|
DI ĐÀ HUYỀN CHỈ
Kim Đài
Tựa
A Di Đà tất cả pháp
Tất cả pháp A Di Đà
Chẳng quản trời cao đất thấp
Búng tay, cõi nước bày ra!
Kim Đài
LỜI TỰA TÁI BẢN
Cuốn
“Di Đà Huyền Chỉ” ra đời đồng thời với bản dịch Việt ngữ
“Thế Giới Nhất Hoa” vào cuối năm 2001. Cuốn “Thế Giới Nhất
Hoa” đến nay vẫn còn ở các quày sách. Điều đó cho chúng ta
thấy rằng Thiền Công án rất khó nuốt.
Trái lại, cuốn “Di Đà Huyền Chỉ”
ra đời được rất nhiều người mến mộ và phần đông thực tập
theo phương pháp “Niệm Phật Thập Lực”. Riêng Hoà thượng
Thích Tâm Thanh trụ trì chùa Vĩnh Minh ở Đại Ninh, một pháp
sư lão thành rất kén sách, nhưng khi đọc qua “Di Đà Huyền
Chỉ” đã điện thoại về tác giả thỉnh 200 quyển để cúng dường
nhân dịp trai tăng cuối năm 2001, đủ thấy “Di Đà Huyền Chỉ”
có một sức hút lạ lùng.
Điều nầy đã khích lệ cho tác
giả rất nhiều. Kỳ tái bản nầy xin điều chỉnh lại những lỗi
chính tả do phòng in ấn nhầm lẫn.
Kính mong quý độc giả đóng góp
thêm ý kiến để được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản
sau.
Kim Đài kính ghi.
Tựa
A Di Đà tất cả pháp
Tất cả pháp A Di Đà
Chẳng quản trời cao đất thấp
Búng tay, cõi nước bày ra!
Kim Đài
LỜI TỰA TÁI BẢN
Cuốn
“Di Đà Huyền Chỉ” ra đời đồng thời với bản dịch Việt ngữ
“Thế Giới Nhất Hoa” vào cuối năm 2001. Cuốn “Thế Giới Nhất
Hoa” đến nay vẫn còn ở các quày sách. Điều đó cho chúng ta
thấy rằng Thiền Công án rất khó nuốt.
Trái lại, cuốn “Di Đà Huyền Chỉ”
ra đời được rất nhiều người mến mộ và phần đông thực tập
theo phương pháp “Niệm Phật Thập Lực”. Riêng Hoà thượng
Thích Tâm Thanh trụ trì chùa Vĩnh Minh ở Đại Ninh, một pháp
sư lão thành rất kén sách, nhưng khi đọc qua “Di Đà Huyền
Chỉ” đã điện thoại về tác giả thỉnh 200 quyển để cúng dường
nhân dịp trai tăng cuối năm 2001, đủ thấy “Di Đà Huyền Chỉ”
có một sức hút lạ lùng.
Điều nầy đã khích lệ cho tác
giả rất nhiều. Kỳ tái bản nầy xin điều chỉnh lại những lỗi
chính tả do phòng in ấn nhầm lẫn.
Kính mong quý độc giả đóng góp
thêm ý kiến để được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản
sau.
Kim Đài kính ghi.
Giới thiệu Thiền Di Đà
Thiền Di Đà là pháp môn tối
thắng, là con đường tắt an ổn thứ nhứt đưa chúng sanh ra
khỏi biển sanh tử, dưới không trái ý tổ sư, trên hợp bản
hoài chư Phật, hiện đời tỏ ngộ tự tánh Di Đà, thọ chung vãng
sanh Cực lạc thế giới, cứu cánh thành tựu vô thượng Bồ đề.
Tăng hỏi Hoà thượng Triệu Châu:
- Thập phương chư Phật có thầy
hay không?
Triệu Châu đáp:
- Có.
Lại hỏi:
- Thế nào là thầy của chư Phật?
Triệu Châu đáp:
- A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!
Thập phương Chư Phật có thầy
hay không xin gác lại, thử hỏi thế nào là thầy của chư Phật,
Triệu Châu đáp “A Di Đà Phật! A Di Đà Phật”, yếu chỉ thế nào?
Hãy đem bốn chữ A Di Đà Phật
này làm mạng sống của mình, trong tất cả các thời đừng để
cho nó vụt mất, như người vượt biển bám chiếc phao nổi.
Sẽ đến lúc như rắn nuốt cóc,
muốn bỏ cũng chẳng được mà nuốt thì chẳng lọt. Trong giờ
phút khẩn trương gay cấn cùng cực như thế, một tiếng sét xé
màn trời, mười phương thế giới chấn động vang dội, rắn cũng
bất khả đắc, cóc cũng bất khả đắc, bất khả đắc cũng bất khả
đắc, rờ chạm lỗ mũi cha mẹ sanh, đập bể hư không rống tiếng
rống sư tử:
A Di Đà Phật
A Di Đà Phật
A Di Đà Phật
A Di Đà Phật
Mật chỉ Thiền Di Đà
1.
Đường lối
Thiền Di Đà lấy vô sanh làm
thể
vãng sanh làm tướng
độ sanh làm dụng.
Vì vô sanh mới đến tận bờ kia.
Vì vãng sanh mới được Phật thọ
ký.
Vì độ sanh mới hợp với bản hoài.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Quên mất
tâm Bồ đề mà tu các pháp lành, ấy là ma nghiệp”, do đó thiền
Di Đà lấy tịch quang làm tâm Bồ đề, tâm ấy chính là Amita (A
Di Đà).
Kinh Pháp Hoa lấy thật tướng
làm tịch và Tri Kiến Phật làm chiếu.
Kinh Hoa Nghiêm lấy Nhất chân
pháp giới làm tịch và Phổ quang minh trí làm chiếu.
Thiền Di Đà lấy tịnh độ
làm tịch, và thọ quang làm chiếu, không rời đạo tràng mà làm
các Phật sự nên Thiền Di Đà còn gọi là Thiền Tịch Quang.
2.
Lược kệ
Ngay dụng liền LY
Ngay LY liền dụng
LY ấy tự quên
Liền Tịch Quang dụng.
3.
Khai thị
Như một lữ khách xa quê, một
hôm trở về lại ngôi nhà cũ Amita của chính mình thuở trước,
gõ cửa gọi:
- Amita?
Bên trong không tiếng đáp.
Lại gõ cửa gọi tiếp:
- Amita?
Vẫn không tiếng đáp.
Người ấy bắt đầu gọi mãi và
nóng lòng muốn khám phá những gì từ nhà mình, nhưng gọi thì
cứ gọi mà đáp vẫn không đáp. Chỗ không tiếng đáp này gọi là
LY.
LY lớn ngộ lớn
LY nhỏ ngộ nhỏ
Không LY không ngộ.
4.
Hiển lý
Ngay khi khởi gọi Amita, hoàn
toàn không thấy có mình gọi, cũng không có đối tượng để gọi,
vô năng vô sở. Như tiếng trống trời khua lên giữa hư không,
thoát ly tứ cú, vô trú vô trước, nên nói:
“Ngay dụng liền LY”
Dụng tâm như thế là dụng mà
không có chỗ dụng. Dụng mà không dụng tức là LY, thì cứ ngay
chỗ LY này mà dụng, LY chính là chiếc bè pháp để vào dòng
qua biển sanh tử, mười phương chư Phật đều đã đi qua, nên
nói:
“Ngay LY liền dụng”.
Khi qua bờ bên kia rồi, thấy
không cần thiết nữa, chiếc bè tự lui, nên nói:
“LY ấy tự quên”.
Nói thì dông dài nhưng đối với
hàng lợi căn, chẳng cần cất bước liền vào tịch quang, nên
nói.
“Liền Tịch Quang dụng”
Đến đây rồi, mười phương
hư không đều thâu về trong một lỗ chơn lông, đến đi vô ngại,
nên liền tuỳ niệm sanh về cõi Cực Lạc, cũng chỉ là sanh về
nơi tự tâm, nên sanh ấy mà vô sanh, về ấy mà chưa từng về.
Nếu có chỗ về ngoài tâm có pháp, vì không chỗ về liền vào
bất nhị, đích thân được Phật A Di Đà thọ Ký, thành tựu vô
thượng Bồ đề.
5.
Hành sự
Để khám phá Amita của chính
mình cũng là hoà nhập với tâm thể của Phật A Di Đà, hằng
ngày trong tất cả các thời, khi ăn uống, lúc ngồi nằm đều
khởi gọi Amita rõ ràng trong sáng từ câu này đến câu khác.
Như tiếng sấm giữa trời, phi
chủ phi khách:
- Amita?
Như tiếng vang trong hang động,
chẳng có chẳng không:
- Amita?
Hồn nhiên như chim hoàng
anh hót trên bờ liễu:
- Amita?
Lặng lẽ như giọt mưa rớt bên
thềm:
- Amita?
Niệm như thế gọi là vô tướng
niệm Phật, niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, ngay niệm liền
không, ngay không liền niệm, đương thiền là tịnh, đương tịnh
là thiền. Chỉ có pháp thiền Di Đà mới được như thế, huyền
nhiệm như thế, thù diệu như thế, tức thể là dụng, tức dụng
là thể, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, cứ như
thế mà khởi gọi liên tục không gián đoạn, thì mỗi một niệm
tiêu được tám mươi ức kiếp tội lớn nơi đường sanh tử, Pháp
môn này lìa thấy nghe tỏ biết, trả thấy về vô tướng, trả
nghe về vô thanh, phản văn văn tự tánh.
Ban đầu, sức trả nghe này rất
rời rạc. Ra sức gia công, nhẫn nại thực hành. Một ngày như
thế, ngàn ngày như thế, đến chỗ thuần thục, vọng niệm không
còn chỗ ló đầu, quét hết thấy nghe, lấp đường tỏ biết, như
ngây như điếc, quên cảnh quên tâm.
Như bị người dữ rượt, chỉ lo
chạy thoát thân, đến chỗ cùng đường buông tay vực thẳm. Chết
đi sống lại, ngồi đoạn mười phương, mười vạn ức cõi trên đầu
sợi lông. Vì thế Quán kinh nói: “Cõi nước của Phật A Di Đà
cách đây không xa”.
6. Bày diệu quyết
Mỗi lần khởi gọi Amita
đều lưu ý dằn mạnh ở cuối câu. Sơ đồ dằn mạnh có thể biểu
diễn như sau:
* Khi chưa dằn mạnh: - Amita?
* Khi đã dằn mạnh cuối câu: -
AmiTA?
Vừa khởi gọi vừa lắng theo chữ
“TA” nghe ngóng trong đó có tiếng đáp không? Thực hành miên
mật, liên tục không ngừng như nước băng ghềnh, vừa gọi vừa
nghe, vừa nghe vừa gọi – Nghe để dọ đường, gọi để bước tới.
Nếu gọi mà không nghe,
vọng tưởng thường quấy nhiễu, đường đi trở ngại. Nếu nghe mà
không gọi, hồng danh đành thiếu sót, Cực Lạc khó về.
Đương khi gọi có nghe, đương
khi nghe có gọi, tất cả thinh sắc đồng thời tan rã, tất cả
ngăn ngại liền được suốt thông, thật là vi diệu, thật là
viên dung. Cứ chỗ không tiếng đáp này mà nghe tới mới đích
thực là phản văn.
7. Mở kho báu
Biết chọn nhĩ căn làm viên
thông là bước đầu tiên dùng kho báu trong nhà, bởi nhĩ căn
không ngăn ngại như nhãn căn, không vọng động như ý căn, nên
ở hội Lăng Nghiêm, bồ tát Văn Thù Sư Lợi chọn làm viên thông
đệ nhất.
Khởi gọi Amita là lấy động làm
định, toàn định là động, toàn động là định. Được cái định ở
trong động này rồi thì không còn cái động nào quấy nhiễu
được nữa.
Hành giả vẫn chuyên nhất khởi
gọi Amita cho đến lúc không gọi mà tự gọi, không đi mà tự đi,
muốn dừng nghỉ cũng chẳng được, lúc này là quyền của công
phu, không còn là quyền của hành giả nữa. Đây là đến lúc
tiêu dùng kho báu trong nhà, chẳng phải vay mượn bên ngoài,
gọi là từ hông ngực lưu xuất.
8. Nêu tín nguyện
Thiền Di Đà lấy vãng sanh làm
gốc. Vãng sanh lấy tín nguyện làm nhân. Nếu không có cái
nhân tín nguyện, ắt không có cái quả vãng sanh.
“Di Đà Sám Pháp” ở Hoa sen 8,
hướng dẫn đầy đủ cách thức nêu tín nguyện để thành tựu sự
nghiệp vãng sanh.
Rất mong các pháp hữu lưu ý cho.
9. Trùm căn cơ
Thiền Di Đà trùm khắp
các căn cơ thượng trung hạ, lại dung nhiếp cả ba tông Mật,
Tịnh, Thiền.
* MẬT: Thần chú Amita –
tiêu tội chướng: A Di Đà, chữ Phạn là Amita, ở đây được giữ
nguyên gốc để mỗi lần khởi gọi, tạo ra âm hưởng của một đại
thần chú, uy lực mạnh mẽ vô cùng. Kinh nói, mỗi một lần khởi
gọi Amita là tiêu được tám mươi ức kiếp tội lớn nơi đường
sanh tử.
Theo Mật giáo, Amita là chủng
tử của năm vị Phật, gọi là Ngũ Trí Như Lai, đó là:
Tỳ
Lô Giá Na Như Lai
A Súc Bệ Như Lai
Bảo Sanh Như Lai
A Di
Đà Như Lai
Bất
Không Thành Tựu Như Lai
Người trì thần chú Amita, khi
vãng sanh gặp Phật A Di Đà rồi, liền được vô lượng nghìn
muôn đà ra ni lưu xuất, vượt hẳn các thần chú khác.
* TỊNH:
Phật hiệu Amita – được vãng sanh. Nguyện thứ 18 của Tỳ Kheo
Pháp Tạng, tiền thân của Phật A Di Đà, rằng:
“Nếu chúng sanh nào
Hết lòng khát khao
Danh ta tín nhiệm
Xưng đến mười niệm
Cầu về nước ta
Nếu không sanh qua
Thệ không thành Phật”.
Mỗi một lần khởi gọi Amita là
một niệm. Do nguyện lực rộng lớn của Phật A Di Đà cơ cảm,
thì hoa sen sẽ ghi tên người đó và lớn dần nơi ao Liên Trì.
Khi người ấy lâm chung, hoa sen sẽ bay về tận nơi tiếp rước.
Nếu khởi gọi lơ là hoặc bỏ quên
luôn thì hoa sẽ héo lần. Do đó, phải khởi gọi cho niệm niệm
nối luôn thì đài sen của mình mới tươi tốt.
Niệm trước
Amita.
Niệm sau Amita.
Quét thông minh
thấy biết
Là trì danh Di
Đà.
*
THIỀN: Thoại đầu Amita – Thành Thượng phẩm:
Thiền Di Đà quyết thành tựu thượng phẩm, do đó chuyên ròng
khởi gọi Amita đến chỗ một niệm không sanh, vào thẳng cõi
Phật.
Xem Tiếp
|