh tịnh. Lớp cao trên hơn cảnh Vô Sắc và Cực Lạc.
Trình độ của người đã qua khỏi sự lạc.
5 . Bậc Ngũ Thiền hay Đại Định là
còn một phép nầy:
lấy Định làm chỗ ở, không còn đi đâu nữa cả, Định là
yên lặng, sự sống yên lặng hoàn toàn nên
gọi là Niết bàn, Niết bàn là đứng ngừng hưu trí, ngưng việc
rốt ráo, không còn chỗ đến, đến đây là kết quả mục đích. Lớp
trên cao hơn Tịnh độ, cao trên hơn hết. Trình độ của người
đã qua khỏi sự tịnh sạch.
Đó Là Phép Tu Trên Nhơn Loại :
Sơ định là : Tầm,
sát, hỹ, lạc, tịnh, định
Nhị định là :
.. hỹ, lạc, tịnh, định
Tam định là :
.. lạc, tịnh, định
Tứ định là :
.. tịnh, định
Ngũ định là :
.. định
1 . Sơ Định là cảnh trời
dục giới thiên, cảnh của người cư sĩ giữ 5 giới chay kỳ, ở
tại nhà.
2 . Nhị Định là cảnh trời
sắc giới thiên, cảnh của người Cư sĩ giữ 8 giới, trường chay,
ở am chùa.
3 . Tam Định là cảnh trời
vô sắc giới thiên, cảnh của người cư sĩ, giữ 10 giới, Ngọ
chay, không Tiền, ở cốc, hang, động, hoặc là xứ Cực Lạc của
người tu tập Xuất gia Khất sĩ ở trong Giáo hội.
4 . Tứ Định là cảnh tịnh
độ Tây Phương của bậc tu Xuất gia Khất sĩ
thanh tịnh, giữ 250 Giới giải thoát.
5 . Ngũ Định là cảnh Niết
bàn, của những bậc đắc Thiền Định hay đại định.
Đó nghĩa là từ
cảnh trời dục giới, đến sắc giới, đến vô sắc hay cực lạc sẽ
đến tịnh độ, và đến Niết bàn, tức là danh từ tên gọi của
pháp Thiền định, chỗ ở của tâm, chớ không phải ở đâu đâu hết.
Như thế tức là sự chỉ rõ ra rồi, từ đây chắc không còn ai
hiểu lầm nữa.
Thế thì chỉ có
sự thật lo tu là đúng hơn hết.
Sư Tổ
Minh Đăng Quang.
Phàm âm nhạc điều phát từ tâm của mình, vì xuất phát từ tâm
cho nên người biết tiếng mà không biết âm có khác nào như
cầm thú, kẻ biết âm mà không biết tiếng thì hạng thường dân,
chỉ có bậc quân tử mới biết nhạc thôi.
Cho nên nói đọc sách không phải đọc ít, nếu không thì một
chút sơ xuất giống như loài cầm thú.
Phàm là tất cả những kiến thức, cần phải hiểu cho rõ nghĩa
lý, nếu không chỉ làm tổn hại đến phước đức của mình mà thôi.
Trích một đoạn trong Nhạc Ký.
Lời
của Tổ Sư cho chúng ta thấy được mục đích là làm cho Bản Tâm
của mình được trong sạch, nhờ vậy mà một ngày nào đó chúng
ta mới trở thành một bậc trọn lành để phổ tế chúng sanh, thế
nhưng ngày hôm nay thấy nhan nhản ra đó các cơ sở tôn giáo
bày ra lắm trò mê tín dị đoan, làm những việc Tà Kiến trong
khi Đạo Phật là Đạo của Bát Chánh, nhưng chỉ vì quyền lợi và
danh vọng mà từ cá nhân, Chùa chiền cũng như các tổ chức Tôn
Giáo không khướt từ mọi phương thức để được nhiều tiền, mới
cố tình hiểu sai chữ phương tiện để phát triển lòng tham
vọng Tà Kiến mà không sợ luật nhân qủa chiêu cảm, nên nơi
Chánh Đạo thờ đấng Giác Ngộ mà họ bày lắm trò cúng Sao giải
Hạn, xin Xâm, chơi Hụi chỉ vì xu hướng theo những người đi
trước do chẳng tỏ tường nghĩa lý Chánh Phương Tiện mới đưa
hành giả tới những quả vị Phật, Tiên, Hiền Thánh.
Ghi Chú: Xin gởi kèm
bài Vãng Sanh Chú để Pháp Lữ bốn phưong nhận biết vạn vật và
thân ta Vô Thường mà phát tâm hướng thượng.
Nghĩa của Vãng Sanh Chú !!!
Muôn pháp không thường còn
Người sanh ắt có diệt
Sanh tử như thủy triều
Diệt tận chân phúc hiện
Thác bền sống không bền
Người đời ai cũng chết
Chết mục tiêu cuộc đời
Đúng y lời Phật dạy
Kiếp sống trong ngắn ngủi
Chết thật là chắc chắn
Sớm muộn sát thân nầy
Trở về cho tứ đại
Nhìn xem thể phách hoại
Xác như gỗ mục hư
Tánh thanh tịnh chơn như
Niết Bàn vô sanh diệt
Tất cả các Mật Chú, Thần Chú không bằng
CHÚ TÂM, Vì Chú Tâm là mục đích và cứu cánh.
|