<<<Prev           Next>>>

Thánh địa thứ tư:

                                                Kusinagara

          Kusinagara hay Kusinara (Câu Thi na) là nơi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thâu thần tịch diệt năm Ngài 80 tuổi dưới hai tàng cây Sa La.  Ðịa danh này sau được các nhà khảo cổ nhận dạng là Kasia ở quận Deoria của xứ Utta Pradesh.

            Giống như các thánh địa khác liên quan đến những biến cố lịch sử đời Ðức Phật, Kusinagara đã trở thành một thánh địa quan trọng để các Phật tử đến chiêm bái đãnh lễ.

            Vào thời điểm đó, hàng ngàn tự viện và bảo tháp đã được xây dựng lên chung quanh thánh địa này.  Tuy nhiên, không rõ vì lý do gì, có thể bị đạo quân Hồi giáo phá hủy hay do thời gian phai tàn xóa dấu mà thánh địa này đã bị hoang phế tàn rụi.  Hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang, khi đến chiêm bái thánh địa này, cũng phải thốt lên lời ta thán bi thiết khi nhìn cảnh vật hoang liêu đổ nát của Kusinagara.

            Qua những cuộc khai quật để tìm lại dấu vết, người ta đào được một số những mảnh vỡ vụn của các tượng Phật, những cột trụ loang lỗ.  Tuy nhiên, căn cứ trên những dấu hiệu của các di tích còn sót lại đó và những bia ký thì chắc chắn nơi đây là thánh địa nhập Niết bàn của Ðức Phật.  Ngôi tháp Ðại Bát Niết Bàn mà vua A Dục xây cất cũng không có thể tìm thấy được nữa và có thể ngôi tháp này đã bị chôn vùi dưới nền tinh xá Niết bàn xây dựng ở triều đại Gupta.

            Trong số những di tích đó, người ta tìm được một bức tượng Ðức Phật trong tư thế nhập Niết bàn.  Bức tượng này cũng bị vỡ vụn và đã được nhà điêu khắc Carlleyle khéo léo hàn gắn chạm trỗ lại.  Ngôi đại bảo tháp Ramabhar được dựng ngay tại địa điểm làm lễ trà tỳ kim thân Ðức Phật và xá lợi Ngài được phân chia ra làm tám phần đồng nhau cho tám vương quốc lớn mạnh nhất thời đó.

            Hiện nay các nhà khảo cổ vẫn còn tiếp tục công cuộc khai quật thánh địa Kusinagara, mong sẽ tìm thêm tài liệu chứng cứ hơn nữa để làm sáng tỏ thêm một địa danh linh thiêng đã được đón nhận kim thân Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


            Thánh địa thứ năm:

                                                            Sravasti  

            Sravasti, thủ phủ của vương quốc Kosala ngày xưa, được các Phật tử tôn sùng vì nơi đây hơn 2540 năm trước, Ðức Phật đã thi triển thần thông giáo hóa các đạo sư thờ thần lửa.

            Theo các sử liệu ghi chép lại, Ðức Phật đã thi triển các phép lạ như trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, hay mặt trời mặt trăng chiếu sáng cùng một lúc trên bầu trời, và nhiều hóa thân của Ðức Phật.  Những phép lạ đó đã là đề tài cho nhiều tác phẩm nghệ thuật Ấn từ các thời đại cổ xưa cho đến nay.

            Ngay trong thời Ðức Phật, Sravasti đã là một trung tâm Phật giáo sầm uất phồn thịnh.  Chính nơi đây, trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã rãi vàng mua hết đất vườn hoa của Thái Tử Kỳ Ðà để xây dựng tinh xá cúng dường Ðức Phật và chư tăng.  Câu chuyện rãi vàng mua đất của ông Cấp Cô Ðộc đã khích động mãnh liệt đến các tầng lớp quí tộc vua chúa, khanh hầu, trưởng giả và đó cũng là đầu đề về lòng sùng bái tuyệt đối của ông Cấp Cô Ðộc cũng như các tác phẩm nghệ thuật Ấn sau này.  Càng về sau, nhiều tinh xá, bảo tháp xây cất rải rác chung quanh địa danh này khiến Sravasti thêm nổi tiếng và phồn vinh.

            Các nhà khảo cổ tin rằng Sravasti thuộc địa phương Saheth - Maheth nằm sát biên giới quận Gonda và Bahraich của xứ Utta - Pradesh.  Nơi đây họ đã tìm thấy vài bia ký liên quan đến tinh xá Kỳ Viên ở Sravasti.

            Ðịa danh Saheth - Maheth gồm có hai vùng riêng biệt.  Vùng lớn nhất, Maheth, rộng 400 mẫu, ngày xưa là một tỉnh lỵ trù phú.  Saheth thì chỉ rộng có 32 mẫu, nằm độ   dặm phía Tây Nam của Kỳ Viên tinh xá.  Những cuộc khai quật tại vùng Maheth đã cho chúng ta biết được rằng xưa kia Maheth là một thành phố rất giàu có đông đúc.  Saheth, tuy nhỏ hơn, nhưng lại nổi tiếng hơn vì nơi đây Ðức Phật đã dừng chân để giáo hóa và còn sót lại nhiều nền nhà của tinh xá, tự viện, bảo tháp; cho nên đa số các tăng sĩ, du khách đều ghé tới Saheth để chiêm bái tham quan.

            Những di tích trưng bày đó mang dấu hiệu thời đại Mauryan cho đến những năm đạo Phật bắt đầu suy tàn tại Ấn Ðộ thế kỷ thứ 12 sau Công nguyên.  Tại đây, người ta thấy một ngôi tháp cổ nhất được xây cất từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, chứa đựng xá lợi Phật và một tượng đầu Ðức Phật tạc ở thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên thuộc triều đại Bala.  Tượng đầu Ðức Phật này giờ được trưng bày tại bảo tàng Ấn Ðộ ở Calcutta.  Hòang hậu Kumaradevi, vợ vua Govinda - Chandra là người cuối cùng bảo trợ tài chánh kinh phí xây dựng trùng tu lại Kỳ Viên tinh xá năm 1128 -29.

            Ðạo Phật bây giờ đã suy tàn nhiều tại Ấn Ðộ và địa danh Sravasti, một thời nổi tiếng huy hòang trong lịch sử Phật giáo Ấn, đã bị gót giầy đạo quân Hồi giáo tàn phá thiêu hủy thành bình địa.


            Thánh địa thứ sáu:

                                                            Sankasya

            Một địa danh thiêng liêng khác có liên quan đến cuộc đời Ðức Phật là Sankasya, nơi Ðức Phật thi triển thần thông lên cung trời Ðao Lợi thứ 33 thuyết pháp giáo hóa thân mẫu của Ngài là Hòang hậu Ma Gia và chư Thiên.  Ðức Phật đã giảng A Tỳ Ðạt Ma Luận trên cung trời Phạm Thiên.  Sự kiện này đã xảy ra sau khi Ðức Phật thi thố phép lạ ở Sravasti.

            Sankasya, còn được gọi là Sankisa hay Sanisa Basantapur, thuộc quận Farrukhabad của Utta Pradesh.  Ðịa phương này được biết xác thực là nhờ vào bia ký của vua A Dục khắc trên tượng một con voi đánh dấu thánh địa này.

            Không riêng chỉ có hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang đến chiêm bái thánh địa Sankasya, mà có nhiều tăng sĩ Trung Hoa khác cũng đến viếng thăm thánh địa này - nhưng những tài liệu do họ để lại cũng không còn đầy đủ chứng cứ để xác minh rõ hơn về địa danh này.  Ngôi làng hiện giờ ở thánh địa này nằm trên một ngọn đồi, cao độ 41 bộ và rộng cỡ 1,500 mét vuông.  Cách đó về hướng Nam độ dặm là một ngôi tháp do hòang hậu Devi ra lệnh xây cất.  Rải rác chung quanh ngọn đồi này là những đống gạch đá vỡ vụn và những di tích sót lại của cổng thành, đòn ngang, xà nhà, v.v. Những tàn tích này không đủ dữ kiện để chúng ta xác định lịch sử của thánh địa Sankasya.

            Tượng con voi do vua A Dục sai đúc là di tích quan trọng nhất đánh dấu địa danh Sankasya và những cuộc khai quật trong tương lai hy vọng sẽ đem lại cho chúng ta nhiều điều lý thú hơn về Sankasya.


            Thánh địa thứ bẩy:

                                                            Rajagriha  

            Rajagriha, thủ phủ của vương quốc Ma Kiệt Ðà hùng mạnh, có thể nói rất nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo vì nhiều nguyên do.  Không những Rajagriha là nơi Ðức Phật đã dừng chân lại nhiều lần trong cuộc đời hành đạo của Ngài, mà nơi đây cũng chính là nơi Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta), em họ của Ðức Phật, đã âm mưu nhiều lần để giết Ngài.  Hơn nữa, tại thủ phủ này, ở động Sattapanni trên ngọn đồi Vaibhara, Ðại Hội Kiết tập lần thứ I đã được tổ chức tại đây dưới sự chủ tọa của ngài Ưu Bà Li (Upali) và ngài A Nan (Ananda).  Những điểm chính yếu của giáo lý và giới luật của Phật giáo đều nêu lên trong kỳ Ðại Hội Kiết Tập này.  Vì thế, Rajagriha đã trở thành một địa danh nổi tiếng và quan trọng trong sự thành lập và phát triển Tăng đòan Phật giáo.

            Là một thành phố nổi tiếng ngày xưa, Rajagriha bây giờ là một phố thị trong quận Patna của xứ Bihar, bao bọc chung quanh là những ngọn đồi núi chập chùng.  Rajagriha còn được gọi là Vaibhara, Vipula, Ratna, Chatha, Udayagiri và Sonagiri.  Dưới chân ngọn đồi về phía Bắc của phố thị Rajagriha ngày xưa là vương quốc của vua A Xà Thế (Ajatasatru), con vua Bình Sa vương (Bimbisara).  Sau đời vua A Xà Thế, thái tử Udayin kế vị ngai vàng và dời kinh đô Kusumapura đi nơi khác và đời vị vua kế tiếp là Kalasola lại dời kinh đô về Pataliputra, do đó Rajagriha dần dần đã mất đi vai trò quan trọng của nó trong vương quốc.  Tuy nhiên, mặc dù có nhiều biến đổi thăng trầm trong chính trường và tôn giáo, Rajagriha vẫn luôn được nhắc đến trong lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ và lịch sử các đạo giáo khác.

            Những di tích của thành phố cổ xưa Rajagriha còn sót lại rất ít.  Qua những di tích và bia ký vỡ vụn, các nhà khảo cổ tin rằng thánh địa này đã từng là địa điểm sinh họat của nhiều tôn giáo khác nhau.  Ngay cả động Sattapanni, nơi kiết tập Ðại Hội Phật giáo lần thứ I, cũng mờ dấu vết.  Theo kinh điển và sử liệu, động Sattapanni, nằm về phía Bắc sườn đồi Baibhara và nhà bác học Stein có lý khi ông cho rằng vị trí động đá này tọa lạc phía Bắc trên một mảnh đất rất rộng có nhiều hang động nhỏ.  Một kiến trúc đặc biệt đáng kể, Jarasandha Ki Baithak, trên sườn đồi Vaibhara phía Ðông, có những hầm nhà lớn nhỏ không đồng đều nhau, được mô tả là nơi ẩn cư của Ðức Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa), vị chủ tọa kỳ Ðại Hội Kiết Tập lần thứ I.  Về sau, các hang động này đều là chỗ ở của các đạo sĩ Kỳ Na giáo (Jainism) một thời.

            Ngọn núi Gridhrakutta một thời là nơi ẩn cư tu hành của Ðức Phật, nằm gần sát bên thành phố Rajagriha và theo một số dữ kiện lịch sử cũng như các dân địa phương cư ngụ tại vùng này, thì động Sonbhandar phía Ðông đồi Vaibhara có mỏ vàng chưa khai phá tại đây.

            Rajagriha, bây giờ là một thắng cảnh hấp dẫn các du khách trong và ngòai nước đến viếng, không những là địa điểm nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo mà còn là một địa danh có nhiều ngọn suối nóng chữa bệnh và an dưỡng.

<<<Prev           Next>>>