HÀNH TR̀NH TỰ TẠI CỦA T̀NH YÊU VÀ TỰ DO

Trần Kiêm Đoàn

Trong mối quan hệ t́nh cảm song phương, T́nh Yêu và Tự Do song hành với nhau như h́nh với bóng. T́nh Yêu không có Tự Do là một sự tù đày của t́nh cảm. Ngược lại, Tự Do mà vắng bóng T́nh Yêu là một sự xâm lăng và chế ngự tâm hồn!

Giữa thế giới trừu tượng trùng điệp của cảm giác và tâm thức, không có một khái niệm, một sự dấn thân nào trong lĩnh vực t́nh cảm và xă hội… lại được chú ư nhưng cũng bị ngộ nhận nhiều hơn khái niệm T́nh Yêu. Xă hội Đông Phương khép kín và canh gát cẩn mật từng bước đi, từng dấu vết, từng chặng đường phát triển tự nhiên về sự hiện hữu T́nh Yêu trong cuộc sống của con người. Xă hội Tây Phương lại cổ xúy sự tự do và nhập cuộc T́nh Yêu vào đời sống. Những luận điểm và sự thể hiện T́nh Yêu khác hẳn với một định đề Toán Học. Không có kết luận đơn thuần sai hay đúng mà chỉ có sự tùy thuộc vào vị trí và khái niệm nào khi nói đến t́nh yêu.

Trong khi khoa học tự nhiên đang thừa chữ nghĩa để nói đến những khái niệm về khoa học kỹ thuật th́ khoa học xă hội lại bị thiếu chữ để nói đến vô số những trạng thái cảm xúc của con người. Bởi vậy, khái niệm t́nh cảm, khái niệm yêu thương mênh mông của con người bị trói buộc trong ṿng giới hạn chật chội của ngôn ngữ. Người ta quen nhốt T́nh Yêu trong phạm trù ngôn ngữ giới tính; trong khi T́nh Yêu đích thực là nguồn cảm xúc mênh mông, thiêng liêng và ảo diệu không riêng loài người mà ngay đối với sinh vật hữu t́nh. Sự ngộ nhận giữa cảm xúc yêu thương và sinh hoạt giới tính đă làm méo mó khuôn mặt T́nh Yêu và xuyên tạc bản chất trung thực của T́nh Yêu.

Trong vũ trụ quan cũng như nhân sinh quan của Phật giáo trong giai đoạn nguyên thủy, Ái bị xem là nguyên ủy của đau khổ. Có T́nh Yêu nên có dục vọng và khổ đau. Về sau, khi khái niệm về Ngă được xem là gốc của Ái th́ T́nh Yêu không hẳn chỉ có một dáng vẻ "gian ác" tha hoá và đày đọa con người. T́nh Yêu hướng thượng cũng mang vị giải thoát v́ T́nh Yêu cao cả giúp con người biết yêu điều thiện, xa lánh điều ác để t́m đến bờ an lạc và giải thoát. Hay có thể nói một cách đầy tính khẳng định như Thượng tọa Biazhanna (Anh quốc) rằng: "Không có T́nh Yêu th́ không có Đạo Phật!" Phật là nguồn cội của yêu thương. Nếu không v́ T́nh Yêu tuyệt đối hướng về quần sanh để mang an lạc và giải thoát đến muôn loài th́ Đức Phật không có lư do thị hiện giữa cơi Ta Bà nầy. Và, cũng chính ngài, chính thái tử Tất Đạt Đa, đức Phật Thích Ca là một sứ giả vừa biểu trưng, vừa hiện thực của tất cả mọi h́nh thái thể hiện của T́nh Yêu. Khởi điểm đời sống cũng như mọi người, Ngài đă trải qua những cơn sóng t́nh cảm từ thuở vào đời: Từ T́nh Yêu nhỏ bé và riêng tư của lứa đôi, gia đ́nh, bằng hữu, quyền lực… đến T́nh Yêu lớn hơn đối với nhân sinh, xă hội, lư tưởng… và đến T́nh Yêu tuyệt đối của con đường Giải Thoát. Con đường T́nh Yêu của Đức Phật vạch ra là con đường “khẳng định để phủ định”. Dựa vào T́nh Yêu như một phương tiện h́nh tướng để vô hóa T́nh Yêu. Nhận thức được vô vàn những h́nh thái ràng buộc của T́nh Yêu để hóa giải những hệ lụy; t́m một chân trời tự do không bị níu kéo bởi những sợi dây chằng chịt của t́nh cảm; cuối cùng, tay không, trí không và tâm không đầy an tịnh trở lại với chính ḿnh.

Tác phẩm Love, Freedom, Aloneness - The Koan of Relationships (T́nh Yêu, Tự Do, Tự Ngă - Công Án Tương Giao) của Osho được giới tâm lư học và triết học thế giới xem như là một tác phẩm lư luận và phân tích tâm lư độc đáo về đời sống t́nh cảm cá nhân của con người trong xă hội mới. Tác phẩm nói lên một quan niệm T́nh Yêu thuần túy được h́nh thành và phát triển tự nó chứ không núp bóng đạo đức hay lánh mặt âm thầm sau bức màn luân lư - mà theo Osho là giả dối và không có thật (!)

Đọc những luận điểm của Osho về cảm xúc và giới tính vào những năm đầu của thế kỷ 21 làm người ta nhớ về Sigmund Freud vào những năm1890. Freud là một luận sư tiền phong khai sáng ngành Phân Tâm Học (Psychoanalysis). Ông phân tích những ẩn ức giới tính từ trong vô thức để đi đến kết luận là sự ức chế t́nh dục (Libido) chi phối gần như toàn bộ sinh hoạt đời thường của con người. Osho khác với Freud v́ ông đă đào sâu và phân tích đời sống hữu thức của con người. Osho cho rằng những phản ứng tâm lư và t́nh cảm dưới dạng T́nh Yêu là một sinh hoạt có ư thức của con người. Chính con người có ư thức về chủ thể của chính ḿnh và về đối tượng của cảm xúc nên con người có tự do: T́nh Yêu, Tự Do, Tự Ngă là “ba ngôi một thể” (the trinity) cho sự tṛn đầy t́nh cảm cá nhân của mỗi con người trong xă hội ngày nay.

Thật ra, nền tảng tâm lư học Phương Tây - được gọi tên và ghép vào như một phân ngành của hệ thống triết học từ thời Thalès (624 trước Tây Lịch) - chỉ là một khía cạnh của Duy Thức Học Phật giáo. Duy Thức là một môn học về Tâm. Dùng Thức để t́m hiểu nguồn gốc của Tâm: “Vạn Pháp đều do Thức biến hoặc tất cả đều do Tâm tạo.” Những khái niệm nổi tiếng nhất của nền tâm lư học và triết học phương Tây về cảm tính và giới tính của con người như “Libido” của Freud, “Archetypes” của Carl Jung hoặc khái niệm về T́nh Yêu của Osho? đều tiềm tàng ở Thức Tạng (Alaya) trong Duy Thức Học Phật giáo. Nhưng điểm khác biệt cơ bản giữa Phật giáo và các nhà lư thuyết phân tâm học Âu, Mỹ là Phật giáo quan sát và phân tích để hiểu rơ căn nguyên cùng tác dụng của T́nh Yêu và sự ham muốn để chế ngự ḷng ham muốn, làm thăng hoa T́nh Yêu trong mỗi con người. Bởi vậy, Phật giáo không sợ hăi hay né tránh bất cứ sự hiện hữu dưới h́nh thái nào của t́nh yêu v́ bản chất đạo Phật là đạo diệt khổ. Không hiểu rạch ṛi sự biến thái thiên h́nh vạn trạng của T́nh Yêu - vốn là một trong các nguyên nhân gây khổ th́ làm sao diệt khổ?!

Bằng ngọn bút sắc bén với văn phong đầy tính bất chấp và tư tưởng đầy sức công phá, Osho xuất hiện như một đệ tử “trùng trùng phá chấp” của Thiền học và Thiền quán. Ông hô hào tự do luyến ái không biên cương, mở phăng những cánh cửa khép hờ của tự do và công phá những thành tŕ ám khói vàng vọt của đạo lư. Osho xuất hiện như một gă xâm lược đầy yêu thương. Ông vừa được xem là một trong 1000 khuôn mặt đă làm thay đổi nếp suy tư và vẽ lại bóng dáng nhân loại của thế kỷ 20. Nhưng thật lạ lùng là gia tài nghệ thuật sáng tạo của Osho lại dường như tắm trong đại dương của Thiền. Osho như một kiện tướng vẫy vùng cổ xúy cho tự do trong t́nh yêu, nhưng cuối cùng lại trầm tư kết luận: “T́nh Yêu đích thực mang Tự Do và Bản Ngă đến cho con người v́ nó nối kết Hai tâm hồn thành Một trong hai thân xác riêng tư. T́nh Yêu là cánh bên nầy và Thiền Định là cánh bên kia để tạo thành một đôi cánh ḥa nhịp bay cao. Đôi cánh đó xác định bản sắc độc đáo của mỗi con người để thăng tiến và ḥa hợp tiểu ngă thành đại ngă.”

Osho viết tác phẩm Love, Freedom, Aloneness nguyên tác bằng tiếng Anh. Từ hơn một thập niên qua, tác phẩm nầy đă được dịch ra hơn 18 thứ tiếng thông dụng trên thế giới. Bản dịch tiếng Việt có hơi muộn màng nhưng cuối cùng cũng đă đến. Người dịch bản tiếng Việt là Sư cô Thích Nữ Minh Tâm. Dịch một tác phẩm văn chương hay triết học thuần túy đă khó; dịch tác phẩm “triết-văn” của một tác giả mang nhiều băo tố của tư tưởng như Osho lại càng khó hơn. Khi nói đến vấn đề dịch thuật, có lẽ không ai quên một câu nói cổ điển nổi tiếng của Ư: “Traduttore, traditore” được chuyển qua tiếng Anh là “Translator, traitor” hay nói một cách nôm na trong tiếng Việt: Dịch là phản! Thế nhưng lịch sử văn minh của loài người không có sự lựa chọn nào khác hơn là đành phải chấp nhận cái “phản” đó như một sự nhắc nhở dè chừng. Truyền thông là nhu cầu sinh tử của thế giới loài người. Dịch hay h́nh thức chuyển ngữ từ tiếng nầy qua tiếng khác là phương tiện để sống c̣n giữa các cá nhân và tập thể khác nhau trong cộng đồng thế giới. Dịch là một quá tŕnh vận dụng tất cả khả năng ngôn ngữ, kinh nghiệm và học thuật để chuyển đạt nội dung tư tưởng của tác giả trong hệ thống ngôn ngữ nầy qua một hệ thống ngôn ngữ khác. Khi đến người đọc th́ nội dung trong ngôn ngữ mới càng minh bạch và trung thực chừng nào th́ phẩm chất dịch thuật càng cao chừng đó.

Có dịp đọc và so sánh nguyên tác bản tiếng Anh của Osho và bản dịch tiếng Việt của Sư cô Minh Tâm, người đọc mới thấy được rằng, một công tŕnh chuyển ngữ nói lên được những đường "kiếm bút" vi vu của Osho không chỉ đơn thuần là vấn đề kiến thức ngôn ngữ mà c̣n là sự thể hiện tài năng và cảm xúc của người dịch. Nếu chỉ đứng về mặt ngôn ngữ học thuần túy th́ Sư cô Minh Tâm khó mà lột tả hết những h́nh ảnh tượng trưng, những nêu dẫn đầy ẩn dụ, những lư luận đôi chỗ quá trừu tượng nhưng có chỗ lại quá thô nhám và táo bạo của Osho. Nếu bản thân người dịch không cầm bút, thiếu cái cảm quan nhạy bén của nhà văn, thiếu kinh nghiệm lư luận của nhà nghiên cứu… th́ thật khó khăn để “trả Osho về lại cho Osho”, bởi v́ nói như Robert Bethune: “Người dịch không bám sát tác phẩm mà muốn cao siêu hơn tác giả th́ nên viết một tác phẩm khác và nếu thấp hơn tác giả th́ chưa đủ sức để dịch.” Trong lĩnh vực văn bút, nếu sư cô Minh Tâm không phải là tác giả của hơn 10 tác phẩm văn chương đủ các thể lọai từ sáng tác đến biên khảo đă xuất bản (Website: www.Bachhac.net) th́ không hiểu dịch giả có đủ sự đồng cảm và đồng kiến để chuyển ư của tác giả từ tiếng Anh sang tiếng Việt như thế không? Và, đặc biệt nhất là nếu dịch giả không phải là một tu sĩ Phật giáo, có sở học vững vàng, th́ có thể hiểu hết kiến văn sâu kín của một học giả Ấn Độ chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng Phật giáo nguyên thủy như Osho không?!

Câu hỏi trong trường hợp nầy là câu trả lời.

Sư cô Thích Nữ Minh Tâm cũng trả lời bằng chính bản văn tiếng Việt tác phẩm T́nh Yêu, Tự Do, Cô Đơn của Osho đang nằm trên tay người đọc.