Những Thánh Ðịa Phật Giáo tại Ấn Ðộ

                    Nguyên bản: Buddhist Shrines In India

                    Người dịch: Thích nữ Minh Tâm


          Lời mở đầu:

          Kính bạch chư Tôn Ðức,

            Con xin đê đầu đãnh lễ cảm niệm công đức chỉ dạy của chư Tôn Ðức và nguyện cố gắng tu học hơn nữa để báo đáp hồng ân Chư Phật Tổ và công lao dạy dỗ của chư Tôn Ðức.

            Kính nguyện Chư Phật gia hộ chư Tôn Ðức pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ để dìu dắt chúng con trên bước đường tu học.

            Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát ma ha tát.

            Nam Mô Công Ðức Lâm Bồ Tát tác đại chứng minh.    

                                                                        Tỳ Khưu Ni TN Minh Tâm cẩn bút

 

Kính gởi quí Phật tử,  

Nhận được sự góp ý, phê bình, khuyến khích và ủng hộ của các Phật tử xa gần, tôi vô cùng cám ơn và cố gắng hết sức sửa chữa những khuyết điểm; mong các tác phẩm sau này sẽ càng ngày càng hoàn hảo hơn.

Với ý nghĩ mở rộng thêm tầm kiến thức Phật Giáo cho các Phật tử mới bước chân vào đạo, cần hiểu sâu thêm về lịch sử Phật Giáo, tôi cố gắng dịch quyển "Buddhist Shrines In India" do nhà xuất bản Patiala House tại New Delhi ấn hành năm 1951, và đã được tái bản lần I vào năm 1956, lần II vào năm 1968, và lần III vào năm 1994.

Dù quyển sách này đã xuất bản lâu năm, nhưng với văn phong dễ hiểu, gọn gàng, xúc tích, sẽ không làm người đọc mệt mỏi, nhàm chán khi đọc một tác phẩm thuộc dạng nghiên cứu, tài liệu.

Kính mong các bậc cao minh, thiện hữu trí thức giúp đỡ và phê bình.

Kính chúc quí Phật tử tăng tiến tu học, phát tâm cầu Vô Thượng Bồ Ðề.

Kính nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

 

                                                            Tỳ Khưu Ni TN Minh Tâm đệ bút.


Mục Lục:

Lời giới thiệu

Thánh địa thứ nhất: Lâm Tỳ Ni

Thánh địa thứ hai: Bồ Ðề Ðạo Tràng

Thánh địa thứ ba: Sarnath

Thánh địa thứ tư: Kusinagara

Thánh địa thứ năm: Sravasti

Thánh địa thứ sáu: Sankasya

Thánh địa thứ bẩy: Rajagriha

Thánh địa thứ tám: Vaisali

Những địa danh quan trọng:

            -Sanchi

            -Ajanta và Ellora

            -Nalanda

Lời kết


Lời giới thiệu:

Thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên là thế kỷ hoàng kim của các tôn giáo Á Ðông.  Những biến cố mang tính cách lịch sử vĩ đại đã lần lượt xảy ra tại các nước Ðông Phương: Khổng Tử và Lão Tử tại Trung Hoa, Zoroaster tại Iran (Ba Tư), Mahavira và Ðức Phật Thích Ca tại Ấn Ðộ.

Trong vùng lốc xoáy tôn giáo đó, đaọ Phật do Ðức Thích Ca sáng lập, đã đứng vững và tiếp tục lớn mạnh như một ngọn đuốc sáng để đáp ứng nhu cầu tâm linh của loài người.  Ðaọ Phật đã đem đến cho con người một đời sống tâm linh hoàn hảo.  Lẽ dĩ nhiên, đaọ Phật cũng không thoát ra ngoài qui luật chung của vũ trụ "thành, trụ, hoại, không,"và cũng đã trãi qua không biết bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử các dân tộc và tôn giáo; nhưng đạo Phật vẫn tồn tại và còn tồn tại mãi trong dòng sinh mệnh của các đất nước đạo Phật đã đi qua và để lại dấu ấn.

Nói đến đạo Phật, thiết tưởng chúng ta phải nhắc đến vị giáo chủ đã sáng lập ra tôn giáo đó.

Vào thế kỷ thứ 6, năm 566 trước Công Nguyên, tại thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatsu) của một tiểu vương quốc tại Ấn Ðộ, Thái tử Tất Ðạt Ða (Siddhartha) đã giáng sanh trong sự chờ đón trọng thể huy hoàng của hoàng gia và dân chúng.  Thái tử là con của đức vua Tịnh Phạn (Sudhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi).  Thái tử ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), gần sát biên giới Nepal và Ấn Ðộ.

Một đạo sĩ đã tiên đoán rằng "Thái tử, hoặc sẽ trở thành một đaị vương cai trị tứ châu thiên hạ, hoặc sẽ xuất gia tu hành đắc quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác."  Vua cha nghe vậy, vội tìm đủ mọi cách ngăn chận.  Nhưng những phương cách đó đều vô hiệu, ngay cả người vợ tài sắc của Thái tử là công nương Da Du Ðà La (Yasodhara) và đưá con mới chào đời La Hầu La (Rahula) cũng không thể dẹp tan được ý nghĩ thoát ly mọi ràng buộc thế tục của Thái tử.  Thái tử đã nhìn thấy được cảnh sanh, lão, bệnh, tử của con người, đã hiểu rõ sự vô thường thay đổi của vạn hữu hàm linh và Thái tử muốn đi tìm phương pháp giải thoát khổ đau cho chính mình và nhân loại.  Không lâu sau đó, Thái tử đã thoát ly hoàng cung, rời xa mái ấm gia đình, dấn thân vào cát bụi.

Sau 11 năm tầm sư học đaọ, khổ hạnh đủ mùi, tham bái cầu đạo với nhiều danh sư, Bồ Tát Tất Ðạt Ða vẫn không thấy thoả mãn.  Ngài nhận thấy phương cách tu tập, lý thuyết của các đạo sư vẫn tiêu cực bế tắc.  Ngài liền bỏ lối tu tập đó và một mình một bóng đến ngồi tham thiền bên bờ sông Ni Liên Thiền (Uruvila).  Qua 49 ngày đêm nhập định, Bồ Tát Tất Ðạt Ða hoát nhiên đại ngộ, chứng thành quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, tôn hiệu là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.   Sau khi chứng đắc chân lý, Ðức Phật đã đến gặp năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển.  Bài thuyết pháp đầu tiên của Ðức Phật nói về pháp Tứ Ðế được gọi là Chuyển Pháp Luân (Dhamma - Chakrapravartana).  Giáo lý Tứ Ðế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo) xuyên suốt Bát Thánh Ðạo hay Bát Chánh Ðạo (Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Ðịnh, Chánh Niệm) đã hướng dẫn bao nhiêu người giải thoát từ dòng sông đau khổ đến bến bờ cực lạc hạnh phúc.

Suốt 45 năm, Ðức Phật và hàng đại đệ tử của Ngài đã đi khắp lãnh thổ Ấn Ðộ, từ bờ sông Hằng đến những làng quê hẻo lánh, cốt yếu để truyền bá chánh pháp giải thoát lầm mê cho chúng sanh.  Ánh sáng đạo Phật truyền đến đâu thì bóng tối vô minh tan đến đó.  Hàng triệu triệu người đã tìm thấy hạnh phúc và giải thoát.  Ðức Phật nhập diệt tại thành Câu Thi Na (Kusinagara) năm 486 trước Công Nguyên.  Năm ấy, Ngài được 80 tuổi.

Ðạo Phật đã phát triển rực rỡ tại Ấn Ðộ, nhất là tại thành Câu Xá La (Kosala) và Ma Kiệt Ðà (Magadha) còn được gọi là trung tâm Phật Giáo.  Nhưng sau khi Ðức Phật nhập diệt khoảng 200 năm, đạo Phật cũng theo những biến cố lịch sử mà có nhiều  thăng trầm thay đổi.  Trong những biến cố lịch sử đó, trận chiến thảm khốc với quân Kalinga của vua A Dục (Asoka) là bước ngoặt nổi tiếng trong lịch sử Phật Giáo Ấn Ðộ.

Vua A Dục đã rùng mình tỉnh giấc mộng đế vương khi nhìn xác người ngựa đẫm máu nằm chết la liệt ở chiến trường.  Hình ảnh đẫm máu đó đã khích động mãnh liệt lòng vị vua bạo tàn đó, khiến ông ta hối hận đã gây ra cảnh tương tàn hủy diệt sanh linh.  Từ đó, A Dục Vương đã chuyển hoá tâm hồn, tìm hiểu đạo Phật và qua giáo lý, A Dục Vương đã thuần hoá từ từ trở thành một vị vua nhân đức nhất của lịch sử Ấn Ðộ.

Những thánh tích Phật Giáo còn sót lại trên lãnh thổ Ấn Ðộ đều có dấu ấn trùng tu lại của vua A Dục; nhờ thế mà ngày nay chúng ta có thể học và hiểu rõ thêm về những di tích lịch sử Phật Giáo qua những bia ký và thánh địa.  


                        Những Thánh Ðịa

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã để lại dấu chân Ngài trên toàn lãnh thổ Ấn và hình bóng Ngài đã khắc sâu trong tâm tư nhân loại.  Trong thời kỳ chánh pháp hưng thịnh, các địa danh quan trọng đều được nhắc tới.  Bốn thánh địa nổi tiếng của Phật Giáo nói riêng và của Ấn Ðộ nói chung là: Vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nơi Ðức Phật giáng sanh, Bồ Ðề Ðạo Tràng (Bodh-Gaya) nơi Ðức Phật thành đạo, Lộc Uyển (Sarnath) nơi Ðức Phật chuyển pháp luân đầu tiên, và Câu Thi Na (Kusinagara) nơi Ðức Phật nhập diệt.

Bốn địa danh quan trọng khác cũng được đề cập đến trong lịch sử Phật Giáo là bốn nơi Ðức Phật đã thi triển thần thông để giáo hoá điều phục chúng sanh.  Những địa danh đó là:  Sravasti (thủ phủ của Kosala) nơi Ðức Phật đã thi triển thần thông điều phục Ca Diếp (Puruna Kasyapa), người lãnh đạo phái Tirthika (đạo thờ thần lửa).    Nơi thứ hai là Sankasya, Ðức Phật đã lên tầng trời thứ 33 để giáo hoá cho hoàng hậu Ma Gia (mẫu thân của Ngài).   Nơi thứ ba là Rajagriha (thủ phủ của Ma Kiệt Ðà), nơi đây Ðức Phật đã điều phục con voi say do Ðề Bà Ðạt Ða sai khiến ra giết Ðức Phật.  Nơi thứ tư là Vệ Sá Ly (Vaisali), nơi đây Ðức Phật đã thọ dụng bát mật ong do đàn khỉ dâng cúng.

Những địa danh nổi tiếng này và những biến cố trong cuộc đời Ðức Phật đã là đề tài cho hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật Phật Giáo từ xưa cho đến nay.

Những địa danh này đã lôi cuốn không biết bao nhiêu khách thập phương đến chiêm bái, và nhiều ngôi đền, tháp, bia ký cũng được xây dựng chung quanh những thánh địa này.  Tuy nhiên, trong thời kỳ đạo Phật suy tàn tại Ấn Ðộ, một vài thánh địa đã bị hoang phế tàn rụi theo cát bụi và thời gian.

Ngày nay, các nhà khảo cổ Ấn Ðộ đang trên đường khai quật lại di tích và trùng tu lại các thánh địa.


Thánh địa thứ nhất:

                        Lâm Tỳ Ni (Lumbini)

Lâm Tỳ Ni (Lumbini), nơi Ðức Phật giáng sanh, là một thánh địa ở vùng Rummindei, cách một dặm về phía Bắc vùng Paderia và hai dặm phía Bắc vùng Bhagwanpur nước Nepal.  Ngày nay các nhà khảo cổ xác định Lâm Tỳ Ni nằm về phía Bắc quận Basti của xứ Uttar Pradesh.

Theo tài liệu sử Phật Giáo, Lâm Tỳ Ni tọa lạc cách thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) 12 dặm.  Sử chép rằng, "Theo tục lệ, Hoàng Hậu Ma Gia phải trở về quê mẹ để sanh nở.  Khi đến động hoa Lâm Tỳ Ni, bà cảm thấy trong người sảng khoái lạ thường.  Cảnh vật xinh đẹp tươi mát chào đón, chim muông hót ríu rít trên cây, gió hiu hiu thổi làm tâm hồn người dịu êm nhẹ nhàng, Hoàng Hậu thong thả dạo bước ngắm nhìn thưởng thức cảnh trí thiên nhiên.

Khi đến tàng cây Sa La, Hoàng Hậu dơ tay vịn cành hoa sà thấp trước mặt và kỳ lạ thay, Thái tử giáng trần trong tư thế đứng của người mẹ.  Chư Thiên tung hoa chào đón, bẩy con rồng phun nước thơm  tắm rửa Thái tử và Thái tử đi 7 bước dõng dạc tuyên bố rằng: "Ta là đấng Vô Thượng Ðạo Sư của Trời Người."  (Thiên thượng thiên hạ, duy Ngã độc tôn).  Từ vườn Lâm Tỳ Ni, Thái tử được các cung nô hầu hạ trở về thành Ca Tỳ La Vệ.

Quang cảnh giáng sanh của Thái tử Tất Ðạt Ða là đề tài cho hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật Ấn mà ngày nay người ta đã tìm thấy trong điêu khắc và tranh vẽ.

Nhận dạng được địa danh của Lâm Tỳ Ni, thiết tưởng chúng ta phải nhớ đến công ơn của vua A Dục.  Hai mươi năm sau ngày đăng quang lên ngôi hoàng đế, Vua A Dục đã đích thân đi chiêm bái đãnh lễ các thánh địa và chính Vua đã sai người đúc một cột trụ khắc lên dòng chữ "Ðịa danh này là nơi Ðức Phật giáng sanh."  Vua A Dục cũng đã giảm 5% thuế hằng năm cho dân chúng vùng này.  Ðó là một đặc ân của vua A Dục đối với dân cư địa phương nơi Ðức Phật giáng sanh.  Bên cạnh cột trụ này, người ta còn thấy một ngôi đền xưa cũ khắc chạm hình ảnh quang cảnh giáng sanh của Ðức Phật.

Lâm Tỳ Ni đã trở thành một thánh địa quan trọng hàng đầu đối với người Phật tử.  Ngàn năm trước, những du tăng Trung Quốc đều lần lượt viếng thăm Lâm Tỳ Ni.  Chung quanh cột trụ do vua A Dục sai đúc, các vị du tăng cũng đã tự đắp lấy những bia đá lớn nhỏ đánh dấu những cuộc viếng thăm cúng dường.  Về sau, chính phủ Nepal ra lệnh khai quật vùng này để tìm thêm tài liệu chứng cứ.  


Thánh địa thứ hai:

                        Bồ Ðề Ðạo Tràng  (Bodh-Gaya)

Thánh địa nổi tiếng thứ hai trong lịch sử Phật Giáo là Bồ Ðề Ðạo tràng, nơi Ðức Phật thành đạo.  Nơi đây Ðức Phật đã tọa thiền suốt 49 ngày đêm dưới tàng cây pipala, bên cạnh dòng sông Ni Liên Thiền.  Vì hiện tượng bất diệt đó, địa danh này đã trở thành Bồ Ðề Ðạo Tràng, và cây cổ thụ pipala được đặt tên là cây Bồ Ðề (có nghĩa là "giác ngộ, bodhi tree").

Có thể nói, Bồ Ðề Ðạo Tràng đã trở thành một cái nôi của lịch sử văn hoá Phật Giáo và các đệ tử Phật đều ao ước được ít nhất một lần đến chiêm bái nơi này.  Tòa cỏ Ðức Phật ngồi thiền, cây Bồ Ðề đều được chăm sóc kỹ lưỡng.  Những bia tháp và những cột đá lớn nhỏ chung quanh Bồ Ðề Ðạo Tràng, do các du tăng Ấn Ðộ, Trung Quốc và các nước khác tự đắp lấy cúng dường khi đến chiêm bái thánh địa này, và tài liệu ghi chép của ngài Tam Tạng Huyền Trang, đã cho chúng ta hình dung ra được quang cảnh sầm uất rực rỡ của địa danh này trong quá khứ hơn 2500 năm trước.  Cây Bồ Ðề bây giờ là cây cháu cây chắt của hàng ngàn cây Bồ Ðề gốc, nhưng cành lá vẫn xum xuê, thân cây to lớn rắn chắc.

Chính ngài Alexander Cunningham và một số các nhà bác học khác là những người đầu tiên khai quật những bia ký và cột trụ tại Bồ Ðề Ðạo Tràng này.  Ðại tháp Bồ Ðề đã được trùng tu lại nhiều lần với một kinh phí rất to lớn.  Vua A Dục cũng đã xây dựng một ngôi đền tại thánh địa này.  Ngôi đền do vua A Dục xây đã được miêu tả nhiều trong nghệ thuật Ấn; tuy nhiên di tích của ngôi đền này đã không còn tìm thấy dấu vết nữa.

Ngôi đại tháp Bồ Ðề chúng ta thấy hiện nay là ngôi tháp mới được trùng tu lại sau này.  Theo sự miêu tả của ngài Tam Tạng Huyền Trang thì đại tháp Bồ Ðề đã được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên theo mô hình của một đại bảo tháp tại Miến Ðiện (Burma).

Hiện nay, ngôi đại bảo tháp tại Bồ Ðề Ðạo Tràng cao gần 160 bộ và xây theo hình tứ giác. Trên đỉnh là một ngọn tháp nhọn.  Trong tháp, người ta khắc chạm hình tượng Ðức Phật thành đạo.  Phiá Bắc của ngôi tháp là một con đường hẹp cách mặt đất 4 bộ.  Người ta miêu tả đó là con đường nhỏ mà Ðức Phật, sau khi thành đạo, đã đi thiền hành qua lại trên con đường này.  Ngoài ra, lại còn có nhiều hình hoa sen được chạm trỗ trên con đường đó vì người ta tin rằng mỗi bước chân Ðức Phật đi đều có hoa sen nở tung ra đến đó.  Người ta còn thấy một mảng đá cát đỏ cạnh cây Bồ Ðề, tượng trưng cho đệm cỏ mà hơn 2540 năm trước, Ðức Phật đã ngồi và chứng đạo.  Còn rất nhiều những kiến trúc chạm trỗ khác khắc ghi lại hình ảnh của Ðức Phật và các đại đệ tử, các Phạm Thiên.  Những kiến trúc thẩm mỹ đó đã hấp dẫn hàng triệu người đến chiêm bái Bồ Ðề Ðạo Tràng mỗi năm càng ngày càng đông, tạo nên một luồng sóng du lịch khổng lồ về quê Ðức Phật giúp cho nền tài chánh quốc phòng Ấn thêm một phần lợi tức đáng kể.


Thánh Ðịa thứ ba:

                                                Sarnath

Một thánh địa đáng ghi nhớ nữa trong lịch sử Phật Giáo là thánh địa Isipitana hay Sarnath.  Nơi đây, trong sự tĩnh lặng của vườn Lộc Uyển, Ðức Phật đã khai giảng bài pháp đầu tiên cho 5 anh em ông Kiều Trần Như trước kia cùng tu khổ hạnh với Ngài.  Nội dung bài thuyết pháp nói về những khổ đau của kiếp người và những phương cách giải hóa những thống khổ đó.  Sự kiện này đã được mệnh danh là "Chuyển Pháp Luân," có nghĩa là Ðức Phật chuyển bánh xe pháp đầu tiên đánh dấu một kỷ nguyên huy hòang rực rỡ của một tôn giáo kéo dài bền vững trên 2500 năm cho đến nay.

Sarnath là nơi xuất phát tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập.  Vì thế, Sarnath đã trở thành trung tâm Phật giáo lớn nhất tồn tại trên 1500 năm.  Trong những thế kỷ đầu tiên của thời kỳ Phật giáo hưng thịnh, dưới triều đại vua A Dục, Sarnath đã trở thành một nơi tranh luận nổi tiếng giữa các tông phái và đạo giáo.  Hai ngài Pháp Hiền và Trần Huyền Trang đã đến chiêm bái thánh tích này vào thế kỷ thứ 5 và thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên.  Hai ngài đã để lại cho chúng ta nhiều tài liệu giá trị về lịch sử thánh địa này.  Nơi đây, vua A Dục cũng đã sai người xây dựng một cột trụ đánh dấu khu vực ẩn cư trong nhiều tòa nhà lớn nhỏ khác nhau của hơn 1500 vị tăng sĩ Phật giáo đến Sarnath.  Trong những di tích còn sót lại đó, người ta phải nhắc đến một ngôi đền tuyệt mỹ có tượng Phật bằng đồng trong hình tướng chuyển Pháp luân, một ngôi cổ tháp và một cột trụ bằng đá.  Tất cả đều do vua A Dục xây dựng.  Thánh địa này đã phát triển rực rỡ trong nhiều triều đại và cũng đã được trùng tu lại nhiều lần.  Theo bia ký và những chứng cứ khảo cổ, người ta biết rằng ngôi đền có tượng Ðức Phật Chuyển Pháp Luân đã được trùng tu lại theo lệnh của hòang hậu Kumaradevi vào phân nửa đầu thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên.  Chẳng bao lâu sau, địa danh này bị quân đội của Muhammad Ghori, của đạo quân Huns và Mahmud Ghazni phá hủy hòan tòan, nhưng Sarnath lại được trùng tu do công sức của các tín đồ Tăng Ni Phật giáo khắp nơi.  Tuy nhiên về sau, vì đạo Phật đã suy tàn tại Ấn Ðộ, Sarnath, một địa danh lịch sử nổi tiếng và huy hòang một thời đã bị tiêu hủy mất dấu trong đổ nát hoang tàn của cát bụi thời gian.

Ngày nay, viện khảo cổ Ấn đã tổn phí sức lực và tài chánh thật nhiều trong công cuộc khai quật và trùng tu lại thánh địa Sarnath.  Khi chúng ta đến Sarnath từ hướng Varanasi, chúng ta sẽ thấy một mặt phẳng bát giác bằng gạch nung nhô lên khỏi mặt đất.  Mặt phẳng này là di tích còn sót lại của một ngôi tháp trước kia đánh dấu nơi Ðức Phật đến gặp 5 anh em ông Kiều Trần Như.  Ngôi tháp bát giác này được trùng tu lần sau cùng bởi tiểu vương Akbar năm 1588, thuộc triều đại Gupta.

Trong số những di tích tàn rụi còn sót lại không bị các đạo quân tàn phá là ngôi tháp Dhamekh cao hơn mặt đất 150 bộ.  Ngôi tháp này được xây cất bằng nguyên liệu bền cứng, những khối đá khổng lồ bằng gạch và mang hình dáng cột trụ.  Những hình tượng khắc trên mặt tháp cho chúng ta biết ngôi tháp Dhamekh được xây vào triều đại Gupta thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên.  Danh từ "Dhamekh" phát xuất từ nguyên từ Phạn ngữ "Dharmekh - chánh pháp".  Cách ngôi tháp này không xa về hướng Tây là một ngôi tháp nhỏ do vua A Dục xây cất.  Tháp vua A Dục xây, theo lời miêu tả của ngài Trần Huyền Trang, có thể là nơi Ðức Phật tọa thiền thuyết pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như.  Xa hơn một tí về phía Bắc, là một côt trụ hình đầu sư tử được khắc chạm rất công phu.  Cột trụ sư tử này hiện nay được trưng bày tại viện bảo tàng khảo cổ gần đó.  Tại ngôi tháp này, chúng ta còn thấy sót lại những mảnh đá lớn của nền nhà chánh điện và những cột lớn nhỏ của một cổng chính dẫn lối vào chánh điện ngôi tháp.  Ngòai ra, chúng ta còn thấy rất nhiều mãnh vỡ của các tượng Phật và Bồ tát mang dấu ấn điêu khắc của nhiều triều đại khác nhau.  Một bức tượng Phật đẹp nhất tạc bằng đá cát khắc hình Ðức Phật Chuyển Pháp Luân là bức tượng tuyệt mỹ mang dấu nghệ thuật điêu khắc triều đại Gupta.

Tất cả những bức tượng điêu khắc vào thời đại này đều khắc theo tám biến cố lịch sử của cuộc đời Ðức Phật như Ðức Phật giáng sanh, thành đạo, chuyển Pháp luân, nhập Niết bàn, thi triển thần thông, v.v.  Ðáng kể nữa là một bức tàn lọng bằng đá khắc trọn vẹn bài pháp Tứ Ðế bằng tiếng cổ Pàli.

Dù đã bị tàn phá nhiều theo thời gian, Sarnath vẫn còn hấp dẫn du khách tìm về Ấn Ðộ để tưởng nhớ lại hình ảnh Ðức Từ Phụ và giáo âm của Ngài vẫn vang vọng bất diệt trong lòng người con Phật.

            Next>>>